Thư Viện Hoa Sen

Yếu Lược Về Thiền Lý & Thiền Tập Theo Truyền Thống Vân Môn Tông

YẾU LƯỢC VỀ THIỀN LÝ & THIỀN TẬP
THEO TRUYỀN THỐNG
VÂN MÔN TÔNG
Thiện Phúc
YẾU LƯỢC VỀ THIỀN LÝ VÀ THIỀN TẬP THEO TRUYỀN THỐNG VÂN MÔN TÔNG

Tranh vẽ: Thiền Sư Vân Môn

Nói về Vân Môn Tông, Thiền sư Vân Môn Văn Yển là tên của một vị Thiền sư Trung Hoa vào thế kỷ thứ mười. Hiện nay chúng ta có khá nhiều tài liệu chi tiết về Thiền Sư Vân Môn Văn Yển; tuy nhiên, có một số chi tiết lý thú về vị Thiền sư này trong bộ Truyền Đăng Lục, quyển XIX: Thiền Sư Vân Môn, tên thật là Trương Tuyết Phong, sanh năm 864, sanh ra trong một gia đình rất nghèo tại vùng mà bây giờ thuộc Hàng Châu. Khi còn trẻ, thoạt tiên ông vào tu với một vị Luật sư tên Trí Thành. Sau khi làm thị giả cho vị Sư này trong nhiều năm. Vân môn đã học hết giáo lý Luật Tông và bắt đầu tu tập nơi khác. Mặc dầu thoạt tiên ông đạt ngộ với Mục Châu, ông thường được người đời công nhậnmôn đồ và người kế vị Pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, là thầy của Hương Lâm Trừng Viễn, Động Sơn Thủ Sơ, và Ba Lăng Hảo Kiếm. Ông là một thiền sư nổi tiếng vào cuối đời nhà Đường, một người giống như Lâm Tế, sử dụng ngôn ngữ và chiến thuật mạnh bạo để tác động môn sinh đạt tự ngộ. Ông đã sáng lập ra Vân Môn Tông. Ngũ Gia Thiền chỉ giáo pháp riêng biệt được giảng dạy từ những truyền thốngliên hệ tới những vị Thiền sư đặc biệt. Ba trong số năm truyền thống này: Tào Động, Vân Môn, và Pháp Nhãn, đi xuống từ dòng truyền thừa được truy nguyên ngược về Thanh Nguyên Hành TưThạch Đầu Hy Thiên. Hai truyền thống kia: Lâm TếQuy Ngưỡng, được tiếp nối từ Mã Tổ Đạo NhấtBách Trượng Hoài Hải. Tông Lâm Tế về sau này lại sản sanh ra hai nhánh Dương Kỳ và Hoàng Long. Khi mà hai phái sau này được thêm vào Ngũ Gia thì người ta gọi đó là Thất Tông. Tông Vân Môn là một dòng Thiền được sáng lập bởi Thiền sư Vân Môn Văn Yển. Về sau nầy thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển tập hợp những bài ca ngợi nổi tiếng kèm theo các công án mà sau nầy Viên Ngộ Khắc Cần công bố dưới nhan đề Bích Nham Lục. Tuyết Đậu là vị đại sư cuối cùng của phái Vân Môn, phái nầy bắt đầu suy thoái từ giữa thế kỷ thứ XI và cuối cùng tàn lụn hoàn toàn vào thế kỷ thứ XII.

Ban đầu Vân Môn Văn Yển bắt đầu nghiên cứu Khổng học và kinh điển Phật giáo vào năm 14 hay 15 tuổi. Tuy nhiên, vào tuổi 22, ông có quyết định thay đổi cả cuộc đời. "Cho dầu ta có đọc hết hiển kinhmật kinh trên đời," Vân Môn nhớ lại "điều này giúp ích gì cho ta khi đứng trước lằn ranh sanh tử?" Sau đó, ông như một lãng tử hồi đầu, ông từ bỏ hết sách vở và buông bỏ lối học từ chương. Tiếp theo sau đó, ông tìm đến một thiền sư, người đã dạy cho ông cách tu tham công án. Vân Môn từ chối: "Tôi không muốn tham công án. Tôi tự biết lòng mình đã nguội lạnh như một đống tro tàn, Tôi không còn chút hoài nghi nào cả. Trong cuộc sống thường ngày, cái gì đang hiện hữu? Nó thật là có hay là không? Chỉ cần kiên trì tự hỏi lòng mình như vậy, thế là đủ." Vị thiền sư nói: "Nếu hành trì như thế, ông phải cẩn thận, vì không sớm thì muộn ông sẽ trở thành kẻ ngoại giáo!" Vân Môn nói lại: "Dầu có trở thành một kẻ ngoại giáo, tôi cũng sẽ đạt được an lạc và tự tại!" Thế rồi Vân Môn tiếp tục thiền định nhất tâm trong hai năm. Một ngày khi đang nhặt củi khô trong rừng, ông chợt cảm thấy cả thế gian kể cả chính mình đều cùng sụp đổ. Ngay lúc đó, ông đạt được niềm an lạc vô biên trong lòng. Sau đó, Vân Môn nhớ lại: "Dầu ta đã đạt được an lạchạnh phúc đúng theo những gì đã nói trong kinh điển. Còn cái gì là 'giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự' mà chư Phật và chư Tổ đã ấn tâm cho nhau từ nhiều đời nay?" Thế là Vân Môn lại nỗ lực tham thiền thêm hai năm nữa cho đến khi chứng ngộ được ý chỉ Thiền tông, đạt đến tâm giải thoát viên mãn. Khi Vân Môn sắp thị tịch, ông đã từ biệt chúng đệ tử bằng những lời này: "Ta có bốn điều truyền lại cho các con. Thứ nhất, hãy vượt lên trên mọi vướng mắc tâm linh, và dựa vào chân như Phật tánh nơi mình. Thứ nhì, hãy xả bỏ thân tâm đi để tâm lực thoát ly sanh tử. Thứ ba, hãy thực hiện tâm chứng của mình trong cuộc sống cá nhân. Thứ tư, hãy trui rèn trí tuệ của mình trong khói bụi trần lao." Vân Môn đã để lại bài kệ phó chúc như sau:

"Lời cuối trong cuộc đời

Sáng rực cả bầu trời

Chói ngời cả mặt đất."

Tại Trung Hoa, hồi thế kỷ thứ X, có nhiều tông phái Thiền với nhiều sự khác biệt đáng kể về phương cách thực tập. Thí dụ như đặc điểm của Vân Môn Tông là sự buông bỏthiền sư Vân Môn đã gọi phương pháp thiền của Vân Môn Tông là ‘Nhất Tự Quan’ hay ‘Dừng’. Thật vậy, Thiền sư Vân Môn thường dùng một chữ đơn giản để nói về ý chỉ Thiền, đó là chữ "Dừng". Điều nầy cho thấy họ chú trọng nhiều đến việc tĩnh tọa thiền quán, để nhờ vào đó, hay chính trong trạng thái đó mà đạt đến sự giác ngộ, hay sự tỉnh giác nội tâm về tánh không tuyệt đối. Theo như cách nói của thiền sư Vân Môn, trọn một đời không lúc nào không "Dừng". Đi đứng nằm ngồi, chú tâm không dứt vào ý tưởng chính của sự “Dừng”, đừng để lỡ mất, cho đến khi tâm thức đột nhiên bừng sáng, ánh sáng ấy sẽ soi sáng toàn vũ trụ, và cảnh giới giác ngộ của chư hiền thánh hiện ra tường tận như từng sợi tóc, bánh xe chánh pháp được chuyển ngay trong một hạt bụi.”

Trong giáo thuyết Thiền của Vân Môn Tông, có tám Pháp môn cần thiết trong tu tập hay Vân Môn Tông Bát Yếu. Tưởng cũng nên nhắc lại, Vân Môn tông là một dòng Thiền được sáng lập bởi ngài Vân Môn Văn Yển. Về sau nầy thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển tập hợp những bài ca ngợi nổi tiếng kèm theo các công án mà sau nầy Viên Ngộ Khắc Cần công bố dưới nhan đề Bích Nham Lục. Tuyết Đậu là vị đại sư cuối cùng của phái Vân Môn, phái nầy bắt đầu suy thoái từ giữa thế kỷ thứ XI và cuối cùng tàn lụn hoàn toàn vào thế kỷ thứ XII. Có tám Pháp môn cần thiết của tông Vân Môn: Thứ Nhất Là Huyền: Lời nói và sự tư duy bất khả tư nghì. Thứ Nhì Là Tùng: Tùy duyêncứu độ đệ tửchúng sanh. Thứ Ba Là Chân Yếu: Hiểu rõ giáo lý tông chỉ. Thứ Tư Là Đoạt: không để cho hành giảthì giờ với vọng tưởng, từ đó họ có thể cắt đứt ảo vọng. Thứ Năm Là Hoặc: Không bị ràng buộc bởi ngôn ngữ. Thứ Sáu Là Quá: Phương thức giáo hóa nghiêm khắc, không cho hành giả né tránh mà phải đi thẳng vào công phu thiền tập. Thứ Bảy Là Tang: Giúp hành giả xa lìa hai kiến giải sai lầm: a) Không thể soi thấu bản tánh thanh tịnh của chính mình. b) Chấp trước kiến giải của mình. Thứ Tám Là Xuất: Tạo điều kiện cho hành giả có cơ hội hoát nhiên khế ngộ. Bên cạnh đó, Thiền pháp của Vân Môn Tông còn có Vân Môn Tam Bệnh hay Ba loại Thiền bệnh thông thường. Thứ Nhất: Không thể đạt được cảnh giới giác ngộ vì hãy còn vướng mắc vào vọng tưởngđối đãi phân biệt. Thứ Nhì: Đạt được cảnh giới giác ngộ, nhưng do chấp trước vào cảnh giới này nên không được tự do tự tại. Thứ Ba: Tự cho mình đã đạt được cảnh giới giác ngộ thật sự, không cần nương tựa vào đâu nữa. Vân Môn Tam Cú hay Ba câu yếu chỉ của Thiền sư Vân Môn. Thứ Nhất Là Hàm cái càn khôn: Vạn hữu tự chúng đều là diệu thể chân như. Thứ Nhì Là Tiệt đoạn chúng lưu: Chặt đứt con đường ngôn ngữ. Thứ Ba Là Tùy ba trục lãng: Tùy duyêncứu độ đệ tửchúng sanh.

Bài viết ny không phải là một nghiên cứu thâm sâu về triết thuyết của Vân Môn Tông, mà nó chỉ yếu lược về Thiền Lý & Thiền Tập của Vân Môn Tông và pháp tu đặc biệt của tông phái ny. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng mục đích cuối cùng của người tu Phậtgiác ngộgiải thoát, nghĩa thấy được cách nào để thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử ngay trong kiếp này. Đường tu tập còn đòi hỏi nhiều cố gắnghiểu biết liên tục. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về Phật giáo, tôi cũng mạo muội biên soạn bài viết với tựa đề Yếu Lược Về Thiền Lý & Thiền Tập Theo Truyền Thống Vân Môn Tông” song ngữ Việt Anh nhằm giới thiệu giáo lý và sự tu tập thiền theo truyền thống Vân Môn Tông cho Phật tử ở mọi trình độ, đặc biệt là những người sơ cơ. Những mong sự đóng góp nhoi nầy sẽ mang lại lợi lạc cho những muốn hiểu biết thêm về Thiền trong Phật giáo và biết làm thế nào để có được cuộc sống an bình, tỉnh thứchạnh phúc.