[Trang chu] [Kinh sach][Mục Lục]
TR�CH VỤ PHẬT TỬ TẠI GIA
| TR�CH VỤ PHẬT TỬ TẠI GIA Phật tử tại gia l� người con Phật đem gi�o l� Phật dạy �p dụng v�o gia đ�nh khiến to�n cả gia đ�nh sinh hoạt theo đường lối Phật gi�o. Tr�ch nhiệm v� c�ng vụ của Phật tử l� ho�n cải nh�n gian trở th�nh một x� hội thuần t�y Phật gi�o. Tinh thần Đại thừa Phật gi�o nhằm mục đ�ch chuyển h�a c�i Ta-b� uế trược n�y trở th�nh Cực-lạc thanh lương. Sự phổ biến Phật gi�o khắp mọi tầng lớp quần ch�ng l� điều Phật tử phải thực hiện. Theo quan niệm chung của Phật tử xưa nay, khi n�i đến tr�ch nhiệm truyền b� Phật gi�o, đều c�ng nhận �do tăng gi� đ�m nhiệm�, hoặc tiến hơn lại bảo: �Hai giới xuất gia, tại gia chung g�nh v�c�, theo t�i, t�i n�i �Truyền b� Phật gi�o được phổ biến, linh động trong quần ch�ng do Phật tử tại gia thực hiện�. Tại sao ? Bởi v� mỗi c� nh�n, mỗi gia đ�nh Phật tử thực hiện đ�ng đường lối Phật dạy những c�i hay đẹp ấy sẽ l�y nhiễm sang những c� nh�n v� gia đ�nh kh�c dần dần nh�n gian biến th�nh Tịnh độ. Nếp sống của người xuất gia cao si�u c�ch biệt quần ch�ng qu�, d� cố gắng c�ch mấy cũng kh� ảnh hưởng l�y. V� thế, Phật tử tại gia c� tr�ch nhiệm l�m linh động v� sống dậy tinh thần Phật gi�o qua nếp sống c� nh�n v� gia đ�nh m�nh. II. PHẬT GI�O HỮU �CH HAY V� �CH : Phật tử tại gia l�u nay c� quan niệm sai lầm, khi n�i đến Phật sự l� đinh ninh c�ng ch�a, cất ch�a, trai nguyện, c�ng quả v.v... l�ng qu�n yếu tố căn bản �L�m sống dậy lời Phật dạy�. Giả sử c� người ph� b�nh: Phật gi�o chỉ l� thuyết su�ng kh�ng �ch lợi g� cho quần ch�ng. Phật tử ch�ng ta c� chấp nhận lời ph� b�nh n�y kh�ng ? Hẳn l� kh�ng. Nhưng muốn cải ch�nh, ch�ng ta căn cứ v�o đ�u để chứng minh sự hữu �ch của Phật gi�o đối với quần ch�ng. Căn cứ v�o sự cầu nguyện quốc thới d�n an l�m bằng chứng được chăng ? Huyền diệu qu�, quần ch�ng kh�ng tin nổi. Căn cứ v�o sự c�ng ch�a đời sau được phước chăng ? Xa x�i qu�, quần ch�ng kh�ng thể nhận tới. C�n bao nhi�u chứng cứ nữa thảy đều cao si�u kh� thấy. Quần ch�ng đ�i hỏi c� sự lợi �ch thiết thực, ch�nh mắt họ tr�ng thấy mới chịu tin. V� thế, Phật tử tại gia phải cố gắng thực hiện, lấy gia đ�nh m�nh l�m cứ điểm lợi �ch thiết thực của Phật gi�o để trả lời mọi nghi ngờ v� ph� b�nh của quần ch�ng. Hơn nữa một vị Tăng đứng l�n giảng hạnh Từ bi, nhẫn nhục v.v... quần ch�ng cho đ� l� một mớ l� thuyết kh� khan kh�ng thể thực hiện được. Nếu vị Tăng ấy ch�nh bản th�n thực hiện hạnh Từ bi, nhẫn nhục, quần ch�ng lại bảo dĩ nhi�n �ng ấy phải l�m được. V� �ng kh�ng c� gia đ�nh, kh�ng lo sinh kế, c�n ch�ng t�i phải bảo bọc gia đ�nh, phải lo sinh kế, l�m sao b� mấy �ng ấy được. Chỉ c� người Phật tử tại gia vẫn sống trong ho�n cảnh như họ m� thực h�nh được đạo đức mới l� việc đ�ng cho họ ch� �. Phật gi�o hữu �ch hay v� �ch ch�nh do sự thực hiện hay kh�ng của h�ng Phật tử tại gia vậy. Muốn cho quần ch�ng thấy c�i hay, c�i đẹp của Phật gi�o, Phật tử tại gia trước hết lấy gi�o l� đi�u luyện c� nh�n m�nh, ch�nh bản th�n m�nh l� phản ảnh trung th�nh của Phật gi�o. Sự kiện đầu ti�n trong việc đi�u luyện m�nh l� Quy Y v� Thọ Giới. A. Quy Y - Thọ Giới: Quy Y l� đặt cho m�nh một l� tưởng, vạch một lối đi. Phật l� mục ti�u cao cả để ta nhắm. Ph�p l� đường lối tiến đến mục ti�u ấy, Tăng l� người hướng dẫn ta đi đ�ng đường lối tiến l�n mục ti�u đ� nhắm. Cho n�n Quy Y l� định hướng của người Phật tử. Quy Y rồi c� nh�n m�nh kh�ng c�n c�i khổ phi�u bạt linh đinh của con người v� l� tưởng. Năm giới cấm l� phần thiện ti�u cực của Phật tử. Giữ trọn năm giới l� nh�n c�ch con người được đầy đủ v� bảo đảm một con người to�n vẹn ở tương lai. Sự thảm khốc của cảnh tương t�n tương x�c. Sự khổ đau cướp giựt lẫn nhau. Sự xấu xa của gia đ�nh thường lu�n bại l�, sự nghi ngờ trong x� hội đi�u ngoa, sự say sưa ở tr� đ�nh tửu điếm, người Phật tử đều vượt khỏi những c�i tủi nhục n�y. Ngược lại người Phật tử lu�n lu�n bảo vệ sinh mạng nhau, sẵn s�ng t�n trọng t�i sản của nhau, biết giữ g�n can thường đạo l� sống ch�n th�nh tự trọng v� l�c n�o cũng s�ng suốt kh�n ngoan. Chỉ giữ năm giới c� nh�n đ� khỏi sa v�o hố trụy lạc, gia đ�nh được �m ấm tin y�u. Nếu to�n thể x� hội biết giữ năm giới th� hạnh ph�c thay cho cuộc sống thanh b�nh! [Muốn biết rộng về Tam Quy Ngũ Giới n�n xem quyển Tam Quy Ngũ Giới c�ng một t�c giả.]. Tuy nhi�n, đ� thực h�nh phần thiện ti�u cực, ch�ng ta cần phải tiến l�n phần thiện t�ch cực, tức l� học năm hạnh của Phật. B. Năm hạnh của Phật: Năm hạnh căn bản của Phật, l� con Phật ai ai cũng phải học v� thực h�nh. Ở đ�y trong phạm vi Phật tử tại gia �p dụng năm hạnh v�o đời sống thực tế để tạo cho m�nh một nếp sống đẹp đẽ v� đem lại cho gia đ�nh, cho x� hội an lạc, thuận h�a v� mỹ lệ. Năm hạnh l�: Từ Bi, Nhẫn Nhục, Hỷ Xả, Tinh Tấn, Tr� Tuệ. 1. Từ Bi: Tự t�m ta ph�t hiện l�ng thương ch�n thật, l�ng thương n�y được biểu lộ trong h�nh động, ng�n ngữ chia vui sớt khổ cho nhau. Phật tử tại gia; đối tượng thực hiện l�ng thương n�y l� cha mẹ, anh em, vợ con, sau c�ng l� th�n thuộc h�ng x�m. Trong gia đ�nh, l�c n�o người Phật tử cũng đem lại sự an vui cho cha mẹ, anh em, vợ con, kh�ng bao giờ l�m cho ai buồn khổ. Nếu cha mẹ, anh em, vợ con c� điều g� đau khổ ch�nh m�nh phải t�m c�ch giải cứu san sớt cho được vơi đi. Tức nhi�n phải th�ng cảm nhau vui c�ng vui, khổ chung chịu khổ. T�nh thương ch�n th�nh l� sợi d�y li�n lạc siết chặt mọi người trong gia đ�nh th�nh một khối, thiếu n� gia đ�nh c� thể rời rạc đến r� tan. Ngo�i ra, đối với th�n thuộc, h�ng x�m ch�ng ta cũng th�ng cảm chia vui sớt khổ cho nhau. Những khi hoạn nạn, những l�c đau buồn của người th�n thuộc n�n coi như l� hoạn nạn đau buồn của ch�nh ta, cố gắng t�m c�ch giải cứu. Chỉ c� chiếc g�u t�nh thương ch�n thật mới t�t vơi được d�ng s�ng đau khổ. 2. Nhẫn Nhục: Đ� thương nhau th� phải h�a thuận nhịn nhường nhau. Nhất l� đối với cha mẹ, d� mắng rầy quở phạt c� phần qu� đ�ng, người Phật tử vẫn nhẫn nhịn cam chịu, kh�ng bao giờ d�m to tiếng chống đối. Đợi khi n�o cha mẹ ngu�i cơn giận, ta mới nhỏ nhẹ thưa lại những nổi h�m oan của ta. Với anh em, ta cũng nhẫn nhịn nhau những khi buồn tức, kh�ng n�n để cho cơn giận dữ nổi l�n l�m ph�n ly t�nh cốt nhục. Nghĩa vợ chồng phải nhường nhịn nhau, khi chồng giận vợ nhường, khi vợ tức chồng nhịn, đợi qua cơn tức giận sẽ nh� nhặn khuy�n bảo nhau. Bất cứ sự sống chung đụng n�o nếu c� đến hai người l� c� bực tức rầy r�. Thế n�n, Phật tử phải kh�o nhường nhịn nhẫn nại để giữ h�a kh� vui đẹp trong gia đ�nh. C� khi nhường nhịn người ngo�i dễ hơn nhường nhịn người trong nh�. Bởi v� người ngo�i coi nhau như l� kh�ch nhịn một ch�t cho qua, �t khi gặp lại nhau, người trong nh� ra v�o gặp nhau n�n c� g� bực tức kh� nhịn được. Tập nhẫn nhục phải thực hiện ngay trong gia đ�nh trước, khi ở gia đ�nh đ� th�nh c�ng th� đối với người ngo�i kh�ng kh�. C� nhiều người đối đ�i với bạn b� h�ng x�m rất nh� nhặn vui vẻ, tr�i lại cư xử trong nh� th� th� bỉ c�u kỉnh. Đ� l� kh�ng biết thực hiện hạnh nhẫn nhục cho ch�nh đ�ng. Nhẫn nhục bậc thấp nhất l� những người c� quyền thế bề tr�n, bậc trung l� những người ngang h�ng m�nh, bậc thượng l� những kẻ dưới tay m�nh, Phật tử ch�ng ta phải tiến từ bậc thấp đến bậc cao tột c�ng. 3. Hỷ Xả : Đ� nhẫn nhịn được cần phải hỷ xả kh�ng n�n �m ấp buồn phiền trong l�ng. C� khi ta nhịn được cơn tức giận, m� trong l�ng c�n cưu mang uất hận. Như vậy kh�ng sớm th� muộn kh� tr�nh khỏi sự c�i v� nhau. Cho n�n nhường nhịn nhau rồi, cần phải vui vẻ tha thứ cho nhau kh�ng bao giờ nhắc đến lỗi lầm ấy nữa. Đối với anh em, vợ chồng, con ch�u sự hỷ xả rất thiết thực cần yếu. Đ� l� ph�m tục như nhau th� c� ai tr�nh được sự lỗi lầm, khi người n�y phạm lỗi lầm người kia vui vẻ tha thứ, l�c người kia phạm lỗi lầm người n�y sẵn s�ng hỷ xả. Được vậy, trong gia đ�nh sẽ giữ m�i được vẻ ấm �m t�nh h�a mục, bằng kh�ng th� kh� thấy sự vui vầy. Cha mẹ lu�n lu�n c� th�i độ bao dung sẵn s�ng tha thứ lỗi lầm của con. Anh em rộng lượng dung thứ nhau cho t�nh cốt nhục th�m nồng. Vợ chồng vui vẻ tha thứ cho nhau để giữ một niềm thủy chung như nhất. Tuy nhi�n, vui vẻ tha lỗi nhau, kh�ng c� nghĩa kh�ng chỉ dạy nhắc nhở những lỗi lầm của nhau. Tinh thần Phật tử lu�n lu�n muốn x�y dựng mọi người chung quanh m�nh được tốt đẹp, nếu thấy người c� điều quấy liền nhắc nhở chỉ dạy, khi người nhận lỗi liền vui vẻ tha thứ. Ở trong gia đ�nh người phạm lỗi phải can đảm nhận lỗi, người chỉ lỗi vui vẻ thứ tha. Kh�ng n�n c� t�nh c�ch thấy người tha lỗi m�nh cứ phạm lỗi m�i. Bầu kh�ng kh� h�a nh� vui vẻ sẽ c� nơi những gia đ�nh n�o người trong ấy biết nhẫn nhục hỷ xả cho nhau. 4. Tinh Tấn: Chuy�n cần cầu tiến l� sự tất yếu của con người hướng thượng. Phật tử tại gia l� người sống trong cảnh trần tục m� lu�n lu�n �m ấp � ch� hướng thượng, l�c n�o cũng cần cầu tiến. Trước nhất, Phật tử tại gia chuy�n cần chuyển h�a t�m niệm, h�nh động, ng�n ngữ xấu xa của m�nh trở th�nh tốt đẹp. C� gắng thế n�o thấy m�nh h�m nay đ� tốt hơn h�m qua. Tập qu�n xấu xa khắn chặt trong t�m thức ta đ� l�u rồi kh�ng thể nhất đ�ng sửa đổi được ngay, phải l� sự chuy�n cần bền bỉ mới c� thể thắng được n�. Gi� trị tu tập l� ở chỗ cố gắng cải h�a bản th�n m�nh. Thứ đến, Phật tử chuy�n cần l�m việc hằng ng�y theo khả năng m�nh để đem lại cơm no �o ấm cho gia đ�nh. Ch�ng ta c�n mang x�c th�n n�y dĩ nhi�n sự ăn mặc kh�ng thể thiếu được. Nếu cả ng�y Phật tử b�n luận những l� thuyết cao si�u huyền diệu m� trong gia đ�nh vợ con đ�i r�ch nheo nh�c, l� thuyết sẽ trở th�nh chất vị chua cay khiến vợ con ch�n sợ n�. Hơn nữa, Phật tử tại gia c�n phải thực hiện đức Từ Bi của Phật, n�n phải chuy�n cần l�m lụng may ra c� dư giả ch�t �t để gi�p đỡ những người t�n tật đ�i thiếu l�m vơi phần n�o đau khổ cho nh�n loại. Sau c�ng, Phật tử chuy�n cần chuyển h�a v� điều h�a mọi người trong gia đ�nh. L�m thế n�o cả nh� đều chung thờ một l� tưởng, đều cư xử thuận h�a �m ả, đều theo một chiều hướng vươn l�n. Được thế người Phật tử mới thấy tr�n bổn phận của m�nh. 5. Tr� Tuệ: Đạo Phật rất ch� trọng phần tr� tuệ. C� tr� tuệ con người mới khỏi lạc lầm đau khổ. D� người cố gắng l�m mọi việc l�nh, nếu thiếu tr� tuệ ph�n đo�n chưa hẳn việc l�m ấy đ� l� l�nh. Phật tử ch�ng ta nếu thiếu tr� tuệ kh�ng thể th�nh một Phật tử ch�n ch�nh được. Muốn c� tr� tuệ, Phật tử trước phải ph� những c�i tin tưởng sai lầm. Tin đồng b�ng, s�m quẻ, tướng số v.v... l� những hiện tượng m� mờ. Đ�nh rằng đ�i khi tướng số cũng đo�n tr�ng, nhưng đ� chỉ l� do nh�n quả nghiệp b�o của ch�ng ta m� th�i. Trong s�ch tướng c� c�u: �Hữu t�m v� tướng, tướng tự t�m sanh; tướng v� t�m, tướng t�ng t�m diệt�. Nghĩa l� người c� t�m tốt m� kh�ng c� tướng tốt; tướng tốt sẽ t�y t�m tốt ph�t hiện, người tướng tốt m� kh�ng t�m tốt, tướng tốt sẽ theo t�m ti�u diệt. Như vậy, tất nhi�n t�y t�m niệm, h�nh động tốt xấu của ch�ng ta, theo nh�n quả sẽ hiện ra tướng tốt xấu nhất l� sự ỷ lại thần quyền l� hiểm họa ti�u diệt tr� tuệ của ch�ng ta. Để được khai th�ng tr� tuệ, người Phật tử phải học Kinh điển Phật gi�o. Ch�ng ta chưa c� thể tự ph�t tr� tuệ, phải nhờ ngọn đuốc tr� tuệ của Phật chiếu ph� m� mờ cho ta. Những lời v�ng ngọc trong kinh điển l� do Phật chứng Nhất thiết tr� ph� diễn c�n ghi lại. Ch�ng ta y cứ v�o đ� l�m nền tảng khiến tr� tuệ khai ph�t. Nếu kh�ng chịu học hỏi gi�o l�, người Phật tử ấy chỉ l� tấm bia kh�ng kh�c. Vả lại, người ấy muốn tự tu hay chuyển h�a người cũng kh�ng biết lấy đ�u l�m phương hướng. Nhận x�t ch�n ch�nh l� căn bản của tr� tuệ. Người Phật tử nhận x�t sự vật trong vũ trụ theo hai chiều Nh�n Quả v� Nh�n Duy�n. Đứng về chiều thời gian, vạn vật th�nh bại, hư n�n, tốt xấu... đều theo định luật nh�n quả. Như muốn c� l�a ta phải gieo hạt l�a, vun ph�n xới đất l�m cỏ, mưa, nắng, sương v� chăm s�c, ngăn ngừa s�u bọ l� những điều kiện phụ trợ. C� đủ những điều kiện ấy, trải qua một thời gian, ta sẽ được những b�ng l�a. Từ nh�n hạt l�a, đến quả nhiều b�ng l�a, bản th�n c�y l�a c� đủ những yếu tố bổ trợ v� ph� hoại. Kh�ng giản dị c� hạt l�a sẽ c� b�ng l�a. Thuyết nh�n quả gồm c� ch�nh nh�n, trợ nh�n, nghịch nh�n. Hạt l�a đem ra gieo l� ch�nh nh�n, ph�n, đất, nước... l� trợ nh�n; mưa, nắng, thuận m�a l� thuận nh�n; s�u bọ, nắng hạn, b�o lụt l� nghịch nh�n. Đ� l� ph�n t�ch tổng qu�t, nếu ph�n t�ch chi tiết c�n lắm điều phiền to�i. Nh�n quả li�n chuyền cả ba thời: Qu� khứ, hiện tại, vị lai. Ch�ng ta muốn ph�n x�t một việc phải nh�n suốt ba thời, kh�ng n�n cắt x�n từng đoạn m� đo�n định. Đứng về mặt kh�ng gian, kh�ng một vật n�o tự n� h�nh th�nh; phải do nhiều nh�n duy�n chung hợp; mu�n vật trong vũ trụ đều li�n hệ nương nhờ nhau, �C�i n�y c� th� c�i kia c�, c�i n�y kh�ng th� c�i kia kh�ng�. C�i nh� kh�ng tự c�, sở dĩ c� l� nhờ c�y, gạch, ng�i, xi-măng, sắt, c�t v.v... Bao nhi�u điều kiện chung hợp lại. Nếu một trong những điều kiện quan trọng ấy thiếu, c�i nh� kh� th�nh tựu. Trong kinh Phật, khi n�i đến sự tương quan, tương duy�n của vạn vật thường lấy b� lau l�m th� dụ. B� lau sở dĩ đứng vững được nhờ nhiều c�y nương nhau, nếu ng� đi một v�i c�y th� b� lau cũng phải ng�. Sự li�n hệ chằng chịt giữa cuộc đời mật thiết nhau như thế. L� Nh�n Quả, Nh�n Duy�n bao qu�t cả vũ trụ v� nh�n sinh, nhưng Phật gi�o lấy nh�n sinh l�m đối tượng, n�n hai thuyết l� n�y được �p dụng triệt để v�o sự tu tập của con người. Người hiểu r� l� Nh�n Quả �p dụng v�o sự tu tập bản th�n sẽ được những đức t�nh tốt: 1- Can đảm kh�ng k�u than o�n tr�ch, khi gặp cảnh khổ đến với m�nh. V� biết do nh�n m�nh đ� tạo trong hiện tại, hoặc qu� khứ c�n thừa. 2- Dũng tiến tu thiện, v� biết gieo nh�n l�nh sẽ được hưởng quả l�nh. 3- Cẩn thận khi sắp l�m, sắp n�i, v� sợ g�y nh�n xấu sau chịu quả xấu. 4- Kh�ng ỷ lại, v� biết mọi việc do m�nh tạo nh�n, m�nh hưởng quả kh�ng phải sức thi�ng li�ng n�o ban. 5- Kh�ng ki�u căng trong cảnh gi�u sang, v� biết nhờ nh�n l�nh đời trước nếu khởi h�nh động xấu sau n�y sẽ chịu quả khổ. Người đạt được l� Nh�n duy�n đối với x� hội c� nhiều � niệm hay: 1- Kh�ng �ch kỷ, v� biết m�nh v� người tương quan nhau, người khổ tức m�nh khổ. 2- Kh�ng ch�n gh�t x� hội muốn trốn tr�nh, v� biết m�nh kh�ng thể ly khai x� hội được. 3- T�ch cực lợi tha, v� biết người tốt l� m�nh tốt. 4- Kh�ng qu� khổ đau khi thấy sự hoại diệt, v� biết c� hợp phải c� tan. Biết nhận x�t v� �p dụng l� Nh�n Quả, Nh�n Duy�n như vậy l� người c� tr� tuệ tự tạo cho m�nh một cuộc sống linh hoạt hợp l�. C. Tụng niệm: Để th�m sức mạnh v�o sự cải đổi bản th�n người Phật tử nếu đủ phương tiện mỗi ng�y d�nh ra mười lăm đến hai mươi ph�t đến trước b�n Phật tụng kinh niệm Phật, hoặc tham Thiền theo ph�p qu�n Ngũ đ�nh t�m. Giờ ph�t tụng niệm phải ch� th�nh khẩn thiết chuy�n giữ ba nghiệp thanh tịnh. Trọn ng�y người tại gia lăn lộn với trần tục l�m sao khỏi d�nh v�i vết nhiễm � trong t�m niệm. Đến trước b�n Phật tụng niệm l� cốt gột rữa những vết nhơ ấy khiến t�m hồn được thanh tịnh. Trước khi tụng niệm, Phật tử mặc một bộ y phục sạch sẽ, thắp hương, l�n đ�n thơm tho s�ng suốt, tượng Phật ngự tr�n b�n tịch tịnh t�n nghi�m, bầu kh�ng kh� thanh khiết n�y chuyển h�a t�m hồn trở th�nh thanh tịnh. Giờ ph�t tụng niệm trang nghi�m th�nh k�nh gi�p ta th�m vững l�ng tin v� l�ng qu�n mọi sự buồn đau gian khổ. Nếu trường hợp kh�ng thể c� b�n Phật m� kh�ng c� th� giờ r�nh rổi, mỗi ng�y trước khi đi ngủ, Phật tử n�n ngồi y�n tịnh độ năm đến mười ph�t để kiểm điểm lại h�nh động trong ng�y v� tưởng nhớ năm hạnh của Phật. C� thế, ta mới biết lỗi lầm m� tr�nh v� cố gắng tiến l�n theo c�c hạnh l�nh. L� Nh�n Duy�n đ� cho ta thấy trong vũ trụ kh�ng c� một vật n�o đơn độc tự sống. Đ� c� sống tức li�n hệ nhau, giữa m�nh v� mọi người, m�nh v� vạn vật. Bởi sự li�n hệ ấy, người Phật tử kh�ng thể tự tu ri�ng m�nh, buộc phải cảm h�a những người chung quanh m�nh c�ng tu. A. Cảm ho� gia đ�nh: Những người gần nhất với Phật tử tại gia l� cha mẹ, anh em, vợ con. Tuy mỗi người c� quyền t�n thờ một l� tưởng ri�ng, nhưng trong gia đ�nh m� l� tưởng kh�c nhau l� c�i cớ khiến t�nh thương lợt lạt. Phật tử cố gắng cảm h�a gia đ�nh kh�ng phải l� độc t�i, c�i g� m�nh theo bắt trong gia đ�nh phải theo, m� v� muốn đem lại t�nh thương v� hạnh ph�c cho gia đ�nh. Cha mẹ l� bậc bề tr�n, kẻ l�m con thương cha mẹ kh�ng g� hơn khuy�n cha mẹ hướng về đạo đức. Nếu cha mẹ đ� Quy Y Tam Bảo, người con phải tạo những trợ duy�n tốt cho cha mẹ tiến l�n trong việc đạo đức. Nếu cha mẹ chưa biết Phật ph�p, người con cố gắng khuy�n giải v� tự m�nh thể hiện những c�i đẹp Phật gi�o để cha mẹ tr�ng thấy c�i hay m� trở về đạo ph�p. T�nh cốt nhục muốn được s�u đậm thiết tha l� anh em phải chung thờ một l� tưởng. Nếu anh em chưa biết Phật gi�o người Phật tử n�n hướng dẫn đến với đạo. Nhưng trước tự bản th�n m�nh phải theo, sống thực theo c�c hạnh Từ bi, Nhẫn nhục v.v... để anh em nh�n v�o ta thấy được c�i g� cao đẹp. Những n�t đẹp nơi ta sẽ chuyển h�a t�m hồn huynh đệ ta hướng về Phật gi�o. Đối với vợ hoặc chồng, người Phật tử sẽ �p dụng Phật gi�o cư xử trong gia đ�nh khiến vợ hoặc chồng cảm thấy Phật gi�o đem đến cho gia đ�nh một �n huệ qu� b�u. Kh�ng n�n bắt buộc vợ hoặc chồng theo Phật gi�o m� phải tự m�nh l�m cao đẹp Phật gi�o để bạn m�nh c�ng chuyển hướng theo. Con ch�u trong nh�, người Phật tử phải kh�o huấn luyện dạy dỗ ch�ng những gương hay hạnh tốt trong Phật gi�o khiến ch�ng thấm nhuần Phật gi�o từ thuở b�. Nhất l� Ph�p Lục H�a hằng giảng dạy ch�ng ăn ở cư xử với nhau th�nh nếp h�a thuận, tin y�u, kh�ng n�n hững hờ cho ch�ng c�n b� kh�ng cần biết đạo đức, đến khi ch�ng kh�n lớn chưa từng biết g� về đạo Phật nghe ai n�i g� hay theo, chừng ấy kẻ l�m cha mẹ hối hận đ� muộn. Hương vị đạo đức từ c� nh�n thấm dần v�o gia đ�nh đến khi to�n cả gia đ�nh đều b�t ng�t m�i hoa Ưu Đ�m, đ� l� Phật tử tại gia đ� th�nh c�ng một nhiệm vụ gần. B. Cảm h�a l�ng giềng : Hương vị đạo đức của từng gia đ�nh c�c Phật tử sẽ nhiễm l�y sang h�ng x�m. Trong x� hội tương quan n�y, c�i g� hay dĩ nhi�n sẽ ảnh hưởng đến những người chung quanh, c�i g� dỡ cũng thế. Cho n�n Phật tử lấy đạo đức thực tự bản th�n, gia đ�nh cảm h�a người l�n cận l� điều căn bản ch�n ch�nh. Ch�ng ta kh�ng cần khoe khoang Phật gi�o hữu �ch, cao si�u, v.v... chỉ cần c�c Phật tử biết sống thực theo Phật gi�o. Ph�m l�m việc g� người ta mong kết quả lợi �ch, theo Phật gi�o cũng thế. Phật tử tại gia muốn cảm h�a những gia đ�nh b�n cạnh m�nh hướng về Phật gi�o, trước phải đem Phật gi�o l�m lợi �ch thiết thực trong gia đ�nh m�nh th� sự cảm h�a mới c� hiệu quả. Ngược lại, nếu người m� nh�n v�o gia đ�nh của c�c Phật tử dẫy đầy một m�u th� hận, buồn khổ th� kh� mong kết quả. D� Phật tử ấy học thuộc l�ng năm mười quyển kinh, t�i h�ng biện tuyệt diệu đi nữa cũng kh�ng thể hướng dẫn người chung quanh m�nh đến đạo được. Muốn lợi tha quyết định trước phải tự lợi. C. Cư xử với bạn đạo: Ch�ng ta muốn cảm h�a người chưa biết đạo trở về với Phật gi�o, nếu trong t�nh đạo hữu c�ng nhau m� cư xử bất nh�, hoặc giận hờn th� nghịch nhau th� người ngo�i l�m sao d�m bước ch�n v�o đạo. Cho n�n, người Phật tử biết thương đạo, thương qu� thầy, l� bạn đạo phải cư xử với nhau rất h�a mục, thương y�u nhau như con một cha. Tuy rằng bạn đạo kh�ng phải t�nh cốt nhục, nhưng c�ng thờ một l� tưởng, c�ng t�n Đức Th�ch Ca l� Từ Phụ th� đ�u kh�c t�nh cốt nhục. Những đều chia rẽ buồn phiền nhau l� l�m nhục cho đạo, l�m đau khổ cho qu� thầy, người Phật tử ch�n ch�nh kh�ng n�n c�. Đ� l� ph�m phu như nhau, l�m g� tr�nh khỏi những ưu điểm v� khuyết điểm. Anh em một cha chưa hẳn t�nh t�nh giống nhau, huống chi bạn đạo l� con nhiều nh� m� c� thể giống hệt nhau được. Biết như vậy, khi gần nhau ch�ng ta n�n thấy những điểm tốt của bạn nhiều hơn v� sẵn s�ng tha thứ những điều dở của bạn. Huynh đệ hạp � nhau được phần n�o tốt phần ấy, đừng tham lam muốn bạn m�nh giống hệt m�nh. Chung lo việc đạo phải đặt l� tưởng l�n tr�n hết, những tự �i cỏn con gắng dẹp qua một b�n. Biết thương y�u nhau, đ�m bọc nhau l� Phật tử l�m đẹp cho Phật gi�o khiến những người ngo�i th�m muốn đến với đạo. Phật sự quan trọng l� Phật tử phải sống h�a thuận vui vẻ với nhau. D. Tham gia việc từ thiện: Phật tử biết tu theo hạnh Từ Bi của Phật đối với những kẻ sẵn s�ng thương x�t. Phật tử t�y khả năng cứu gi�p những người chung quanh m�nh khi họ gặp những ho�n cảnh khổ đau. Cứu trợ người l� h�nh động đẹp khiến người ta cảm mến trở về với Phật gi�o. Ngo�i ra, Phật tử t�y sức sẵn s�ng g�p c�ng v�o những việc từ thiện x� hội. L�ng từ bi bao giờ cũng vui vẻ chia cơm sớt �o cho người đ�i r�ch c�ng khổ. C� người tụng kinh rất s�nh, niệm Phật rất nhiều, nhưng gặp người nguy khổ đến nhờ cứu gi�p th� gương mặt lạnh l�ng như sắt đ�. Ch�ng ta kh�ng phải tu với Phật v� chỉ nhớ cảnh Cực-lạc ở phương t�y, m� phải tu với ch�ng sanh, nhớ cảnh đau khổ của ch�ng sanh ra tay cứu gi�p. Gặp người đau khổ, ch�ng ta n�n đặt m�nh trong ho�n cảnh của họ để c�ng th�ng cảm nỗi khổ đau với họ. Sự gi�p đỡ nhiều �t kh�ng quan trọng, quan trọng ở chỗ th�ng cảm nỗi khổ của họ hay kh�ng. Tuy gi�p của �t m� th�ng cảm nỗi khổ đau của họ, c�n hơn gi�p của nhiều m� lạnh lạt v� t�nh. Bố th� l� phương tiện đầu hướng dẫn người về với Phật gi�o. E. Đối với Tam Bảo: Người Phật tử đ� l�m bổn phận trong gia đ�nh, ngo�i x� hội, c�n c� tr�ch nhiệm gần gũi li�n lạc với ng�i Tam Bảo. 1. Tr�nh hai th�i độ cực đoan: Sự li�n lạc giữa Phật tử với Tam Bảo l� lẻ dĩ nhi�n kh�ng thể thiếu được. Nhưng tới lui lo lắng phải c� chừng mực, giới hạn kh�ng n�n đi qu� trớn. C� một �t Phật tử tại gia thuần t�n đối với Tam Bảo: Hoặc l� chồng th� ỷ quyền chồng trọn ng�y chạy lo Phật sự, bỏ phế việc l�m ăn nh� cửa, chẳng thiết đến vợ con để vợ con sống cơ cực nheo nh�c. Đ� l� c�i cớ khiến vợ con phiền tr�ch ch�n nản đạo đức, đ�i khi khởi �c � đối với Tam Bảo l� kh�c. Hoặc l� vợ ỷ tay cầm ch�a kh�a xuất ph�t c�ng kiếng bất chấp chồng con, nhiều khi qu�n cả sự đủ thiếu no đ�i trong gia đ�nh, c� bao nhi�u đều đ�ng g�p v�o ch�a cả đến khi chồng con hay được đ�m ra o�n tr�ch Tăng Ni l�nh xa Phật gi�o. Thế l� mất cả l�ng tin tưởng trong gia đ�nh, sống trong cảnh ngờ vực nhau. Tuy nhi�n, c�ng ch�a lo Phật sự l� c� phước, nhưng phước chỉ ri�ng m�nh để vợ hoặc chồng con hủy b�ng Tam Bảo, l�nh xa Phật gi�o, phước nhỏ ấy đ�u đủ b� tội lớn kia. Hơn nữa, người l�ng giềng nh�n v�o gia đ�nh đạo Phật m� buồn tẻ, cắng đắng như vậy, c�n ai d�m theo Phật gi�o. Thế l�, v� t�nh Phật tử x�i giục người xa l�nh Đạo Phật. Ngược lại, c� một �t người tin Phật m� bất chấp ch�a chiền, kh�ng cần biết đến Tăng Ni chỉ ở nh� tụng kinh niệm Phật cho thế l� đủ. Đ�nh rằng tu l� tự sửa đổi t�m t�nh, h�nh động của m�nh cho tốt đẹp, đi ch�a kh�ng phải l� l�m cho m�nh tốt. Nhưng, ly khai ch�a chiền, Tăng Ni nhờ ai chỉ dạy phương ph�p sửa đổi t�m t�nh ? Lại nữa, người Phật tử tại gia m� kh�ng li�n lạc với ch�a chiền, Tăng Ni th� kh�ng phải l� Phật tử. V� trong kinh Phật đ� dạy, cư sĩ l� người gần gũi phụng sự Tam Bảo. Tam Bảo l� chỗ y cứ cho mọi người hướng về Phật gi�o, nếu ta t�ch rời ch�a chiền, Tăng Ni tức nhi�n sự li�n lạc truyền b� Phật gi�o bị cắt đứt: Hệ thống truyền b� kh�ng c�n, nhất định Phật gi�o sẽ đi đến ti�u diệt. Như vậy, ch�ng ta tin Phật m� trở lại l�m ti�u diệt Phật gi�o. T�m lại hai hạng người tr�n: một b�n t�n ngưỡng nồng nhiệt chỉ biết ch�a m� kh�ng biết đến gia đ�nh; một b�n chỉ biết gia đ�nh, kh�ng cần biết biết đến ch�a, hai th�i độ đều mang đến Phật gi�o sự hoại diệt. Phật tử ch�n ch�nh d� dặt đừng dẫm dấu hai hạng người n�y. 2. Tr�nh quan niệm danh tướng: C�ng ch�a, l�m Phật sự ta n�n gạt bỏ danh, tướng ra ngo�i. Nếu người c�n �m ấp danh tướng trong l�ng ra lo việc đạo, khi bị khai th�c tr�ng chỗ th� l�m việc quay cuồng, c�ng dường bất kể, rủi gặp việc bất m�n th� kh�ng th�m bước ch�n đến ch�a c� khi phỉ b�ng Tam Bảo l� kh�c. C�ng đức c�ng dường Tam Bảo th�nh thang v� lượng kh�ng n�n hạn cuộc n� tr�n tấm bảng nhỏ hẹp, trong những lời khen dễ d�ng. Phật tử l�m việc đạo l� v� bảo vệ Tam Bảo thường c�n ở thế gian, v� truyền b� đạo ph�p lợi �ch ch�ng sanh kh�ng phải v� danh v� tướng. C�ng ch�a, lo đạo l� do l�ng ch�n th�nh mộ đạo ph�t t�m của Phật tử, đừng v� những lời t�n thưởng, v� cho người kh�c biết m�nh c� đạo t�m. Đẹp đẽ thay ! Những người thầm lặng lo việc đạo. Bỉ ổi nhất, những kẻ �m c�i ng� to tướng đội lớp hy sinh Phật sự. Thật l� Phật tử lo đạo thường thường m� thật t�m v� đạo, c�n hơn những người cả ng�y chạy lo Phật sự m� v� danh tướng của m�nh. C� khi người ta bỏ được danh lợi ở đời, m� bị kẹt c�i danh trong đạo, thật đ�ng thương! 3. Tư c�ch Phật tử ch�n ch�nh đối với Tam Bảo: Tư c�ch đ�ng đắn của Phật tử, khi ra l�m việc đạo kh�ng nghĩ đến c�i ng� của m�nh kh�ng bao giờ thấy m�nh l� người c� c�ng lớn. Kh�ng v� tiếng khen m� cố gắng, kh�ng do lời ch� m� thối l�i. Vui vẻ phấn khởi l�m Phật sự chỉ v� Tam Bảo m� th�i. Khi lo việc đạo do sự đồng � vui vẻ trong gia đ�nh, kh�ng qua mặt khuất lấp người trong nh�, l�c n�o cũng giữ th�i độ đường đường ch�nh ch�nh, k�nh trọng Tam Bảo l� điều kiện cho mọi người quy y hướng về Tam Bảo, kh�ng phải l�m sang trọng Tam Bảo m� mọi người đều xa l�nh khinh thường sự thịnh suy c�n mất của ng�i Tam Bảo, người Phật tử ch�n ch�nh thấy vui khổ như sự th�nh bại trong gia đ�nh m�nh. Người biết qu� k�nh Tam Bảo l� phải thương y�u ch�ng sanh, v� ch�ng sanh l� nh�n duy�n ch�nh Tam Bảo xuất hiện. Chỉ biết Tam Bảo m� kh�ng biết ch�ng sanh l� một sai lầm lớn của Phật tử, Phật tử cố gắng kh�u s�ng ngọn đ�n Tam Bảo để ch�ng sanh thấy m� hướng về. V. PHẬT TỬ TẠI GIA PHỔ BIẾN V� LINH ĐỘNG PHẬT GI�O : Phật tử tại gia ở chung đụng với quần ch�ng, ho�n cảnh sinh sống cũng như họ, nếu thực hiện được đạo đức mới đ�ng cho quần ch�ng ch� �. Nếu mỗi Phật tử tại gia đều sống gần giống lời Phật dạy, Phật gi�o tự nhi�n phổ khắp quần ch�ng. Bởi v� nh�n t�nh bao giờ cũng xu lợi, muốn khuy�n bảo l�m việc g� phải thấy lợi �ch hiển nhi�n họ mới l�m. Ch�ng ta k�u gọi khuy�n nhủ quần ch�ng hướng về Phật gi�o nhưng điều kiện lợi �ch chưa đủ chứng tỏ, đừng h�ng quần ch�ng chịu theo. Do đ�, người Phật tử tại gia phải �p dụng Phật gi�o x�y dựng gia đ�nh m�nh được �m ấm hạnh ph�c l� chứng cứ x�c thực để quần ch�ng lấy đ� l�m ti�u chuẩn hướng về Phật gi�o. H�nh d�ng Từ bi, Nhẫn nhục, Hỷ xả v.v... đều biểu lộ qua con người Phật tử, ấy l� b�i thuyết ph�p sống linh động v� rất hiệu quả. Nếu Phật tử chỉ học gi�o ph�p bằng l� thuyết su�ng, kh�ng l�m sống dậy một điểm n�o qua con người m�nh. Người ấy kh�ng phải ch�n ch�nh Phật tử. V� c� nh�n họ kh�ng biết d�ng Phật gi�o để tu tập, lại l� mục ti�u cho quần ch�ng khinh thường Phật gi�o. Giả sử c� những vị giảng sư giảng rất hấp dẫn linh động, đ� kh� cổ, khan giọng k�u gọi quần ch�ng Quy Y Tam Bảo, chỉ g�y h�o hứng nhất thời cho quần ch�ng chứ kh�ng mong kết quả nếu r�i r�c b�n cạnh quần ch�ng c� c�c gia đ�nh đ� quy y Phật gi�o đ�i ba năm m� h�nh động, cử chỉ, t�m t�nh năm n�y kh�ng kh�c năm xưa, sự rầy ra, giận dỗi, gh�t, o�n th� cũng y hệt mọi gia đ�nh kh�c. Quần ch�ng thấy quy y Phật gi�o cũng bằng thừa, kh�ng lợi �ch g� cho gia đ�nh, cho x� hội, như gia đ�nh anh A, chị B đ� quy y Phật gi�o nhan nh�n trước mắt kia m� th�i. Đ� ch�nh l� Phật tử tự đưa Phật gi�o đến chỗ v� dụng đối với quần ch�ng. Khi quần ch�ng thấy sự c� mặt của Phật gi�o l� thừa thải, thử hỏi Phật gi�o c�n c� thể sống được kh�ng ? Ảnh hưởng s�u đậm to t�c nhất đối với quần ch�ng l� h�nh ảnh c� nh�n v� gia đ�nh của c�c Phật tử tại gia. Phật gi�o sẽ phổ biến khắp quần ch�ng, khi n�o Phật tử tại gia biết �p dụng Phật gi�o v�o nếp sống gia đ�nh. Phật gi�o rất linh động hữu �ch khi c� nh�n Phật tử biết thực hiện theo lời Phật dạy. Tr�ch nhiệm truyền b� Phật gi�o trong quần ch�ng phần lớn do cư sĩ. Cư sĩ l� h�nh ảnh gần gũi thiết thực nhất với quần ch�ng cho n�n c�c vị Bồ-t�t đa số hiện th�n cư sĩ, như đức Qu�n Thế �m, Đại Thế Ch�, Văn Th�, Phổ Hiền, Dược Vương v.v... C�c Ng�i muốn gần gũi th�n thiết để h�a độ quần ch�ng n�n phải mang h�nh thức giống họ. Tinh thần Đại Thừa Phật gi�o l� t�ch cực lợi tha, mang nước Từ Bi chan rưới khắp quần ch�ng n�n h�nh d�ng cư sĩ rất cần thiết th�ch hợp. Phật tử tại gia phải � thức tr�ch vụ quan trọng to t�t của m�nh gắng thực hiện cho được phần n�o nhiệm vụ. VI. TR�CH VỤ TĂNG NI ĐỐI VỚI CƯ SĨ: N�i thế, h�nh như t�i tước quyền truyền b� Phật gi�o của Tăng Ni đặt hết g�nh nặng l�n vai cư sĩ. Sự thật kh�ng phải thế, Tăng Ni c� nhiệm vụ gi�o h�a quần ch�ng phần l� thuyết. L� thuyết chỉ c� khả năng hướng dẫn l� tr� khiến người ta cảm mến Phật gi�o nhưng thực tế sống động phải l� h�nh d�ng cư sĩ thường sinh hoạt b�n cạnh họ. Ho�n cảnh, nếp sống Tăng Ni, l� h�nh ảnh cao đẹp nhưng rất xa x�i chỉ để l�m mục ti�u si�u tho�t cho h�ng Phật tử hướng về. Quần ch�ng bao giờ cũng tr�nh khổ t�m vui, Phật gi�o l�c n�o cũng ban vui cứu khổ n�n rất th�ch hợp nhu cầu c�ng khổ. Vui c� chia ba thứ: vui hiện tại, vui vị lai, vui giải tho�t. Cứu gi�p người khỏi c�i khổ đ�i r�ch v.v... l� ban vui hiện tại. Khuy�n người bỏ �c tu thiện l�m những điều phước đức để đời sau hưởng quả b�o an lạc l� ban vui vị lai. Chỉ dạy người tu h�nh đạt được ch�n l� Tứ Đế, Thập Nhị Nh�n Duy�n v.v... si�u tho�t v�ng trầm lu�n sanh tử l� ban vui giải tho�t. Vui hiện tại, vui vị lai, h�ng Phật tử c� thể ban bố được. Vui giải tho�t chỉ d�nh ri�ng giới xuất gia hướng dẫn. Mục đ�ch ch�nh của Phật gi�o l� cứu người khỏi c�i khổ trầm lu�n, ban c�i vui giải tho�t. Ban c�i vui hiện tại, vui vị lai chỉ l� bước đầu hướng người v�o cửa đạo. Chư vị Bồ-t�t ra tế độ ch�ng sanh trước c�i vui hiện tại sau mới đưa đến c�i vui giải tho�t. Hai ph�i Phật tử xuất gia v� tại gia chung sức tiếp độ ch�ng sanh, kẻ ban vui hiện tại, người hướng dẫn đến vui giải tho�t, c� thế mới đạt được mục đ�ch chung cục của Phật gi�o v� mới phổ biến khắp cả ch�ng sanh. Tăng Ni bao giờ cũng giữ h�nh ảnh giải tho�t. H�nh ảnh giải tho�t kh�ng c� nghĩa l� c�i đầu hay chiếc �o m� phải l� chất vị thấm nhuần trong con người của tăng Ni. Những lời n�i những cử chỉ của Tăng Ni đều biểu lộ h�nh ảnh giải tho�t. Những l�c sống lăn lộn với trần tục đ� mệt mỏi trở về chưa nh�n thấy h�nh ảnh giải tho�t, cảm nhận đức t�nh Từ Bi, h�a nh�, nghe những l� thuyết cao si�u của Tăng Ni, người cư sĩ nghe l�ng nhẹ nh�ng an ổn. Cho n�n Tăng Ni phải giữ nguy�n chất vị giải tho�t, thể hiện đức hạnh Từ Bi, h�a nh� v� th�ng đạt gi�o l�. Đừng bao giờ Tăng Ni bước sang l�nh vực cư sĩ, cũng như l�nh vực cư sĩ bước lầm v�o l�nh vực Tăng Ni. Ch�ng ta kh�ng n�n đ�ng khung Phật gi�o trong khu�n khổ t�n ngưỡng nhỏ hẹp, khiến quần ch�ng nh�n v�o thấy Phật gi�o l� c�i x�c chết kh� khan. Ch�ng ta phải linh động Phật gi�o cả mọi kh�a cạnh, nguồn sinh lực Phật gi�o dồi d�o qua h�nh động ng�n ngữ của c�c Phật tử tại gia. Phật tử biết �p dụng phần n�o lời Phật dạy v�o c� nh�n v� gia đ�nh th� Phật ph�p sẽ trường tồn v� ph�t triển m�i m�i. Tr�ch nhiệm hoằng h�a Phật gi�o l� ở Tăng Ni, phổ biến Phật gi�o linh động trong quần ch�ng l� do cư sĩ. Giờ r�nh n�i chuyện th�n mật trong gia đ�nh, hoặc đi thăm người l�ng giềng đau yếu... đều l� những buổi thuyết ph�p linh động của cư sĩ. C�ch ăn ở trong nh�, sự đối xử h�ng x�m hợp đạo l� ấy l� b�i thuyết ph�p sống của Phật tử tại gia. Phật tử tại gia thực hiện được nhiệm vụ m�nh, mới thật l� người hộ đạo ch�n ch�nh. Tuy nhi�n, thực hiện to�n vẹn nhiệm vụ l� điều rất kh�, Phật tử tại gia n�n tiến dần theo khả năng v� phương tiện của m�nh. L�m thế n�o sau thời gian Quy Y Tam Bảo, mỗi th�ng mỗi năm, người chung quanh nh�n v�o ta thấy đ� tiến mỗi ng�y mỗi kh�c hơn trước. Trong kinh Ưu B� Tắc mỗi khi dạy một hạnh tu, sau c�ng đức Phật kết th�nh c�u: �Người tại gia giữ được rất kh� v� nhiều nh�n duy�n r�ng buộc�. Biết l� kh�, nhưng ch�ng ta đ� quyết t�m tu tiến phải cố gắng vượt l�n, kh�ng v� kh� m� e d� lui sụt l�m mất � ch� hướng thượng của m�nh. ] |