Thiền Tông Việt Nam

Kinh sach

TRUYỀN T�M PH�P YẾU

GIẢNG GIẢI

H.T TH�CH THANH TỪ

Ph�p Yếu Truyền T�m

Thiền Sư Đoạn Tế Ở N�i Ho�ng B�

 

CH�NH VĂN:������

 

Sư bảo Hưu rằng:

Chư Phật c�ng tất cả ch�ng sanh chỉ l� một t�m, kh�ng c� ph�p ri�ng. T�m n�y từ v� thủy tới nay kh�ng từng sanh kh�ng từng diệt, kh�ng xanh kh�ng v�ng, kh�ng h�nh kh�ng tướng, kh�ng thuộc c� kh�ng, kh�ng kể mới cũ, chẳng d�i chẳng ngắn, chẳng lớn chẳng nhỏ, vượt qua tất cả hạn lượng danh ng�n dấu vết đối đ�i, ch�nh thẳng đ� l� phải, động niệm liền tr�i.

GIẢNG:

 

Chư Phật c�ng tất cả ch�ng sanh chỉ l� một t�m, phải hiểu chữ một t�m n�y cho r�, đừng bị lầm. Phật với ch�ng sanh chỉ c� một t�m, nếu Phật gi�c ngộ lẽ ra ch�ng sanh cũng gi�c ngộ, nhưng tại sao Phật gi�c ngộ m� ch�ng ta lại kh�ng gi�c ngộ? Nếu một t�m th� tất cả chư Phật kh�ng hai, tại sao lại c� Phật Di-đ�, Phật Ca-diếp, Phật Th�ch-ca, v� số Phật như vậy? Chỗ n�y người ta dễ lầm, như B�-la-m�n gi�o cho rằng chỉ c� một Phạm thi�n, khi tu đại ng� của họ thể nhập v�o đại ng� Phạm thi�n, thế l� xong. Như vậy chỉ c� một đại ng�, bao nhi�u người tu đều nhập về đ� hết. Nếu Phật n�i một t�nh gi�c chung th� Ng�i th�nh Phật ch�ng ta cũng được ảnh hưởng, sao Phật th�nh Phật l�u qu� m� m�nh c�n ngồi đ�y? Đ� l� một l�.

L� thứ hai, nếu l� một th� chỉ c� một vị Phật, như B�-la-m�n gi�o chỉ c� một Đại Phạm thi�n gọi l� đại ng�, sao ch�ng ta lại c� v� số Phật, vậy vị Phật n�o l� chủ? Chỗ n�y kinh Vi�n Gi�c d�ng th� dụ thật hay. N�i rằng trong một ng�i nh� tối c� đốt một trăm ngọn đ�n ri�ng kh�c, nhưng �nh s�ng của một trăm ngọn đ�n đ� h�a nhập v�o nhau chỉ c� một, kh�ng sai kh�c. Như vậy ngọn đ�n tuy kh�c nhưng �nh s�ng th� đồng. Cho n�n chữ một l� n�i về �nh s�ng chớ kh�ng phải n�i về ngọn đ�n. Một m� kh�ng phải một, mới c� v� số chư Phật. Mỗi vị gi�o h�a mỗi nơi, giống như c�c ngọn đ�n để ở những vị tr� kh�c nhau, nhưng t�nh chất của �nh s�ng vẫn đồng.

B�y giờ ch�ng ta c� thể hiểu hằng h� sa số ch�ng sanh l� hằng h� sa số chư Phật. Qu� vị c� d�m nhận m�nh l� Phật kh�ng? Nếu b�y giờ nhận m�nh l� Phật th� bị tội tăng thượng mạn, nhưng nghĩ m�nh kh�ng c� Phật t�nh th� tu tiến kh�ng? Kh�ng. Ch�ng ta ai cũng c� t�nh Phật nhưng chưa phải Phật quả. Phật t�nh kh�ng rời m�nh, nhưng ta c�n m�, c�n qu�n n�n l�m ch�ng sanh. Như người c� h�n ngọc qu� m� qu�n, cất đ�u kh�ng biết th� người đ� gi�u hay ngh�o? C� ngọc qu� nhưng kh�ng biết để đ�u th� gi�u cũng th�nh ngh�o. Chừng n�o lấy được h�n ngọc qu� ra d�ng mới gi�u. Ch�ng ta cũng vậy, c� t�nh gi�c l� c� Phật nhưng b�y giờ qu�n, kh�ng biết Phật ở đ�u, cứ thấy to�n l� ch�ng sanh. Chừng n�o ch�ng ta thấy �ng Phật của m�nh một c�ch cụ thể, r� r�ng chừng đ� mới biết m�nh vốn l� Phật m� xưa nay qu�n. Như vậy t�m thể ch�ng ta c� t�nh Phật đồng với t�nh Phật của chư Phật, n�n n�i l� một.

T�m n�y từ v� thủy tới nay kh�ng từng sanh, kh�ng từng diệt, kh�ng xanh kh�ng v�ng, kh�ng h�nh kh�ng tướng v.v�T�m thể n�y từ thuở n�o tới giờ, kh�ng sanh kh�ng diệt, kh�ng m�u sắc kh�ng h�nh tướng. Chỗ n�y n�i su�ng th� qu� vị rất kh� hiểu, v� sao t�m lạ vậy? Ở đ�y c� hai trường hợp để ch�ng ta nhận biết được t�m.

Trường hợp thứ nhất rất b�nh thường giản dị, chỉ ai kh�o tinh mắt một ch�t sẽ nhận ra ngay. Như ch�ng ta ngồi b�nh tĩnh trước s�n ch�a nh�n tất cả cảnh vật, m� kh�ng c� niệm số một số hai n�o dấy động hết, l�c đ� c� t�m kh�ng? Nếu kh�ng t�m th� ai biết nh�n, ai biết thấy, c� tiếng động biết nghe. C�i thấy nghe kh�ng dấy niệm đ� l� t�m chưa từng sanh chưa từng diệt. Vừa khởi khen ch� hay ưa gh�t liền qua tướng sanh diệt. Cho n�n ở đ�y n�i c�i đ� kh�ng c� danh ng�n m� động niệm liền tr�i. Chỉ khi kh�ng dấy niệm t�m đ� hiện tiền. T�m kh�ng nghĩ g� hết diễn tả l�m sao? H�nh tướng l�m sao? D�ng dấp l�m sao? V� n� kh�ng h�nh tướng n�n kh�ng xanh v�ng đỏ trắng m� vẫn thấy vẫn nghe. Vừa khởi một niệm như c�y t�ng n�y đẹp th� t�m ẩn khuất liền. Cho n�n d�ng chữ �động niệm liền tr�i�, động niệm l� mất t�m ch�n thật liền.

Ch�ng ta nh�n l� nh�n, thấy l� thấy, kh�ng khởi niệm th� t�m hiện tiền. C� khi n�o qu� vị cảm nhận điều đ� kh�ng? Ai cũng cảm nhận được hết, như vậy đ�u c� người n�o v� phần. Đ� c� phần nhưng kh�ng biết giữ của b�u n�n rồi xao l�ng qu�n mất, cứ chạy theo c�i nghĩ đ�ng nghĩ t�y cả ng�y. Nhiều người rất tội nghiệp, ngồi một l�t chợt vui l�n muốn cười, sau đ� lại quạu. D�ng vui d�ng quạu của họ hiện ra tại c�i g�? Tại �n lại qu� khứ, qu� khứ đẹp th� vui, qu� khứ th� địch th� quạu. Như vậy họ ngồi đ� m� kh�ng c� ngồi đ�, v� ngồi đ� m� sống với qu� khứ. Ch�ng ta sống với c�i đ� qua l� sống với c�i mất. Hoặc kh�ng sống với c�i đ� qua th� sống với c�i chưa tới, chưa tới cũng l� ảo tưởng. C�i thực hiện tại ch�ng ta kh�ng sống, th�nh ra sống cả ng�y m� thật ra kh�ng sống g� hết.

V� vậy nh� Thiền bắt ch�ng ta phải sống với hiện tại, qu� khứ đ� qua, vị lai chưa đến, chỉ hiện tại l� chủ yếu. Như vậy mới thấy sống với hiện tại qu� kh�. Tại sao kh�? V� ch�ng ta quen nu�i dưỡng qu� khứ, vị lai. Lấy qu� khứ l�m kinh nghiệm, lấy vị lai l�m mơ ước. Mơ ước c�i sẽ tới đẹp hơn b�y giờ, n�n thấy n� hấp dẫn, c�n hiện tại th� coi thường.

 

CH�NH VĂN:

 

V� như hư kh�ng kh�ng c� giới hạn, kh�ng thể đo lường.

 

GIẢNG:

 

T�m lặng lẽ, tự s�ng suốt biết r� m� kh�ng suy nghĩ, t�m đ� c� tướng mạo kh�ng? Kh�ng. Bởi kh�ng tướng mạo n�n giống như hư kh�ng, giống như hư kh�ng n�n kh�ng giới hạn, v� vậy n�i n� lớn kh�ng thể đo lường.

 

CH�NH VĂN:

 

Duy một t�m n�y tức l� Phật. Phật c�ng ch�ng sanh kh�ng ri�ng kh�c.

 

GIẢNG:

 

Chỉ c�i t�m lặng lẽ kh�ng động niệm đ� l� Phật. Phật c�ng ch�ng sanh kh�ng kh�c.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ v� ch�ng sanh chấp tướng cầu b�n ngo�i, c�ng cầu c�ng mất, khiến Phật đi t�m Phật, đem t�m bắt t�m, m�n đời c�ng kiếp trọn kh�ng thể được.

 

GIẢNG:

 

Chỉ v� ch�ng sanh chấp tướng cầu b�n ngo�i, chạy theo h�nh thức n�n c�ng cầu c�ng mất. Nghe ch�a n�o thờ Phật đẹp muốn tới chi�m b�i. Nghe ch�a n�o Phật linh cầu g� cũng được, muốn chạy lại cầu. Chỉ cầu c�i b�n ngo�i, m� c�ng cầu c�ng mất. Khiến Phật đi t�m Phật tức sai �ng Phật thật đi t�m �ng Phật giả. �ng Phật thật l� �ng Phật t�m tỉnh gi�c của m�nh, �ng Phật giả l� �ng Phật xi măng ngồi tr�n b�n. C� đau kh�ng? N�i vậy c� người bảo t�i kh�ng lạy Phật nữa, sợ tội v� đem Phật thật lạy Phật giả. Hiểu như vậy c�ng lầm. Tuy biết m�nh c� Phật thật nhưng chưa sống được với Phật thật m� sống với ch�ng sanh, th� th�i đem ch�ng sanh lạy Phật giả, để tỉnh nhớ �ng Phật của m�nh. Lạy Phật giả để nhớ đến Phật thật nơi m�nh, chớ kh�ng phải lạy Phật để cầu xin. Đ� l� � nghĩa người biết tu Phật.

Đem t�m bắt t�m, m�n đời c�ng kiếp trọn kh�ng thể được. Tức đem t�m n�y t�m t�m kh�c, cứ đuổi bắt nhau kh�ng c� ng�y c�ng. Th� dụ ch�ng ta vừa dấy niệm xấu, liền d�ng niệm tốt đuổi niệm xấu đi. Niệm xấu đi rồi chỉ c�n niệm tốt, như vậy cũng l� tu kha kh�. Nhưng vẫn c�n c�i n�y đuổi c�i kia, chỉ khi n�o niệm tốt niệm xấu đều lặng th� c�i thật n� hiện tiền.

 

CH�NH VĂN:

 

Họ chẳng biết, dứt nghĩ qu�n t�nh, Phật tự hiện tiền.

 

GIẢNG:

 

C�u n�y n�i trắng ra, kh�ng giấu giếm g� hết. Họ chẳng biết, dứt nghĩ qu�n t�nh, Phật tự hiện tiền, tức m�nh dứt hết suy nghĩ, dứt hết t�nh to�n th� Phật tự hiện tiền. Qu� vị một ng�y Phật hiện được mấy giờ? Hay mấy ph�t? S�u tiếng ngồi thiền, t�i cho mất hết năm tiếng, �t ra cũng c�n một tiếng Phật hiện, chớ chẳng lẽ kh�ng c� ch�t n�o. Tu l� để ch�ng ta trở về Phật của m�nh, m� muốn trở về t�m Phật th� phải dứt nghĩ, qu�n hết t�nh to�n, Phật mới hiện tiền.

 

CH�NH VĂN:

 

T�m n�y tức l� Phật, Phật tức l� ch�ng sanh.

 

GIẢNG:

 

T�m hiện tiền đ� l� Phật, t�m n�y đ�u c� rời th�n người. Cho n�n Phật tức l� ch�ng sanh.

 

CH�NH VĂN:

 

Khi l�m ch�ng sanh t�m n�y kh�ng giảm, khi l�m chư Phật t�m n�y kh�ng th�m, cho đến lục độ vạn hạnh c�ng đức như h� sa tự sẵn đầy đủ, chẳng nhờ tu m� th�m, gặp duy�n liền thi thố, duy�n dứt liền vắng lặng.

 

GIẢNG:

 

Khi l�m ch�ng sanh t�m n�y kh�ng giảm, khi l�m Phật t�m n�y kh�ng th�m. T�m hằng tri hằng gi�c của m�nh l�c đang l�m ch�ng sanh, n� vẫn hiện tiền, khi ta th�nh Phật n� vẫn hiện tiền, đ�u c� th�m bớt. Cũng ch�nh t�m n�y khi gặp duy�n, n� ứng hiện n�o l� lục độ vạn hạnh c�ng đức như h� sa, tự đầy đủ, kh�ng nhờ tu m� th�m, gặp duy�n liền thi thố, duy�n dứt liền vắng lặng. Cho n�n n�i ch�n kh�ng m� diệu hữu. T�m n�y kh�ng một tướng, một b�ng d�ng n�n gọi l� ch�n kh�ng. Từ ch�n kh�ng đ� t�y duy�n, ứng cơ, lợi vật kh�ng thiếu n�n gọi l� diệu hữu.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu người kh�ng quyết định tin t�m n�y l� Phật, chấp tướng tu h�nh để cầu được c�ng dụng đều vọng tưởng, c�ng đạo tr�i nhau.

 

GIẢNG:

 

Nếu người kh�ng quyết định tin t�m n�y l� Phật, cứ chấp tướng b�n ngo�i tu h�nh để cầu được c�ng dụng, th� những c�ng dụng đ� đều l� vọng tưởng, c�ng đạo tr�i nhau.

 

CH�NH VĂN:

 

T�m n�y tức l� Phật lại kh�ng c� Phật kh�c, cũng kh�ng c� t�m kh�c.

 

GIẢNG:

 

T�m kh�ng dấy niệm, kh�ng suy t�nh, kh�ng so đo v.v� t�m đ� l� Phật, kh�ng c� t�m n�o kh�c nữa. Ch�ng ta thấy một đoạn n�y Tổ Ho�ng B� dạy B�i Hưu rất r� r�ng, kh�ng giấu giếm t� n�o hết. Cũng ng�i Ho�ng B� m� khi L�m Tế tới hỏi th� đ�nh, kh�ng n�i g� hết, c�n B�i Hưu tới hỏi Ng�i lại dạy. Tại sao? Chỗ n�y phải nắm cho vững, nếu kh�ng ch�ng ta hiểu lầm chắc gặp quan, Ng�i nể n�n chỉ dạy, c�n gặp Tăng Ng�i đ�nh.

Nếu đi s�u ch�ng ta sẽ thấy th�m � người xưa. V� B�i Hưu l� quan, kh�ng c� thời giờ, nếu hiểu được đạo �ng sẽ ủng hộ đạo. C�n L�m Tế, Tổ biết l� một người c� tương lai, nếu n�i r� cho nghe th� nhận một c�ch qu� nhẹ n�n dễ qu�n. Như mấy ch� nghe t�i giảng c� thể ngay l�c đ� hiểu, nhưng một l�t qu�n mất, cuối c�ng chỉ nhớ hơn thua tốt xấu phải quấy lăng xăng, m� qu�n c�i thật. Muốn cho con người kỳ đặc kia được chỗ th�m nhập m�i m�i kh�ng qu�n, cho n�n dồn �p bằng c�ch đ�nh.

Hỏi �thế n�o l� đại � Phật ph�p�, Tổ liền đ�nh. Hỏi ba lần, đ�nh ba lần, đ�nh cho kh�c m� v� kh�ng biết lỗi tại chỗ n�o m� ăn đ�n. Nhưng tới chừng gặp ng�i Đại Ngu chỉ n�i một c�ch hết sức nhẹ: �Ho�ng B� thật l� t�m l�o b�, chỉ tột c�ng cho �ng rồi, m� �ng c�n nghĩ c� lỗi kh�ng lỗi�, ngay đ� ng�i L�m Tế nhận ra, thấy r� r�ng. Cho n�n n�i �từ khi nhận được rồi tới sau kh�ng bao giờ qu�n, kh�ng bao giờ mất�. V� vậy t�ng L�m Tế k�o d�i m�i hơn một ng�n năm. Như vậy kh�ng phải v� vị nể B�i Hưu m� Tổ xử sự nhẹ nh�ng, kh�ng v� �c cảm với L�m Tế m� đ�nh đập. H�nh động đ�nh l� g�y một ảnh hưởng s�u đậm l�u d�i cho ng�i L�m Tế. C�n vị cư sĩ kia hiểu bao nhi�u tốt bấy nhi�u, kh�ng sao hết. Nếu đ�nh B�i Hưu, �ng sẽ o�n ch�a, c� lợi g�. Cho n�n hai trường hợp kh�c nhau.

Biết như vậy nhưng sao b�y giờ t�i kh�ng đ�nh mấy ch�? B�y giờ người ta đồn tu thiền đi�n, m� t�i lại đ�nh h�t nữa th� người ta n�i t�i đi�n mất rồi, ai d�m tu thiền. Do đ� t�i phải giảng n�i để mấy ch� l�nh hội được phần n�o hay phần ấy, cộng th�m s�ch vở nghi�n cứu. Từ đ� qu� vị mới tin Phật ph�p hay m� r�ng tu, chớ l�m như người xưa kh�ng thể được. T�y thời cơ, t�y ho�n cảnh m� linh động, ch�ng ta kh�ng thể chấp một bề. C� nhiều người n�i Đức Sơn đ�nh, L�m Tế h�t đ� l� Thiền t�ng Trung Hoa. M�nh b�y giờ cũng tu thiền, tại sao kh�ng biết đ�nh biết h�t g� hết, như vậy l� hiểu lầm. Mỗi trường hợp c� c�i kh�c nhau, ch�ng ta phải linh động, kh�ng thể chấp cứng một b�n.

 

CH�NH VĂN:

 

T�m n�y s�ng sạch v� như hư kh�ng, kh�ng c� một điểm tướng mạo, khởi t�m động niệm liền tr�i ph�p thể, tức l� chấp tướng. Từ v� thủy tới nay kh�ng c� Phật chấp tướng. Tu lục độ vạn hạnh muốn cầu th�nh Phật, tức l� thứ lớp. Từ v� thủy đến nay kh�ng c� Phật thứ lớp.

 

GIẢNG:

 

Ở đ�y cho ch�ng ta thấy lối tu đốn ngộ kh�ng c� thứ bậc, kh�ng từ Bồ-t�t thập t�n, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa v.v� m� đi thẳng. M� l� ch�ng sanh, ngộ l� Phật. Đốn l� đốn chỗ đ�, chỉ c� một bước m� v� ngộ th�i. Nhưng trong c�i ngộ, c� người ngộ cạn, c� người ngộ được s�u, hoặc người ngộ nhưng giữ kh�ng được v� người ngộ m� giữ được, kh�c nhau như vậy. Ở đ�y kh�ng đặt thứ bậc thấp cao, chỉ thẳng c�i t�m thể ch�n thật, ch�ng ta nhận được gọi l� thấy đạo. Thấy đạo rồi cứ thế m� tu.

L�c lặng lẽ m� r� r�ng thường biết, t�m đ� kh�ng c� một ch�t tướng mạo, n�n v� như hư kh�ng. Song hư kh�ng th� v� tri, c�n t�m thể hằng tri, hằng gi�c, kh�c nhau chỗ đ�. Vừa khởi t�m động niệm liền tr�i ph�p thể. V� khi dấy niệm, ch�ng ta chạy theo niệm n�n �ng chủ ẩn mất. Bởi vậy cả ng�y n�i tu m� tu với tướng b�n ngo�i. Nhớ chuyện n�y, nhớ chuyện kia, rồi ph� ph�n người n�y hay người kia dở. Sự tu nằm tr�n tướng sanh diệt th� kh�ng đi tới chỗ ch�n thật. Nếu được điều g� chẳng qua do chấp tướng m� được. N�n ở đ�y n�i �kh�ng c� Phật chấp tướng�. Phật thật th� kh�ng chấp tướng, đ� chấp tướng th� kh�ng phải Phật thật. Ch�ng ta tu kh� v� l�u nay quen hu�n tập nhiều thứ, n�n bu�ng kh�ng được.

Tu lục độ vạn hạnh muốn cầu th�nh Phật, tức l� Phật thứ lớp, nghĩa l� từ Phật thập t�n, Phật thập trụ, Phật thập hạnh cho tới Phật thập địa v.v� đ� l� Phật thứ lớp. Từ v� thủy tới nay Phật l� Phật, chớ kh�ng c� Phật thứ lớp.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ ngộ một t�m lại kh�ng c� một ch�t ph�p c� thể được, đ�y tức l� ch�n Phật. Phật c�ng ch�ng sanh một t�m kh�ng kh�c.

 

GIẢNG:

 

Ngộ được t�m kh�ng dấy niệm đ� th� kh�ng một ch�t ph�p c� thể được, v� t�m ấy kh�ng phải ph�p g� hết. Đ�y tức l� ch�n Phật, Phật c�ng ch�ng sanh một t�m kh�ng kh�c. Phật đ� với Phật của tất cả ch�ng sanh chỉ một Phật t�m, kh�ng c� hai.

CH�NH VĂN:

 

V� như hư kh�ng, kh�ng xen lẫn, kh�ng hư hoại. Như vầng mặt trời soi bốn phương thi�n hạ. Khi mặt trời l�n �nh s�ng chiếu khắp cả thi�n hạ, hư kh�ng kh�ng từng s�ng; khi mặt trời lặn, b�ng tối che tr�m thi�n hạ, hư kh�ng kh�ng từng tối. Cảnh tối s�ng tự đuổi cướp nhau, t�nh hư kh�ng rỗng lặng chẳng đổi.

 

GIẢNG:

 

Th� dụ n�y x�t kỹ thật hay. V� như hư kh�ng, kh�ng c� xen lẫn, kh�ng bị thứ g� l�m hư hoại. Như vầng mặt trời soi bốn phương thi�n hạ, l�c mặt trời l�n nh�n trong hư kh�ng thấy s�ng. Khi mặt trời lặn nh�n trong hư kh�ng thấy tối. Như vậy hư kh�ng c� tối s�ng kh�ng? Nếu n� s�ng th� khi tối lẽ ra c�i s�ng h�a lẫn trong c�i tối, nhưng thực tế kh�ng phải như vậy, n�n biết hư kh�ng kh�ng tối, kh�ng s�ng.

Cảnh tối s�ng tự đuổi cướp nhau, t�nh hư kh�ng rỗng lặng chẳng đổi. Tối đến th� s�ng ẩn, tối ẩn th� s�ng đến, hai thứ cứ đuổi cướp nhau, chớ hư kh�ng kh�ng đổi. Thực tế một ch�t, ch�ng ta thấy khi trong t�m m�nh nghĩ điều thiện th� c�i thiện hiện ra, nghĩ điều �c th� c�i �c hiện ra. Khi nghĩ thiện th� kh�ng c� �c, khi nghĩ �c th� kh�ng c� thiện. T�m ch�n thật giống như hư kh�ng, thiện �c giống như tối s�ng. Tối tới th� s�ng ẩn, s�ng đến th� tối ẩn, kh�ng c�i n�o d�nh với hư kh�ng hết. T�m thể cũng vậy, kh�ng c� thiện �c. Khi hai thứ thiện �c lặng th� t�m thể hiện tiền.

B�y giờ d� s�ng d� tối cũng kh�ng li�n hệ g� với hư kh�ng, nếu kh�ng s�ng kh�ng tối th� cũng l� hư kh�ng. T�m nghĩ thiện, nghĩ �c l� t�m sanh diệt, khi t�m sanh diệt ấy dừng lặng th� t�m thể nguy�n vẹn hiện tiền, kh�ng t�m kiếm ở đ�u. Cho n�n gọi n� l� �Bản lai diện mục�. Diện l� mặt, mục l� mắt, mặt mắt thật của ch�ng ta sẵn c� từ thuở n�o.

 

CH�NH VĂN:

 

Phật v� ch�ng sanh t�m cũng như thế. Nếu xem Phật thấy tướng giải tho�t thanh tịnh, s�ng suốt, xem ch�ng sanh thấy tướng nhơ bẩn tối tăm, người thấy biết như vậy trải qua số kiếp h� sa trọn kh�ng được Bồ-đề, v� chấp tướng vậy.

 

GIẢNG:

 

Người thấy Phật l� giải tho�t thanh tịnh, c�n ch�ng sanh nhơ bẩn tối tăm, như vậy tu trải qua số kiếp h� sa trọn kh�ng được Bồ-đề, v� chấp tướng vậy. Nếu nghĩ nhớ th�n Phật l� thanh tịnh s�ng suốt, th�n ch�ng ta nhơ bẩn tối tăm th� được, chớ t�m Phật v� t�m ch�ng ta, t�m thể đ� kh�ng c� b�n s�ng b�n tối. Chỉ v� ch�ng ta qu�n, chạy theo vọng tưởng n�n thấy c� nhơ bẩn, tối tăm, chớ thể thanh tịnh của Phật v� thể thanh tịnh của ch�ng sanh vốn kh�ng hai. Người n�o thấy hai l� chấp tướng.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ một t�m n�y, trọn kh�ng c� ph�p bằng hạt bụi nhỏ c� thể được, tức t�m l� Phật.

 

GIẢNG:

 

Chỉ một t�m n�y, t�m n�y l� t�m n�o? T�m từ bi phải kh�ng? T�m B�t-nh� phải kh�ng? Tất cả t�m c� danh c� tướng đều kh�ng phải. Chỉ l� t�m thể thanh tịnh sẵn c� của m�nh, kh�ng c� ph�p bằng hạt bụi c� thể được. T�m đ� l� t�m Phật.

 

CH�NH VĂN:

 

Như nay người học đạo kh�ng ngộ t�m thể n�y, b�n ở tr�n t�m sanh t�m, hướng ra ngo�i cầu Phật, chấp tướng tu h�nh đều l� ph�p �c, chẳng phải đạo Bồ-đề.

 

GIẢNG:

 

Như nay người học đạo kh�ng ngộ t�m thể n�y, b�n ở tr�n t�m sanh t�m, nghĩa l� ch�ng ta kh�ng ngộ, kh�ng nhận được t�m ch�n thật, rồi sanh khởi tưởng Phật thế n�y, Phật thế nọ. Đ� l� ở tr�n t�m sanh t�m. Hướng ra b�n ngo�i cầu Phật, chạy nơi n�y nơi kia t�m Phật. Chấp tướng tu h�nh đều l� ph�p �c, tại sao? V� ph�p đ� kh�ng phải l� ph�p ch�n thật, cho n�n n�i l� �c. Chẳng phải đạo Bồ-đề v� đạo Bồ-đề l� đạo gi�c ngộ. Gi�c ngộ c�i g�? Gi�c ngộ t�m Phật của ch�nh m�nh. Phật tử thường c� những sai lầm như nghe ai c� g� huyền b�, lạ l�ng th� ngỡ người đ� đ� đạt đạo. Sự thật đạo l� t�m ch�n thật sẵn c� nơi m�nh. Nhận được t�m đ� l� ngộ đạo, kh�ng nhận được l� m�.

 

CH�NH VĂN:

 

C�ng dường chư Phật mười phương kh�ng bằng c�ng dường một đạo nh�n v� t�m. Tại sao? V� người v� t�m l� kh�ng tất cả t�m, thể như như, trong như c�y đ� kh�ng động kh�ng lay, ngo�i như hư kh�ng chẳng b�t chẳng ngại, kh�ng năng sở, kh�ng chỗ nơi, kh�ng tướng mạo, kh�ng được mất. Người th� hướng m� kh�ng d�m v�o ph�p n�y, sợ lạc v�o kh�ng, kh�ng c� chỗ nơi nương tựa, tr�ng thấy m� rồi thối lui.

������

GIẢNG:

 

Đ�y l� dẫn kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật n�i c�ng dường chư Phật mười phương kh�ng bằng c�ng dường một đạo nh�n v� t�m. C� người thắc mắc c�ng dường chư Phật mười phương nhiều như vậy sao kh�ng bằng c�ng dường đạo nh�n v� t�m? Ở đ�y chỉ cho ch�ng ta thấy, người ph�t t�m c�ng dường chư Phật mười phương l� xoay ra ngo�i t�m Phật cầu Phật, c�n đạo nh�n v� t�m l� ch�nh m�nh đi tới chỗ v� t�m, đ� l� chỗ c�ng dường tuyệt đỉnh. Trở về để thấy �ng Phật nơi m�nh c�n hơn ra ngo�i l�m trăm ng�n Phật sự, gọi l� c�ng dường Phật kh�ng bằng trở về m�nh nhận ch�n được m�nh. Nhận ch�n được m�nh l� v� t�m, v� t�m l� đạo, đạo tức l� Phật. N�n nhớ người học đạo l� trở về m�nh, chớ kh�ng phải chạy ra ngo�i.

V� người v� t�m l� người kh�ng tất cả t�m, thể như như, trong như c�y đ� kh�ng động kh�ng lay, ngo�i như hư kh�ng chẳng b�t chẳng ngại, kh�ng năng sở, kh�ng chỗ nơi, kh�ng tướng mạo, kh�ng được mất. Người th� hướng m� kh�ng d�m v�o ph�p n�y, sợ lạc v�o kh�ng, kh�ng c� chỗ nơi nương tựa, tr�ng thấy m� rồi thối lui. Chỗ n�y n�i ch�ng ta c� hai c�i kh�. Thứ nhất l� l�m sao cho được kh�ng t�m, tức kh�ng tất cả t�m. Kh�ng tất cả t�m rồi lại bị c�i kh� thứ hai l� sợ lạc v�o kh�ng, đ�m ra hoảng hốt. Đ� l� hai c�i kh� của người tu.

Kh� thứ nhất ch�ng ta c� thể qua được, v� tin lặng hết tất cả niệm sẽ gi�c. Khi hết tất cả niệm, sao kh�ng thấy g� hết, sợ rơi v�o kh�ng, đ�m ra hoang mang. Nhưng họ qu�n kh�ng c� g� hết tức l� kh�ng tất cả vọng niệm, kh�ng tất cả lăng xăng m� thường biết r� r�ng. Thường biết r� r�ng l�m sao lạc về kh�ng được? Nếu kh�ng biết như c�y như gỗ th� lạc về kh�ng l� phải. Nhưng kh�ng tất cả niệm, c�n vẫn thấy biết r� r�ng m� n�i lạc về kh�ng th� v� l�. Nhiều người tu tới đ�y muốn thối lui, tưởng thấy h�o quang mới th�ch th�, chớ kh�ng thấy g� hết th� tu l�m chi. Hiểu như vậy thật l� lầm to. Chỗ đ� v� nhất vật, rỗng th�nh, l�m sao thấy c�i g�? Khi t�m ch�ng ta trong s�ng n�n biết n� rỗng th�nh. T�m đang biết rỗng th�nh l�m sao n�i kh�ng biết g� hết!

Chỗ n�y qu� vị tu l�u phải ch� �, nếu kh�ng tới đ�y giật m�nh, sao l�u nay m�nh tu nhiều qu� m� kh�ng c�n g� hết, đ�m ra hoang mang. Kh�ng c�n tất cả niệm, tất cả dấy động, chớ t�m th�nh thang vẫn c�n. Song c� nhiều người th�ch tới đ� c� h�o quang hoặc thấy Phật sờ đầu mới vừa �, kh�ng thấy Phật sờ đầu, kh�ng thấy h�o quang, họ hoảng hốt sợ tu tới đ�y th�nh kh�ng ngơ. Như vậy để biết ch�ng ta tu tới đ�y kh�ng c�n tất cả niệm sanh diệt, chỉ c�n c�i biết rỗng lặng, tr�m khắp kh�ng nơi chốn. C�i biết rỗng lặng đ� l� t�m thể, l� Phật thật của m�nh, chớ kh�ng phải g� lạ. Nhận được như thế rồi, tu thuần thục mới c� diệu dụng v� c�ng, cho n�n n�i ch�n kh�ng m� diệu hữu. Đi tới đ� Phật mới c� tam minh, lục th�ng v.v� C�n ch�ng ta chưa tới đ� m� đ� hoảng muốn thối lui, l�m sao được? Chỗ n�y hết sức quan trọng, người tu kh�ng biết rất dễ lầm lẫn.

 

CH�NH VĂN:

 

So s�nh để t�m thấy biết rộng. Thế n�n người thấy biết như l�ng, người ngộ đạo như sừng.

 

GIẢNG:

 

Sở học nhiều, hiểu biết rộng v� như con nai, l�ng th� nhiều nhưng sừng chỉ c� hai th�i. Ở thế gian học để trở th�nh một người kh�n mất chừng bao nhi�u năm? Học suốt đời suốt kiếp, đủ trăm ng�n mu�n thứ, biết được phần n�y th� kh�ng biết phần kh�c, cho n�n học c�ng rộng thấy biết c�ng nhiều, nhưng chỉ l� l�ng. Như l�ng con nai, ch�ng ta đếm hết kh�ng? Kh�ng, v� qu� nhiều nhưng lại kh�ng c� gi� trị, c�n sừng nh�n thấy hai c�i th�i, đơn giản v� rất c� gi� trị.

 

CH�NH VĂN:

 

Văn-th� xứng l�, Phổ Hiền xứng hạnh. L� l� l� ch�n kh�ng v� ngại. Hạnh l� hạnh l�a tướng kh�ng c�ng.

 

GIẢNG:

 

Ng�i Văn-th� xứng l�, l� tức l� tr�, tr� hợp với l�. Phổ Hiền xứng hạnh, hạnh đi đ�i với nguyện, n�n thường n�i hạnh nguyện. Người l�, người hạnh. Ở đ�y Ng�i n�i l� l� l� g�? L� l� ch�n kh�ng v� ngại, v� tr� tuệ ch�n thật đạt được l� ch�n kh�ng. Hạnh l� hạnh g�? L� hạnh l�a tướng kh�ng c�ng, tất cả tướng đều l�a, đ� l� hạnh. Ch�ng ta b�y giờ n�i tr�, n�i hạnh lại kh�c. Tr� biết nhiều nhưng biết to�n những thứ giả danh giả tướng, hạnh l� l�m tất cả việc nhưng chỉ l� những việc kh�ng thật. Ở đ�y Ng�i trở về t�m, l� l� ch�n kh�ng v� ngại, hạnh l� l�a tướng kh�ng c�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Quan �m xứng đại từ, Thế Ch� xứng đại bi.

 

GIẢNG:

 

Bồ-t�t Qu�n Thế �m xứng với hạnh đại từ, Bồ-t�t Đại Thế Ch� xứng với hạnh đại bi.

 

CH�NH VĂN:

 

Duy-ma l� Tịnh Danh. Tịnh l� t�nh, danh l� tướng. T�nh tướng kh�ng kh�c n�n hiệu l� Tịnh Danh.

 

GIẢNG:

 

Ng�i Duy-ma-cật dịch theo nghĩa chữ H�n l� Tịnh Danh. Tịnh l� tịnh c�i t�nh, c�n Danh l� tướng. Danh tướng đều thanh tịnh, t�nh tướng kh�ng kh�c n�n hiệu l� Tịnh Danh.

 

CH�NH VĂN:

 

C�c vị đại Bồ-t�t ti�u biểu nơi người đều sẵn c�, kh�ng rời một t�m, ngộ đ� tức phải.

 

GIẢNG:

 

N�i tới Bồ-t�t Văn-th� l� n�i l� ch�n kh�ng v� ngại nơi t�m ch�ng ta. N�i Bồ-t�t Phổ Hiền l� n�i hạnh l�a tất cả chấp tướng, chấp b�ng d�ng nơi nội t�m của m�nh. N�i Bồ-t�t Quan �m l� n�i tới l�ng đại từ nơi mỗi ch�ng ta. N�i Bồ-t�t Thế Ch� l� n�i hạnh đại bi của m�nh. N�i tới ng�i Duy-ma-cật l� n�i tới Tịnh Danh, tức t�nh tướng đều thanh tịnh. Như vậy tất cả Bồ-t�t đều biểu trưng sẵn c� nơi mỗi ch�ng ta.

Ch�ng ta thường được học Bồ-t�t Văn-th� l� căn bản tr�, Bồ-t�t Phổ Hiền l� sai biệt tr�. Căn bản tr� l� tr� thấu suốt l� ch�n kh�ng v� ngại, sai biệt tr� l� tr� l�a tất cả tướng kh�ng c�ng. V� c� trăm ng�n thứ tướng sai biệt n�n d�ng sai biệt tr� để dẹp. Tại sao ở đ�y nhắc đến ng�i Văn-th�, Phổ Hiền trước rồi mới tới Quan �m, Thế Ch�? V� đạt được l� ch�n kh�ng v� ngại, l�a c�c tướng v� c�ng, chừng đ� mới ph�t đại bi t�m, đại từ t�m l� Quan �m, Thế Ch�.

Tuy nhi�n, nhận được l� ch�n kh�ng v� ngại, c�n phải đợi ng�i Phổ Hiền. Ng�i Phổ Hiền gạt hết tất cả niệm sanh diệt rồi mới tới chỗ v� t�m. V� t�m, c� người nghe một lần liền được, c� người phải nhiều năm, nhiều th�ng, nhiều đời mới được. Ch�ng ta nhớ Lục tổ Huệ Năng khi ngộ rồi, từ đ� về sau kh�ng cần ngồi thiền như m�nh nữa. Thấy ch� n�o ngồi thiền Ng�i lại nắm lỗ tai thổi. Tại sao vậy? V� Ng�i đi đứng ngồi nằm đều v� t�m, ngồi chi cho thừa. Tổ L�m Tế khi được v� t�m rồi, Ng�i n�i kh�ng cần dụng c�ng m� cũng kh�ng c� một niệm.

Ch�ng ta b�y giờ chưa được chỗ cứu k�nh cho n�n gỡ lần mấy ch� vọng tưởng. Đầu ti�n gỡ mấy ch� xấu trước, lần lần mấy ch� tốt cũng l�a đi lu�n. Chừng n�o l�a hết tốt xấu mới thảnh thơi, nhẹ nh�ng. Đ� l� gốc của sự tu. Nếu kh�ng như vậy sự tu h�nh của ch�ng ta sẽ kh�ng đi tới đ�u.

Hiện giờ ch�ng ta c�n ph�m phu, nếu gi�p được ai th� dễ c� bệnh g�? Gi�p được người liền thấy m�nh c� c�ng ơn, nếu người kh�ng đề cao, kh�ng ca tụng, m�nh kh�ng vui. Được danh th� vui, kh�ng được danh th� buồn, v� ch�ng ta c�n kẹt tr�n danh tướng. Người ngộ được l� ch�n kh�ng, thấu suốt tất cả ph�p sanh diệt, bỏ hết th� t�m rỗng rang s�ng suốt. Người ấy thấy ch�ng sanh m� muội kẹt tr�n h�nh tướng liền khởi t�m từ thương cứu gi�p, thấy họ đi trong v�ng danh lợi, tử sanh khởi t�m bi x�t xa kh�ng nỡ bỏ, n�n nguyện cứu vớt ch�ng sanh. Ch�ng ta b�y giờ lo cứu những c�i c� h�nh c� tướng, c�ng cứu lại c�ng sa lầy.

L�m việc thiện l� tốt, nhưng l�m trong danh trong tướng n�n dễ mắc kẹt. Đ� mắc kẹt th� n� dẫn ch�ng ta đi trong lu�n hồi sanh tử. V� vậy, ch�ng ta c� t�m đại từ, t�m đại bi khi n�o đạt được l� ch�n kh�ng v� ngại, khi n�o hạnh l�a tướng kh�ng c�ng, chừng đ� mới l� đại từ, đại bi ch�n thật. V� vậy đức Quan �m, Thế Ch� được nhắc sau Bồ-t�t Văn-th�, Phổ Hiền. Bồ-t�t Văn-th� đi đầu v� nhận được t�m ch�n thật, sau mới l�a hết vọng niệm, l�a hết c�c tướng. Nếu kh�ng c� tr� tuệ dẫn đầu l�m sao ch�ng ta l�a c�c tướng? Kh�ng nghĩ c�i n�y th� nghĩ c�i kia. Bởi vậy tu thiền kh� nhất l� bu�ng bỏ, niệm n�o cũng bỏ. Nếu kh�ng nhận được m�nh c� t�m thể ch�n thật, rỗng lặng th� kh�ng chắc g� m�nh bỏ trọn vẹn, l�a trọn vẹn được, cho n�n n�i đốn ngộ tiệm tu l� thế. Đốn ngộ l� nhận được t�m thể của m�nh, rồi sau mới l�a bỏ vọng niệm. V� vậy Bồ-t�t Văn-th� đi trước, Bồ-t�t Phổ Hiền đi sau. Được Văn-th�, Phổ Hiền nhập t�m rồi, sau mới tới hạnh của Bồ-t�t Quan Thế �m, Đại Thế Ch�. Bốn vị Bồ-t�t n�y c� sẵn nơi m�nh hết. Hiểu như vậy mới thấy gi� trị tu, mỗi vị Bồ-t�t l� mỗi hạnh c� sẵn nơi m�nh.

Ng�i kết luận: C�c vị đại Bồ-t�t ti�u biểu nơi người đều sẵn c�, kh�ng rời một t�m, ngộ đ� tức phải. Nhận ra được như thế tức l� phải.

 

CH�NH VĂN:

 

Nay người học đạo kh�ng hướng trong t�m m�nh m� ngộ, b�n ở ngo�i t�m chấp tướng theo cảnh đều tr�i với đạo.

 

GIẢNG:

 

Ng�i quở tr�ch ch�ng ta học đạo m� kh�ng hướng v�o trong t�m để ngộ, cứ chạy theo tướng b�n ngo�i. Đ� l� tr�i đạo.

 

CH�NH VĂN:

 

C�t s�ng Hằng, Phật n�i l� c�t. Chư Phật, Bồ-t�t, Th�ch phạm, chư Thi�n đạp giẫm đi qua, c�t cũng chẳng mừng; tr�u, d�, tr�ng, kiến gi�y x�o l�n tr�n, c�t cũng chẳng giận. Tr�n bảo thơm tho, c�t cũng chẳng tham; phẩn uế h�i thối, c�t cũng chẳng gh�t. T�m n�y tức t�m m� kh�ng t�m, l�a tất cả tướng, ch�ng sanh chư Phật kh�ng c� sai biệt, chỉ hay v� t�m liền l� cứu k�nh.

 

GIẢNG:

 

C� b�i kinh đức Phật n�i ch�ng ta tu hạnh nhẫn nhục cũng như c�t vậy. Người giẫm đạp l�n, tr�u lừa ngựa đi qua, c�t kh�ng la rầy. Giả sử c� người đem tr�n bảo hay hoa thơm bỏ xuống, c�t kh�ng mừng. Hoặc ai đ� đem đồ h�i thối quăng tr�n mặt c�t, c�t cũng kh�ng buồn. T�m thể giống như c�t, bởi n� kh�ng niệm l�m sao c� mừng, c� giận. Người sống được với t�m đ� th� cả ng�y kh�ng buồn, kh�ng giận, kh�ng thương, kh�ng gh�t. Ai mắng cũng kh�ng giận, ai khen cũng kh�ng mừng th� c� ngu kh�ng? Thế gian n�i kẻ đ� l� kẻ ngu, nhưng với đạo đ� l� bậc Th�nh. V� kh�ng bị t�m sanh diệt l�i cuốn chạy theo thanh trần b�n ngo�i, n�n thản nhi�n tự tại. T�m đ� l� t�m thể biết tất cả, m� kh�ng dấy niệm thương gh�t giận hờn, n�n đ�u c� vui buồn.

T�m của ch�ng sanh lu�n so s�nh ph�n biệt, vừa c� lời khen liền vui, c� lời ch� liền giận, được th� mừng, mất th� buồn v.v� cả ng�y đổi thay v�n vụt, kh�ng dừng. Vui buồn thương gh�t l� nh�n tạo nghiệp lu�n hồi sanh tử. Nếu kh�ng vui buồn thương gh�t l� nh�n g�? Nh�n giải tho�t sanh tử. C�i kh�ng đi trong lu�n hồi sanh tử kh�ng phải Phật l� g�?

T�m n�y tức t�m m� kh�ng t�m, l�a tất cả tướng, ch�ng sanh chư Phật kh�ng c� sai biệt, chỉ hay v� t�m liền l� cứu k�nh. Ở đ�y bảo v� t�m l� v� t�m n�o? V� t�m l� v� c�i t�m sanh diệt, c�n t�m bất sanh vẫn hiện tiền. Chỉ v� c�i t�m sanh diệt, th� t�m ch�n thật hiển hiện.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo nếu kh�ng thể thẳng đ� v� t�m th� nhiều kiếp tu h�nh trọn kh�ng th�nh đạo, bị c�ng hạnh tam thừa r�ng buộc, kh�ng thể được giải tho�t.

 

GIẢNG:

 

Nếu người học đạo kh�ng thể thẳng đ� v� t�m, d� nhiều kiếp tu h�nh trọn kh�ng th�nh đạo. Bởi v� v� t�m mới được chỗ ch�n thật. Ch�n thật l� g�? L� ch�n kh�ng v� ngại, đ� mới l� gốc th�nh Phật. Nếu ch�ng ta c�n c� một h�nh, một tướng trạng n�o đều l� bị r�ng buộc, kh�ng thể giải tho�t.

Người tu trải qua nhiều bậc v� người ngay một đời n�y nhận ra, chỗ v� t�m như nhau. Qu� vị hay so s�nh người ở ch�a hai chục năm, với người mới v�o đạo một năm, nếu cả hai đều được v� t�m th� cho l� người hai chục năm cao hơn người một năm. Thật ra chỗ được đ� kh�ng kh�c, trừ c�ng tạo lập, gầy dựng, đạo đức mới kh�c. N�i như vậy để ch�ng ta biết rằng tới chỗ v� t�m, d� người tu nhiều năm hay người chỉ tu một thời gian ngắn m� đến được đ� đều như nhau.

 

CH�NH VĂN:

 

Nhưng, chứng t�m n�y c� nhanh chậm. C� người nghe ph�p một niệm liền được v� t�m. C� người đến thập t�n, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng mới được v� t�m. D�i hay ngắn được v� t�m mới trụ, lại kh�ng c� thể tu, kh�ng c� thể chứng, thật kh�ng sở đắc, ch�n thật kh�ng dối. Người chỉ một niệm m� được, c�ng người đến thập địa mới được, c�ng dụng tương đương, kh�ng c� s�u cạn, chỉ l� nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy.

 

GIẢNG:

 

N�i người chứng được ch�n t�m c� nhanh chậm. C� người nghe ph�p một niệm liền được v� t�m. C� người tu đến thập t�n, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa mới được v� t�m. Tại sao thứ bậc kh�c nhau như vậy? Bởi v� nếu ngay đ� trực nhận được bản t�m th� mạnh mẽ bu�ng hết vọng niệm, chỉ c�n một t�m hiện tiền, đ� l� nhanh. Nếu tu từ từ, mỗi ng�y giảm một ch�t, l�u ng�y bước l�n từng cấp bậc, đ� l� chậm. Hai lối đi đến chỗ ngộ kh�c nhau v� t�m mạnh yếu của mỗi người, n�n n�i d�i hay ngắn được v� t�m mới trụ.

Lại kh�ng c� thể tu, kh�ng c� thể chứng, kh�ng sở đắc, ch�n thật kh�ng dối. N�i kh�ng c� thể tu, kh�ng c� thể chứng, kh�ng sở đắc, ch�n thật kh�ng dối, đ� l� lẽ thật. Nghe đến đ�y c� ai vui kh�ng? Tu m� kh�ng tu, kh�ng chứng, kh�ng đắc. Kh�ng tu, kh�ng chứng, kh�ng đắc th� l�m g� đ�y? Nếu bỏ một thời kh�a liền bị rầy, như vậy qu� thầy bắt tu hay kh�ng tu? Bắt tu. Tại sao ở đ�y n�i kh�ng tu? Qu� thầy c�n khuy�n Phật tử cố gắng tu để chứng th�nh Phật quả l� c� chứng, tại sao ở đ�y n�i kh�ng chứng? Nếu tu nhận được bản t�m l� trụ l� đắc, sao n�i v� trụ v� đắc?

Ch�ng ta quen quan niệm chữ tu nghĩa l� sửa, l� chừa bỏ. Những g� xấu ch�ng ta sửa lại th�nh tốt, c�i g� hư ch�ng ta bỏ kh�ng d�ng nữa. Như vậy chừa bỏ c�i xấu để tiến l�n c�i hay c�i tốt, đ� l� tu. T�m thể ch�n thật đ�u c� hư xấu m� sửa bỏ, chẳng qua ch�ng ta qu�n n� n�n b�y giờ chịu kh� nhận n�. Nhận ra, nhớ lại đừng qu�n l� được rồi, kh�ng n�i tu g� cả. Nhưng b�y giờ ch�ng ta lận đận lao đao tr�n đường tu l� v� sao? V� qu�n t�m ch�n thật, cả ng�y chạy theo mấy ch� vọng tưởng th�nh ra lao đao lận đận. Bảo tu l� đừng chạy theo vọng tưởng nữa, chớ đ�u phải tu c�i ch�n thật sẵn c�. Như vậy tr�n mặt ch�n thật kh�ng c� tu, m� tu l� sửa lại đừng chạy theo vọng tưởng đi�n đảo th�i. Kh�ng chạy theo vọng tưởng đi�n đảo l� dừng lại, chớ c� tu sửa g� đ�u.

Như s�n l� một nghiệp ai cũng sợ. Nhiều vị tu năm năm, mười năm vẫn c�n ng�n c�i s�n. L�u l�u bị thi�n hạ k�ch động tr�i � th� mặt m�y đỏ hừng l�n, miệng n�i bậy n�i bạ. Như vậy đ�ng sợ kh�ng? Nhưng qua cơn đi�n kh�ng rồi, ngồi lặng lại t�m xem c�i s�n hồi n�y ở đ�u? T�m kh�ng ra. Nếu n� thật th� khi lặng xuống phải c� chỗ ẩn n�p, nhưng t�m lại kh�ng c�. Khi dấy động th� rối loạn lung tung, khi lặng xuống kh�ng c�n dấu vết, c�i đ� thật hay giả? Giả, vậy m� l�u nay ch�ng ta v� kh�ng đi�n chạy theo n�. Kh�ng đi�n v� kh�ng c� nền tảng tr� tuệ. Người ta kh�ng tr� tuệ n�n n�i bậy, m�nh cũng kh�ng tr� tuệ mới chạy theo c�i bậy ấy. Từ đ� sanh ra đủ thứ hỗn loạn, đủ thứ đau khổ. Ch�ng ta tu l� đừng lầm, đừng m� những lời đi�n kh�ng. Nghe việc g� cũng cười th� c� chuyện g� xảy ra. Nhưng nghe tr�i tai chịu kh�ng nổi liền sanh đủ thứ chuyện. Một người đi�n cộng th�m hai người đi�n, rốt cuộc cả ch�m đi�n hết th� khổ, rồi k�u Ta-b� khổ. Ta-b� khổ tại chỗ n�o?

Nếu ngồi y�n lặng nh�n lại sẽ thấy r� r�ng, tất cả ch�ng ta sống trong đi�n đảo, n�n B�t-nh� gọi l� vọng tưởng đi�n đảo. C�i tưởng đi�n đảo m� cứ chạy theo n�, v� vậy cả đời đi�n đảo. Đi�n đảo từ b� đến gi� đến chết, cho n�n lộn l�n lộn xuống l�m người l�m vật đủ thứ. B�y giờ mỗi lần vọng tưởng dấy l�n, biết n� vọng kh�ng theo, th� hết đi�n đảo. Hết đi�n đảo mới nhớ c�i thật của ch�nh m�nh, như thế tạm gọi l� tu, chớ sự thật c� g� để tu.

N�i tu l� ch�ng ta đừng chạy theo suy nghĩ lăng xăng, sống thật với c�i sẵn c� của m�nh. Kh�ng c� g� để tu th� c� g� để chứng kh�ng? Kh�ng c� c�i tu l�m sao c� c�i chứng. Kh�ng c� c�i chứng n�n cũng kh�ng c� đắc. Do vậy ở đ�y n�i �kh�ng c� thể tu, kh�ng c� thể chứng, thật kh�ng c� sở đắc�. Kh�ng tu, kh�ng chứng, kh�ng đắc nhưng nh� Thiền dạy thường tỉnh, đừng m�, đừng qu�n. Vọng tưởng l�n biết vọng tưởng kh�ng theo th� sống lại c�i thật của m�nh. Đ� l� tỉnh v� nhớ lại gốc nơi mỗi ch�ng ta. Người tu phải kh�o nhận cho ch�n chắn, hiểu thật tường tận th� sự tu h�nh kh�ng kh� lắm.

Ở đ�y n�i �chỉ l� nhiều kiếp luống chịu khổ nhọc vậy�. Tại sao? V� ch�ng ta kh�ng nhận ra c�i thật, cứ chạy theo thứ lớp, cấp bậc h�nh thức th�nh ra nhiều thứ nhọc.

 

CH�NH VĂN:

 

Tạo �c tạo thiện đều l� chấp tướng. Chấp tướng tạo �c luống chịu lu�n hồi; chấp tướng tạo thiện luống chịu nhọc nhằn, thảy đều kh�ng bằng một c�u n�i tự nhận được bản ph�p. Ph�p n�y tức l� t�m, ngo�i t�m kh�ng c� ph�p. T�m n�y tức l� ph�p, ngo�i ph�p kh�ng c� t�m. T�m tự v� t�m, cũng kh�ng v� t�m, đem t�m cầu v� t�m, t�m trở lại th�nh c�. Thầm khế hội m� th�i. Dứt c�c nghĩ b�n, n�n n�i dứt đường ng�n ngữ, diệt chỗ t�m h�nh. T�m n�y l� cội nguồn thanh tịnh. Phật v� người đều c�. C�c lo�i b� bay m�y cựa c�ng chư Phật, Bồ-t�t một thể kh�ng kh�c. Chỉ v� vọng tưởng ph�n biệt tạo c�c thứ nghiệp. Tr�n quả Phật sẵn c�, thật kh�ng một vật, rỗng suốt vắng lặng s�ng sủa, nhiệm mầu an lạc. Phải s�u tự ngộ nhập, thẳng đ� l� phải, tr�n đầy sẵn đủ kh�ng c� thiếu s�t.

 

GIẢNG:

 

Ng�i n�i tạo �c, tạo thiện đều l� chấp tướng. C�u n�y bị người ta phản đối lắm. Tạo �c l� chấp tướng, tại sao tạo thiện cũng chấp tướng? Vậy kh�ng cho l�m thiện sao? Thật ra với c�i nh�n đối đ�i, tạo �c l� tội lỗi, tạo thiện l� phước l�nh. Tạo �c bị lu�n hồi ở địa ngục, ngạ quỉ, s�c sanh. Tạo thiện bị lu�n hồi ở c�i người, a-tu-la, trời. Cả hai đứng về mặt lu�n hồi đều như nhau, chỉ kh�c lu�n hồi ở chỗ khổ v� lu�n hồi ở chỗ �t khổ hơn.

V� dụ được sanh về c�i trời như trời Đế Th�ch, l�u l�u cũng hết phước. Khi hết phước năm tướng suy hiện, l�c đ� khổ hay vui? Cũng khổ như thường. Như vậy tất cả khổ vui trong v�ng lu�n hồi tuy c� kh�c nhưng gốc vẫn l� lu�n hồi. V� vậy ở đ�y n�i tạo �c, tạo thiện đều l� chấp tướng, một b�n bị tướng lu�n hồi trong tam �c đạo, một b�n được tướng lu�n hồi trong tam thiện đạo. N�n n�i l�m thiện th� luống chịu nhọc nhằn v� c�n phải l�n xuống trong c�c đường, kh�ng bằng một c�u n�i tự nhận bản ph�p, ph�p n�y tức l� t�m.

Ng�y nay thi�n hạ chịu tạo thiện để đời sau sung sướng hơn đời n�y. N�i đời sau nhập Niết-b�n thấy xa vời qu�, chỉ muốn sướng hơn đời n�y một ch�t l� vui rồi. Hoặc n�i mất kh�ng c� đời sau th� buồn chết. Do đ� người đời th�ch l�m thiện, kh�ng th�ch tu giải tho�t sanh tử. V� vậy khuyến kh�ch l�m l�nh người ta dễ chấp nhận, c�n bảo tu cho tho�t khỏi sanh tử, người ta kh�ng biết sẽ ra sao n�n kh�ng nghe theo.

Ở đ�y c�c Tổ dạy muốn ra khỏi sanh tử phải nhận được bản ph�p. Ph�p tức l� bản t�m của m�nh. Khi t�m khởi nghĩ xấu đ� l� tạo nghiệp �c, nghĩ l�nh l� tạo nghiệp thiện. Người mới tập tu phải bỏ nghĩ �c, nu�i nghĩ l�nh. Tuy nhi�n nghĩ �c sanh ba đường dữ, nghĩ l�nh sanh ba đường thiện th� cũng l� sanh. C�n c� nghĩ l� c�n tạo nghiệp, chừng n�o t�m kh�ng c�n nghĩ hai b�n, l�c đ� ta vẫn biết m� kh�ng c� niệm, đ� ch�nh l� t�m ch�n thật. Kh�ng c� niệm th� kh�ng c� nghiệp, kh�ng c� nghiệp th� tho�t ly sanh tử. Cho n�n muốn ra khỏi v�ng sanh tử phải dứt cả hai b�n. C�i nghĩ hai b�n đều bu�ng xả hết, rốt cuộc c�n một t�m thể thanh tịnh hằng tri, hằng gi�c, kh�ng bị sanh tử. Kh�ng bị sanh tử th� n� c� hay kh�ng? Kh�ng phải c�, kh�ng phải kh�ng. Tại sao? V� c�n thấy c�, thấy kh�ng cũng l� hai b�n.

Khi hai niệm thiện �c kh�ng nghĩ th� c�n c�i biết kh�ng? Biết r� r�ng l� c�n t�m, chớ đ�u phải kh�ng t�m. T�m ấy kh�ng bị nghiệp dẫn n�n n�i giải tho�t. Điều n�y hết sức cụ thể, kh�ng phải chuyện mơ m�ng thiếu thực tế. Ch�ng ta kh�ng chịu nghiệm x�t, cứ chạy theo nghĩ �c nghĩ thiện, như vậy m� tạo nghiệp lu�n hồi. Lục Tổ n�i hết sức thẳng: � Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, c�i g� l� Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?� C�u n�y Ng�i đ� chỉ trắng ra, kh�ng c�n một ch�t g� giấu giếm. Dứt cả nghĩ thiện, nghĩ �c th� hiện hữu Bản lai diện mục của m�nh, tho�t ly sanh tử.

Như người tu theo hạnh Thanh văn chứng Tu-đ�-ho�n, Tư-đ�-h�m, A-na-h�m, A-la-h�n. Tới A-la-h�n rồi tiến l�n Diệt tận định, kh�ng c�n niệm thiện �c. V� Diệt tận định th� đ�u c�n niệm thiện, niệm �c. R� r�ng kh�ng c� vị A-la-h�n n�o c�n niệm. Diệt tận định l� định kh�ng c�n một ch�t t�m dạng niệm khởi, như vậy mới tới v� sanh, nhập Niết-b�n. Ngay đ�y nếu ch�ng ta kh�ng c�n hai niệm thiện �c th� d� chưa nhập Niết-b�n nhưng cũng như ở Niết-b�n. Qu� vị chịu ở Niết-b�n kh�ng? Ai cũng mơ ước được giải tho�t nhập Niết-b�n, trong khi Niết-b�n ngay trước mắt kh�ng chịu nhận.

Ở đ�y chỉ thẳng t�m sanh diệt tạo nghiệp lu�n hồi, t�m kh�ng sanh diệt đi đến Niết-b�n. Ai c� gan kh�ng th�m nghĩ thiện, nghĩ �c th� gần Niết-b�n rồi, khỏi cần nhập Diệt tận định. Ch�ng ta hiểu cho tường tận mới thấy đường lối của Phật Tổ dạy, tuy kh�c nhau từ cấp bậc, nhưng chỗ cứu k�nh vẫn gặp nhau, kh�ng thể kh�c được. N�n n�i �T�m n�y tức l� ph�p, ngo�i ph�p kh�ng c� t�m�. Thường thường nh� Phật hay d�ng từ �ph�p� để chỉ mu�n sự mu�n vật, m� cũng d�ng từ �ph�p� để chỉ cho ch�nh ph�p của Phật dạy. Tất cả ph�p đều từ t�m n�y m� ra n�n biết t�m n�y tức l� ph�p, ngo�i ph�p kh�ng c� t�m.

T�m tự v� t�m, cũng kh�ng v� t�m, đem t�m cầu v� t�m, t�m trở lại th�nh c�. T�m n�y tự v� t�m. Tại sao? V� đứng tr�n hai mặt, niệm hữu niệm v� hay niệm thiện niệm �c, người ta n�i c� t�m. Hết những niệm đ� th� t�m m� v� t�m. T�m l� sao? V� kh�ng c� niệm m� vẫn biết, vẫn tri gi�c đ� l� t�m. V� t�m l� sao? V� kh�ng c� niệm thiện, niệm �c đ� l� v� t�m. V� t�m m� kh�ng phải kh�ng ngơ, v� t�m tạo nghiệp nhưng t�m ch�n thật vẫn hiện tiền. V� vậy n�i t�m tự v� t�m.

Cũng kh�ng v� t�m l� sao? Bởi v� t�m hằng tri gi�c l�m sao v� được. Đem t�m cầu v� t�m, t�m trở lại th�nh c�, nếu khởi t�m để t�m t�m ch�n thật, t�m ấy trở th�nh c� rồi. Chỗ t�m n�y l� t�m m� v� t�m. Tại sao? V� hằng biết m� kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, kh�ng nghĩ phải, kh�ng nghĩ quấy v.v� đ� l� v� t�m. V� t�m tức l� t�m. Tại sao? V� v� t�m sanh tử hay v� t�m tạo nghiệp, m� c�n t�m ch�n thật. Cho n�n v� t�m m� vẫn l� t�m, kh�ng phải v� t�m l� kh�ng c� g� hết.

T�m dấy niệm t�m thuộc về dấy động, lấy dấy động t�m t�m ch�n thật, l�m sao t�m được? Cho n�n n�i nếu d�ng t�m t�m t�m, t�m trở lại th�nh hữu, nghĩa l� t�m bị t�m trở th�nh c�. Trong mười mục chăn tr�u, ban đầu c�n tr�u c�n chăn, cuối c�ng tr�u mất chăn cũng kh�ng c�n. Nếu c�n một thằng chăn hay c�n con tr�u cũng chưa tới chỗ cứu k�nh, phải cả hai đều mất, mới đi tới chỗ vi�n m�n. V� vậy n�i t�m n�y chỉ thầm khế hội, thầm nhận thầm biết, chớ kh�ng t�m kiếm.

Dứt c�c nghĩ b�n, kh�ng thể nghĩ b�n tới chỗ đ�, n�n dứt đường ng�n ngữ, chỗ ấy kh�ng n�i năng g� được, diệt chỗ t�m h�nh, dứt t�m theo đuổi t�m kiếm. C�u n�n dứt đường ng�n ngữ, diệt chỗ t�m h�nh, l� chỉ cho muốn đến nơi ch�n thật th� kh�ng c�n ng�n ngữ, kh�ng c�n t�m h�nh. Thiền sư Đả Địa khi c� người hỏi �thế n�o Phật�, Ng�i chỉ cầm gậy đập dưới đất một c�i, hỏi �thế n�o ph�p� cũng đập một c�i, kh�ng trả lời g� hết. Tại sao? V� Phật v� ph�p l� chỗ kh�ng c� ng�n ngữ, vừa c� ng�n ngữ liền trật rồi. Ng�i chỉ thẳng nhưng ch�ng ta kh�ng biết n�n kh�ng nhận ra yếu chỉ của Thiền sư.

Ng�i L�m Tế tới hỏi Tổ Ho�ng B� �thế n�o l� đại � Phật ph�p�, ng�i Ho�ng B� kh�ng n�i m� chỉ đập th�i. Bởi v� đ�y l� chỗ ng�n ngữ đạo đoạn, t�m h�nh xứ diệt, b�y giờ phải trả lời l�m sao? Trả lời l� c� ng�n ngữ, th�nh ra Tổ cầm gậy đập. Như vậy thấy t�n nhẫn qu�. Hỏi một c�u c� nghĩa c� l� đ�ng ho�ng, kh�ng chỉ lại đ�nh. Khi L�m Tế tới ng�i Đại Ngu, Ng�i bảo: �Ho�ng B� thật l� t�m l�o b� v� �ng m� chỉ chỗ tột c�ng, �ng c�n nghĩ c� lỗi kh�ng lỗi.� Bởi chỉ chỗ tột c�ng n�n kh�ng thể mở miệng, kh�ng cho h�nh giả suy nghĩ. C� n�i l� c� suy nghĩ, v� vậy Ng�i chỉ đ�nh, đ� l� t�m l�o b�.

B�y giờ t�i cũng đ�nh, kh�ng n�i g� hết, qu� vị chịu kh�ng? Chắc �t th�ng x�ch g�i đi hết. T�m l�o b� kh�ng đ�ng chỗ thi�n hạ cũng kh�ng chịu nổi. Chỉ người đến nơi rồi mới thấy được t�m l�o b�, c�n chưa đến th� thấy t�n nhẫn. Ch�ng ta nh�n h�nh động ấy cũng thật bất b�nh, cho n�n L�m Tế kh�c l� phải. Tức qu� m�, hỏi c� � nghĩa đ�ng ho�ng kh�ng dạy kh�ng trả lời, c�n đ�nh nữa. Đ�u phải đ�nh một lần, ba lần đều như vậy, kh�ng tức sao được. Ch�nh chỗ dồn �p đ�, sau n�y ng�i L�m Tế ngộ được mới truyền b� hơn ng�n năm. Đ� l� thủ thuật đại t�i của những bậc đại Thiền sư, ch�ng ta b�y giờ chỉ l� tiểu Thiền sư n�n kh�ng d�m d�ng thủ thuật ấy.

T�m n�y l� cội nguồn thanh tịnh. Khi kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, kh�ng nghĩ phải, kh�ng nghĩ quấy m� thường biết th� c�i biết đ� thanh tịnh kh�ng? Thanh tịnh. C�i biết thanh tịnh n�y c� người n�o thiếu kh�ng? Nếu kh�ng, tại sao kh�ng d�m nhận, phải chờ nhắc tới nhắc lui! Tại v� qu�n. B�y giờ nhờ thiện hữu tri thức nhắc nhở mới nhớ, mỗi lần nhắc tin th�m một ch�t, nhận ra một ch�t, l�u ng�y thấm dần, chừng đ� mới nhận to�n diện. V� vậy phải chịu cực.

Phật v� người đều c�, chư Phật c� t�m đ�, ch�ng ta cũng c� t�m đ�, cho đến lo�i b� bay m�y cựa c�ng Bồ-t�t đều c� t�m ấy. Tại sao? V� c�c lo�i đều c� t�nh biết.

Chỉ v� vọng tưởng ph�n biệt tạo c�c thứ nghiệp, ch�ng ta c�n vọng tưởng n�n c�n tạo nghiệp, l�n hay xuống th� t�y mỗi người. Muốn hết nghiệp phải hết vọng tưởng. Nếu hết vọng tưởng l�c đ� ch�ng ta kh�ng hay s�ng suốt? Kh�ng vọng tưởng biết nấu cơm ăn kh�ng? Cũng biết vo gạo, biết lặt rau vậy. Đợi vọng tưởng mới biết l�m sao? Khi tất cả ch�ng ta đều hết vọng tưởng th� Thiền viện trở th�nh Cực Lạc rồi, kh�ng cần ai nhắc ai, ai rầy ai, cứ tự do l�m việc theo t�m thanh tịnh bản nhi�n th�i, kh�ng chuyện g� hết. C�n b�y giờ phải nghe rầy tới, rầy lui, nhắc qua, nhắc lại l� tại mỗi người đều khởi vọng tưởng, thi thố vọng tưởng của m�nh. Người n�y vừa vọng tưởng liền muốn thi thố ra, người kh�c cũng thi thố đối lại, riết th�nh cả đ�m c�i nhau ho�i. C�i l� gốc từ vọng tưởng, kh�ng c� c�i n�o ngo�i vọng tưởng hết. Nếu tất cả Tăng Ni sống m� kh�ng vọng tưởng th� c� chuyện g� phải c�i, phải rầy nữa. Thật nhẹ nh�ng biết mấy! N�n con đường th�nh Phật kh�ng phải xa, xa l� chỉ v� vọng tưởng m� ra.

Tr�n Phật quả sẵn c�, thật kh�ng một vật, rỗng suốt vắng lặng s�ng sủa, nhiệm mầu an lạc. Tr�n quả Phật sẵn c� l� sẵn c� c�i g�? Kh�ng một vật g� hết, bản lai v� nhất vật, rỗng suốt vắng lặng, nhiệm mầu an lạc. B�y giờ vị n�o thử trong một ng�y kh�ng vọng tưởng, từ sớm tới chiều ở Thiền đường ra ngo�i l�m c�ng t�c, đừng c� một ch�t vọng tưởng, người đ� c� thể sống được với c�i s�ng suốt rỗng lặng của m�nh kh�ng? Nghe n�i s�ng suốt rỗng lặng, thi�n hạ tưởng tới đ� bế tắc, kh�ng hiểu biết, nhưng kh�ng ngờ đến đ� mới được nhiệm mầu, an lạc. Cho n�n đức Phật nhập định s�u, sau đ� mới chứng Tam minh, Lục th�ng. Từ ch�n kh�ng mới c� diệu hữu. Ch�n kh�ng l� chỗ kh�ng tất cả vật, kh�ng tất cả nghiệp, rỗng suốt vắng lặng, đến đ�y rồi mới c� Tam minh, Lục th�ng tức l� diệu hữu.

Phải s�u tự ngộ nhập, thẳng đ� l� phải, tr�n đầy sẵn đủ kh�ng c� thiếu s�t. Tất cả ch�ng ta ai cũng đủ, cũng sẵn c� t�m Phật, tất nhi�n ai cũng c� quyền l�m Phật. Cho n�n Bồ-t�t Thường Bất Khinh gặp ai cũng b�i, n�i: �T�i kh�ng d�m khinh c�c ng�i, v� c�c ng�i đều sẽ th�nh Phật.� Đ� l� lời Bồ-t�t nhắc kh�o, ch�ng ta c� đủ khả năng th�nh Phật m� qu�n n�n phải nhắc. Nhiều người nghĩ Ng�i n�i c�u đ� với tư c�ch khi�m nhường, nhưng sự thật đ� l� b�i ph�p ngắn, đ�nh thức khả năng th�nh Phật nơi mỗi người, để ch�ng ta vững niềm tin tiến tu, chớ kh�ng phải c�u n�i khi�m nhường.

Học tới đ�y ch�ng ta đ� biết v� sao m�nh đi trong lu�n hồi, l�m sao để ra khỏi sanh tử. Như vậy c� cần coi b�i xem m�nh được giải tho�t kh�ng? Ch�nh thầy b�i cũng lu�n hồi sanh tử, l�m sao coi được. Phải tự thấy m�nh tường tận, nếu đang tạo nghiệp trong sanh tử th� sẽ đi đường sanh tử. Nếu nu�i dưỡng to�n những niệm xấu th� sẽ đi trong ba đường địa ngục, ngạ quỉ, s�c sanh. Nếu thuần niệm thiện, thương người n�y gi�p kẻ kia, th� biết m�nh sẽ đi trong ba đường l�nh. C�n cả ng�y từ sớm tới chiều như ng�y như ngu, t�m thanh tịnh kh�ng một niệm n�o dấy khởi l� biết ngang đ�y dứt đường sanh tử. R� r�ng như vậy khỏi cần hỏi, khỏi cần cầu xin ai hết. Ch�ng ta đủ thẩm quyền để chọn lối đi. Lối thứ nhất xuống ba đường dữ, lối thứ nh� sanh ba đường l�nh, lối thứ ba ra khỏi sanh tử. Mỗi vị tự chọn lấy, kh�ng ai chọn thế được.

V� vậy c�c Thiền sư n�i tới n�i lui, n�i qua n�i lại đều bảo đừng d�nh hai b�n. V� đ� l� gốc của lu�n hồi sanh tử. Chừng n�o hai b�n lặng, d� ch�ng ta ra vườn nhổ cỏ m� cũng l� đang ở trong đại định. Lục Tổ dạy đại định l� l�m tất cả việc m� kh�ng c� niệm d�nh hai b�n. Trong đại định c� tuệ, v� kh�ng dấy động l� định, m� hằng tri hằng gi�c l� tuệ. Đ�y gọi l� định tuệ kh�ng hai. C�n định trước rồi lần lần sanh tuệ, kh�ng gọi l� đại định. Đ� l� chỗ th�m s�u m� người học đạo cần phải biết cho r�, mới th�ng cảm được với người xưa.

 

CH�NH VĂN:

 

Giả sử người tinh tấn tu h�nh trải qua ba v� số kiếp, qua c�c địa vị, c�ng người do một niệm chứng được, chỉ l� chứng c�i sẵn c�. Kỳ thật, tr�n Phật của m�nh kh�ng th�m được một vật g�, xem lại c�ng dụng nhiều kiếp thảy đều l� việc l�m trong mộng. Cho n�n Như Lai n�i: �Ta đối với A-nậu Bồ-đề (V� thượng Ch�nh gi�c) thật kh�ng c� sở đắc, nếu c� sở đắc, đức Phật Nhi�n Đăng ắt kh�ng thọ k� cho ta.�

 

GIẢNG:

 

Nếu tu h�nh theo kinh dạy th� phải trải qua ba v� số kiếp mới được th�nh Phật. Ở đ�y n�i trải qua ba v� số kiếp, qua c�c địa vị thập t�n, thập trụ v.v� c�ng người do một niệm chứng được, chỉ l� chứng c�i sẵn c� của m�nh, kỳ thật tr�n Phật của m�nh kh�ng th�m một vật g�. Chừng đ� mới thấy c�ng phu tu h�nh qua ba v� số kiếp, thảy đều l� việc trong mộng. Bởi v� tu khổ hạnh thế n�y, l�m lợi �ch cho ch�ng sanh thế kia, nhưng tất cả đều l� sanh diệt. V� vậy dẫn kinh n�i: �Ta đối với A-nậu Bồ-đề thật kh�ng c� sở đắc, nếu c� sở đắc, đức Phật Nhi�n Đăng ắt kh�ng thọ k� cho ta.� Bởi v� ch�n thật l� c�i sẵn c� của m�nh, c� th�m bớt g� đ�u m� sở đắc. Nếu c�n sở đắc l� c�n kẹt h�nh tướng, kẹt thứ bậc, Phật đ�u thọ k� cho người kẹt chấp. Chừng n�o ch�ng ta nhận ch�n được chỗ ch�n thật cứu k�nh, Phật mới thọ k�.

 

CH�NH VĂN:

 

Lại n�i: �Ph�p ấy b�nh đẳng kh�ng c� cao thấp, ấy gọi l� Bồ-đề.�

 

GIẢNG:

 

Bởi v� tr�n t�m thể ch�n thật, Phật v� ch�ng sanh kh�ng kh�c n�n n�i b�nh đẳng, ấy gọi l� Bồ-đề.

 

CH�NH VĂN:

 

Tức t�m bản nguy�n thanh tịnh n�y, ch�ng sanh, chư Phật, n�i s�ng, thế giới, c� tướng, kh�ng tướng, khắp cả mười phương thế giới, tất cả đều b�nh đẳng kh�ng c� tướng ta v� kia.

 

GIẢNG:

 

Khi nhận được t�m bản nguy�n thanh tịnh rồi, chừng đ� ch�ng ta thấy ch�ng sanh, Phật cho tới tất cả mu�n ph�p ở thế gian đều kh�ng hai.

 

CH�NH VĂN:

 

T�m bản nguy�n thanh tịnh n�y thường tự tr�n s�ng soi khắp, m� người đời kh�ng ngộ, chỉ nh�n c�i thấy nghe hiểu biết l�m t�m, bị c�i thấy nghe hiểu biết che đậy, cho n�n kh�ng thấy được bản thể tinh minh.

 

GIẢNG:

 

Ch�ng ta c� t�m bản nguy�n thanh tịnh tự tr�n s�ng soi khắp hết, m� kh�ng nhận, kh�ng ngộ được n�, chỉ nhận c�i thấy nghe hiểu biết l�m t�m. V� vậy bị c�i thấy nghe hiểu biết che đậy, n�n kh�ng thấy được bản thể tinh minh. Bản thể tinh minh l� c�i trong s�ng của ch�nh m�nh. Chỗ n�y kh�ng kh�o qu� vị sẽ nhận lầm rằng tất cả c�i thấy nghe hiểu biết kh�ng ảnh hưởng g� với bản thể tinh minh, v� Ng�i n�i chỉ nh�n c�i thấy nghe hiểu biết l�m t�m. Nhưng nhớ, thấy nghe hiểu biết tức l� kiến văn gi�c tri, n� l� giặc m� n� cũng l� t�m m�nh. Đoạn dưới sẽ n�i r�.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ n�n thẳng đ� v� t�m th� bản thể tự hiện. Như vầng mặt trời l�n tr�n hư kh�ng soi s�ng khắp mười phương kh�ng c� chướng ngại. Người học đạo chỉ nhận c�i thấy nghe hiểu biết động t�c thi vi; kh�ng dẹp c�i thấy nghe hiểu biết tức l� con đường t�m bặt dứt kh�ng lối v�o. Chỉ nơi c�i thấy nghe hiểu biết nhận bản t�m. Song bản t�m kh�ng thuộc c�i thấy nghe hiểu biết, cũng kh�ng rời c�i thấy nghe hiểu biết.

 

GIẢNG:

 

N�i đi n�i lại, sở dĩ ch�ng ta lầm l� v� quen c�i thấy nghe hiểu biết l� tội, m� kh�ng nhận ra c�i thấy nghe hiểu biết cũng l� c�ng. Như vậy thấy nghe hiểu biết thế n�o l� tội, thấy nghe hiểu biết thế n�o l� c�ng? Thấy b�nh hoa rồi khởi nghĩ b�nh hoa đẹp xấu đ� l� tội. Thấy b�nh hoa biết m�nh c� c�i hay thấy đ� l� c�ng. Tội hay c�ng đều do nơi m�nh. Nghe n�i nhận c�i thấy nghe hiểu biết, rồi bị n� che đậy n�n bịt mắt, bịt tai� hiểu như vậy l� lầm.

Đ�y n�i chỉ n�n thẳng đ� v� t�m th� bản thể tự hiện, thẳng đ� v� t�m tức l� đối với tất cả sự việc xảy ra chung quanh, ngay đ� ch�ng ta v� t�m. Được v� t�m th� như vầng mặt trời l�n tr�n hư kh�ng, soi s�ng khắp mười phương kh�ng c� chướng ngại. Ngược lại, nếu c� t�m th� như nh�n l�n bầu trời thấy �ng m�y, chiếc m�y bay hay c�nh chim� l�c đ� ta ch� � v�o �ng m�y, m�y bay, c�nh chim� n�n qu�n mất bầu trời th�nh thang. T�m m�nh cũng vậy, tự n� th�nh thang, nhưng vừa dấy niệm, chạy theo niệm th� lặng mất t�m th�nh thang.

Ch�ng ta thường cho c�i nghĩ của m�nh đ�ng, rồi ph� ph�n đủ chuyện. Cả ng�y l�m việc kh�ng c�ng m� si�ng lắm. Hết chuyện n�y tới chuyện kia, thấy người n�y ph� b�nh, thấy người kia ph� b�nh, đủ thứ. Chuyện họ mặc họ, m�nh c� c�i thật đ�y m� kh�ng nhớ. Tu đ�i th�nh Phật, m� Phật ngay đ�y kh�ng nhớ, cứ nhớ hết ch�ng sanh n�y tới ch�ng sanh kh�c, cả ng�y như vậy. �ng Phật ngồi tr�n b�n chắc cười ho�i, mấy ch� lạy t�i, muốn th�nh Phật như t�i, m� cứ chạy theo ch�ng sanh ho�i th� chừng n�o th�nh Phật? R� r�ng ch�ng ta qu� sức dại khờ.

Như người ta đi ngo�i đường th� kệ người ta, mắc mớ g� m�nh m� suy gẫm xem t�m tư người đ� thế n�o, như vậy chắc g� đ�ng. Vậy m� cũng b�m v�o suy gẫm, c� phải dại khờ kh�ng? Hoặc ai v� t�nh hay cố � n�i g� đ�, th� th�i cho qua đi, tội g� phải suy nghĩ c�u ấy khen hay ch� cho cực. Ch�ng ta c� bệnh c�i g� cũng �m v� hết, rồi than khổ than mất ăn mất ngủ. Chuyện ở đ�u cũng cứ �m v� l�m sao ngủ được. Người tu phải s�ng suốt kh�n ngoan, việc g� đ�ng th� l�m, kh�ng đ�ng th� bỏ qua, đừng bận rộn, đừng phiền h�, đừng can thiệp chuyện của người ta. Thấy huynh đệ đi chơi hơi lững thững, v� m�ch qu� thầy lớn �ng đ� vầy kia. Như vậy l� can thiệp chuyện của người ta rồi, m�nh t�n trọng tự do của m�nh, sao kh�ng t�n trọng tự do của người ta. Thấy người cắm đầu l�m việc kh�ng n�i năng g� hết, liền can thiệp v� �người đ� l�m việc buồn qu�, kh�ng n�i c�u n�o hết, thật l� con người kh� hiểu�. Người n�i nhiều th� can thiệp theo n�i nhiều, người kh�ng n�i th� can thiệp theo kh�ng n�i, cả ng�y cứ can thiệp chuyện người ta. Chuyện của m�nh đang rối n�i n�, bảo bỏ đi đừng nghĩ nữa m� kh�ng nghe, cứ can thiệp chuyện người ta, rồi sanh phiền n�o đủ thứ. Đ� l� bệnh chung của ch�ng sanh, ai cũng mắc phải hết. Tu l� gỡ bỏ những đi�n đảo, v� �ch như vậy.

Người tu chỉ một việc l� phải nhớ �ng Phật thanh tịnh của m�nh, c�n tất cả niệm tạo nghiệp h�y bu�ng đi. Tu l� cốt th�nh Phật, cả ng�y giữ cho thanh tịnh trọn vẹn th� phước đức biết mấy, tu mau th�nh Phật biết mấy. Ch�ng ta nhớ c�u kệ của ng�i Trần Nh�n T�ng n�i �đối cảnh v� t�m mạc vấn Thiền�. Đối cảnh l� mắt tai mũi lưỡi th�n � đều tiếp x�c với cảnh m� kh�ng c� niệm ph�n biệt chạy theo, đ� l� v� t�m, đ� l� Thiền, l� đại định. Hiện tại qu� vị ngồi một chỗ ng� xuống m� c�n nhớ chuyện n�y chuyện nọ, như vậy v� t�m chưa? Ngồi y�n ng� xuống m� c�n chưa v� t�m, chớ đừng n�i đối cảnh. Bởi vậy ch�ng ta thấy thật xấu hổ, m�nh chưa xứng đ�ng l� đệ tử của Tổ sư.

Tăng Ni ngồi thiền m� kh�ng v� t�m l� giết chết thời giờ v� �ch. Khi ngồi thiền kh�ng cho ph�p suy nghĩ m� cũng cứ nghĩ, như vậy kh�ng phải giết chết thời giờ l� g�? Cho n�n ch�ng ta tu phải s�ng suốt, qu� b�u thời giờ của m�nh, đừng để hoang ph� một c�ch v� �ch. Trong kinh Lăng Nghi�m, ng�i A-nan hỏi Phật về căn bản phiền n�o v� căn bản Bồ-đề Niết-b�n, bấy giờ mười phương chư Phật �dị khẩu đồng �m�, ph�t ra c�u n�i: �N�y A-nan căn bản phiền n�o l� s�u căn của �ng, m� căn bản Bồ-đề Niết-b�n cũng l� s�u căn của �ng.� Như vậy s�u căn l� c�ng m� s�u căn cũng l� tội. Ch�ng ta phải d�ng s�u căn thế n�o cho n� th�nh căn bản Bồ-đề Niết-b�n, đừng d�ng theo căn bản phiền n�o lu�n hồi sanh tử.

 

CH�NH VĂN:

 

Cốt yếu l� chớ ở tr�n c�i thấy nghe hiểu biết khởi ph�n biệt, cũng chớ ở tr�n c�i thấy nghe hiểu biết m� động niệm, cũng chớ l�a thấy nghe hiểu biết m� t�m t�m, cũng chớ bỏ c�i thấy nghe hiểu biết m� nhận ph�p. Kh�ng tức, kh�ng ly, kh�ng trụ, kh�ng trước, tung ho�nh tự tại đều l� đạo tr�ng.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y n�i hết sức r�. Cốt yếu l� chớ ở tr�n c�i thấy nghe hiểu biết khởi ph�n biệt, v� như vậy l� bệnh. Thấy nghe hiểu biết cứ thấy nghe hiểu biết th�i, đ� l� Thiền, l� trở về bản t�m. Cũng chớ ở tr�n c�i thấy nghe hiểu biết m� động niệm, ph�n biệt l� động niệm. N�n biết lỗi ở c�i thấy nghe hiểu biết liền khởi ph�n biệt, khởi động niệm. Cũng chớ l�a thấy nghe hiểu biết m� t�m t�m, cũng chớ bỏ c�i thấy nghe hiểu biết m� nhận ph�p, ch�nh c�i thấy nghe hiểu biết l� dụng của t�m, n�n kh�ng thể l�a n� t�m t�m. Phật n�i: �Nhất tinh minh sanh lục h�a hợp.� Lục h�a hợp l� s�u căn. Từ một nhất tinh minh khởi ra s�u h�a hợp, th� s�u h�a hợp l� dụng của nhất tinh minh. Nhất tinh minh l� thể. Thấy nghe hiểu biết l� dụng của nhất tinh minh, n� từ thể m� ra. Bỏ dụng t�m thể l�m sao được?

V� dụ ban đ�m c�i nh� c� s�u cửa mở ho�c, ở trong đốt đ�n, �nh s�ng ph�t ra nơi s�u cửa l� �nh s�ng của ngọn đ�n. Nếu nh�n �nh s�ng nơi cửa sổ th� �nh s�ng vu�ng, cửa c�i th� �nh s�ng d�i v.v� Nh�n qua cửa th� thấy khu�n thế n�y thế nọ, nhưng �nh s�ng một hay nhiều? D�ng ph�t ra sai biệt l� v� cửa lớn nhỏ kh�c nhau, chớ �nh s�ng kh�ng hai. Muốn biết c� đ�n đang thắp s�ng trong nh� th� phải từ �nh s�ng ở cửa ph�t ra. Cũng vậy, muốn nhận được t�m thể thanh tịnh sẵn c� của m�nh, phải nhờ s�u căn. Từ s�u căn c� t�nh biết mới nhận ra m�nh c� t�m thể tr�n đầy. Cho n�n tu muốn được Bồ-đề Niết-b�n gốc từ s�u căn. Thấy cảnh vật biết vậy th�i chớ kh�ng động niệm, đ� l� Bồ-đề Niết-b�n. Nếu thấy người thấy cảnh khởi niệm suy nghĩ rồi thị phi, tham đắm v.v� đ� l� gốc của sanh tử.

Cho n�n ở đ�y n�i �kh�ng tức, kh�ng ly�, kh�ng tức nơi s�u căn m� cũng kh�ng rời s�u căn. �Kh�ng trụ, kh�ng trước� kh�ng ở một chỗ, kh�ng d�nh mắc một chỗ. Như vậy mới gọi �tung ho�nh tự tại đều l� đạo tr�ng�. Phật, Tổ n�i kh�ng kh�c, đều chỉ dạy đến nơi đến chốn chỗ trọng t�m, ngay cốt tủy cho ch�ng ta thấy.

 

CH�NH VĂN:

 

Người đời nghe n�i �chư Phật đều truyền t�m ph�p�, cho l� tr�n t�m ri�ng c� một ph�p c� thể chứng c� thể thủ, b�n đem t�m t�m ph�p.

 

GIẢNG:

 

Người đời nghe n�i chư Phật đều truyền t�m ph�p, như Phật truyền t�m ph�p cho ng�i Ca-diếp v.v� rồi cho rằng tr�n t�m c� một ph�p, đ� l� lầm lẫn. Ph�p đ� tức l� t�m, n�i truyền t�m tức l� ấn chứng người đ� nhận bản t�m đ�ng như thật, như Phật đ� nhận, ấy gọi l� truyền, l� ấn chứng.

 

CH�NH VĂN:

 

Họ kh�ng biết t�m tức l� ph�p, ph�p tức l� t�m, kh�ng thể đem t�m lại cầu t�m, trải ng�n mu�n kiếp trọn kh�ng c� ng�y được.

 

GIẢNG:

 

Ph�p v� t�m thật sự kh�ng hai. T�m tức l� ph�p, ph�p tức l� t�m. Nếu ch�ng ta lầm kh�ng nhận ra t�m đ�, đi t�m cầu ph�p, tưởng ph�p l� c�i g� kh�c, kh�ng ngờ cũng l� t�m của m�nh. Như vậy t�m cầu đến mu�n kiếp kh�ng biết chừng n�o mới được.

 

CH�NH VĂN:

 

Đ�u bằng ch�nh nơi đ� v� t�m, tức l� bản ph�p.

 

GIẢNG:

 

Như vậy th� hết sức gọn, ch�nh nơi đ� v� t�m. Nơi đ� v� t�m l� sao? Tức l� ngay khi duy�n theo cảnh, duy�n theo trần m� m�nh kh�ng dấy niệm chạy theo, kh�ng dấy niệm d�nh mắc th� ngay đ� l� v� t�m. M� v� t�m l� bản ph�p, tức ph�p gốc.

 

CH�NH VĂN:

 

Như người lực sĩ qu�n hạt ch�u tr�n tr�n, hướng ra ngo�i t�m kiếm, chạy khắp mười phương trọn kh�ng thể được. Người tr� chỉ cho, liền đ� tự thấy bản ch�u như cũ.

 

GIẢNG:

 

Th� dụ như lực sĩ tr�n tr�n c� hạt ch�u. Người ấy bỗng qu�n hạt ch�u tr�n tr�n, cứ chạy đầu n�y đầu nọ t�m hạt ch�u. Nếu c� người tr� thấy r� hạt ch�u tr�n tr�n, chỉ cho anh ta, bấy giờ anh rờ l�n tr�n liền đụng hạt ch�u, khỏi phải chạy t�m kiếm nữa. Trong nh� Thiền, c�c Thiền sư d�ng đủ c�ch chỉ hoặc Phật tức l� �ng, hoặc Phật ở dưới g�t ch�n �ng v.v� N�i thế nghe dễ qu� người ta kh�ng chịu, n�n phải n�i Phật c� ba mươi hai tướng tốt, t�m mươi vẻ đẹp, thần th�ng n�y kia họ mới chịu. Như vậy chạy t�m cực khổ hay đứng một chỗ nhận ra cực khổ? Vậy m� thi�n hạ chịu c�i khổ, kh�ng chịu ngồi lại nhận ra, rốt cuộc t�m ho�i kh�ng ra chỗ ch�n thật.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo m� bản t�m m�nh kh�ng nhận l� Phật, b�n hướng ra ngo�i t�m cầu khởi c�ng dụng hạnh, y thứ lớp chứng, nhiều kiếp cần cầu hằng kh�ng th�nh đạo.

 

GIẢNG:

 

Ở tr�n l� v� dụ, đến đ�y hợp ph�p. Người học đạo qu�n mất bản t�m giống như ch�ng lực sĩ qu�n h�n ngọc. Kh�ng nhận m�nh l� Phật, ch�ng lực sĩ kh�ng nhận ngay nơi tr�n c� h�n ngọc. Chạy ra ngo�i t�m cầu, d�ng đủ thứ c�ng, đủ thứ hạnh để tu, nhiều kiếp cần cầu m� hằng kh�ng th�nh đạo, v� cầu b�n ngo�i l�m sao được.

 

CH�NH VĂN:

 

Kh�ng bằng thẳng đ� v� t�m, quyết định biết tất cả ph�p vốn kh�ng sở hữu, cũng kh�ng sở đắc, kh�ng y kh�ng trụ, kh�ng năng kh�ng sở, kh�ng động vọng niệm, liền chứng Bồ-đề.

 

GIẢNG:

 

Như vậy chi bằng ch�ng ta được v� t�m, v� t�m th� quyết định tất cả ph�p vốn kh�ng c� sở hữu, kh�ng năng, kh�ng sở. Kh�ng sở hữu th� kh�ng sở đắc, kh�ng chỗ y trụ, kh�ng động vọng niệm, đ� l� Bồ-đề. Bồ-đề kh�ng phải chuyện ở xa, m� Bồ-đề l� gi�c, l� Phật của m�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Đến khi chứng đạo, chỉ l� chứng bản t�m. Phật nhiều kiếp dụng c�ng đều l� tu su�ng, như lực sĩ khi được ch�u chỉ được hạt ch�u sẵn tr�n tr�n, kh�ng quan hệ g� sức chạy ra ngo�i t�m cầu.

 

GIẢNG:

 

Lực sĩ chạy cả ng�y cả th�ng cả năm t�m hạt ch�u. Nhưng tới chừng rờ lại th� thấy hạt ch�u sẵn tr�n tr�n. Như vậy anh c� kể nhờ c�ng chạy đầu n�y g�c nọ m� được ch�u kh�ng? Chạy chỉ uổng c�ng ph� sức th�i, chớ thật hạt ch�u tr�n tr�n sẵn. Ch�ng ta cũng vậy, chạy nơi n�y, t�m nơi kia cho thấy Phật, thấy đạo. Thật ra Phật, đạo ngay nơi m�nh kh�ng ở đ�u xa hết. Chịu kh� nhận th� được, muốn nhận �ng Phật của m�nh phải l�m sao? Phải v� t�m.

Ở đ�y n�i v� t�m, song t�i n�i kh�c một ch�t l� �nhớ t�m�. N�i v� t�m với n�i nhớ t�m c� m�u thuẫn kh�ng? V� l� v� t�m n�o? Nhớ l� nhớ t�m n�o? V� t�m l� kh�ng c� t�m lăng xăng đi�n đảo vọng tưởng. Nhớ t�m l� nhớ nhận ra m�nh c� �ng Phật sẵn. Ch�ng ta v� m� kh�ng phải v�, vẫn c� t�m ch�n thật hiện tiền. Nhớ t�m ch�n thật hiện tiền, đ� l� ch�ng ta nhận ra �ng Phật của ch�nh m�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Cho n�n Phật n�i: �Ta đối với A-nậu Bồ-đề thật kh�ng sở đắc.� Sợ e người kh�ng tin n�n dẫn ngũ nh�n đ� thấy, năm c�u đ� n�i, ch�n thật kh�ng dối l� đệ nhất nghĩa đế.

 

GIẢNG:

 

Đ�y dẫn trong kinh Kim Cang. Phật v� sợ người kh�ng hiểu hoặc hiểu lầm n�n n�i: �Ta đối A-nậu Bồ Đề thật kh�ng sở đắc�, v� c�i đ� đ� sẵn rồi c�n g� sở đắc. Nhưng sợ người kh�ng hiểu n�n Phật n�i về ngũ nh�n v.v� cho tới năm c�u, ch�n thật kh�ng dối l� đệ nhất nghĩa.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo chớ nghi tứ đại l�m th�n, tứ đại kh�ng ng� (kh�ng thường c�n v� l�m chủ), ng� cũng kh�ng chủ, cho n�n biết th�n n�y kh�ng ng� cũng kh�ng chủ. Chớ nghi năm ấm l�m t�m, năm ấm kh�ng ng� cũng kh�ng chủ, cho n�n t�m n�y kh�ng ng� cũng kh�ng chủ. S�u căn, s�u trần, s�u thức h�a hợp sanh diệt cũng lại như vậy. Mười t�m giới đ� kh�ng th� tất cả đều kh�ng, chỉ c� bản t�m th�nh thang trong sạch.

 

GIẢNG:

 

Ng�i chỉ cho ch�ng ta ph�n biệt th�n n�y do tứ đại giả hợp n�n kh�ng c� ng�, tức kh�ng c� chủ thể. Nhưng đa số người đời kh�ng chịu như thế, v� thấy th�n r�ng r�ng đ�y m� n�i v� ng� l�m sao chấp nhận. Bởi ch�ng ta m� n�n lời dạy của bậc gi�c ngộ kh� nhận được. Tứ đại l� đất nước gi� lửa, th�n n�y do bốn chất đ� kết hợp lại th�nh. Đ� bốn chất kết hợp th�nh, l�m sao c� chủ. N�i tứ đại l� nghi�ng về sắc th�n, n�i ngũ uẩn th� gồm cả th�n v� t�m. Sắc thuộc về th�n, thọ tưởng h�nh thức thuộc về t�m.

X�t th�n năm uẩn, đứng về mặt sắc chất n� kh�ng c� chủ thể, kh�ng c� ta. Đứng về t�m, thọ tưởng h�nh thức cũng kh�ng c� chủ. Hai thứ th�n v� t�m đều kh�ng c� chủ thể. N�i t�m t�i đang nghĩ thế n�y thế kia, đ� đều l� thọ tưởng h�nh thức m� ra. Th�n v� t�m ch�ng ta đang chấp đ�y đều kh�ng c� chủ thể, kh�ng thật m� ch�ng ta b�m v�o đ� cho l� thật. Ở đ�y c� người n�o can đảm d�m n�i t�i tin chắc th�n n�y kh�ng phải t�i v� t�m lăng xăng kh�ng phải t�i kh�ng? Chỉ n�i t�i hiểu mang m�ng, tin sơ sơ vậy, chớ kh�ng d�m tin chắc, kh�ng d�m hiểu thật. Bởi v� kh�ng can đảm nhận n� giả dối, tạm bợ, cứ ngỡ n� l� thật m�nh. Cho n�n nghe n�i n� giả dối tạm bợ đau lắm, kh�ng ai chịu nổi.

Người m� m� chỉ c�i thật cho, họ chịu nhận kh�ng? Kh�ng chịu nhận. Họ kh�ng chịu nhận, người chỉ c� buồn c� giận kh�ng? Chỉ bao nhi�u lần, nhắc bao nhi�u phen m� cứ n�i thật ho�i, c� tức kh�ng? Nếu ph�m phu th� tức, c�n Phật kh�ng tức. Phật thương ch�ng sanh ngu m� nhiều đời, nghe tai b�n n�y lọt qua tai b�n kia. Bởi vậy n�n cứ lạy Phật kh�c ho�i, Phật l�m sao được b�y giờ.

S�u căn, s�u trần, s�u thức h�a hợp sanh diệt cũng lại như vậy. Mười t�m giới đ� kh�ng th� tất cả đều kh�ng, chỉ c� bản t�m th�nh thang trong sạch. Mười t�m giới tức s�u căn, s�u trần, s�u thức. S�u căn l� th�n, s�u trần l� cảnh, s�u thức l� t�m. Ba c�i n�y đều l� nh�n duy�n h�a hợp, l� tướng sanh diệt. Như vậy mười t�m giới kh�ng thật, chỉ c� bản t�m th�nh thang trong sạch mới thật th�i. Mười t�m giới l� nh�n duy�n h�a hợp m� sanh n�n n� giả hợp, c�n t�m th�nh thang trong sạch đ� biết được mười t�m giới giả hợp, n� mới l� thật, th�nh thang, trong sạch. Biết s�u căn, s�u trần, s�u thức như vậy nhưng cả ng�y ch�ng ta đuổi theo căn trần thức m� kh�ng chịu nhận ra c�i ch�n thật của m�nh.

Chư Tổ r�t gọn chỉ thẳng, nghe hơi kh� hiểu nhưng thấm được th� thấy đơn giản v� c�ng. Ngồi lại học lời giảng của chư Tổ thế n�y mới thấy ba tạng kinh qu� nhiều c�ng phu, c�n ở đ�y thật l� đơn giản. C�c ng�i đem hết t�m can chỉ thẳng cho m�nh thấy, kh�ng để ch�ng ta phải lang thang trong Tam Tạng gi�o điển mất thời giờ. Đ�i khi nhiều qu�, rộng qu� ch�ng ta kh�ng biết ph�p n�o chỉ thẳng cội nguồn cho m�nh nhận ra để tu.

B�y giờ l�m sao cho �ng Phật của m�nh hiển lộ ra? Chỉ v� t�m th� Phật hiển lộ th�i. Chỉ cần nỗ lực thực hiện đ�ng như lời chỉ thẳng của chư Tổ, nhất định ch�ng ta sẽ th�nh c�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

C� thức thực, c� tr� thực. Th�n tứ đại l� bệnh ghẻ đ�i, t�y thuận nu�i dưỡng kh�ng sanh tham đắm, gọi l� tr� thực. Bu�ng lung �, chấp m�i vị vọng sanh ph�n biệt, chỉ cầu m�n ngon kh�ng sanh nh�m ch�n, gọi l� thức thực.

 

GIẢNG:

 

Thức thực l� chạy theo vọng t�nh, th�ch m�n ngon vật lạ, thỏa m�n mong cầu của th�n. Tr� thực l� nhận ch�n lẽ thật của cuộc sống, chẳng hạn như ch�ng ta ăn uống chẳng qua l� mượn phương tiện, rồi phải trả. Nhờ mượn mới sống n�n biết r� ăn l� vay mượn kh�ng thật. Đ�y gọi l� tr� thực.

Th�n tứ đại l� bệnh ghẻ đ�i, t�y thuận nu�i dưỡng kh�ng sanh tham đắm, gọi l� tr� thực. Ch�ng ta biết th�n tứ đại lu�n lu�n đ�i hỏi, thiếu nước n� đ�i nước, thiếu cơm n� đ�i cơm, thiếu c�i g� n� đ�i c�i nấy. Nhiều khi n� đ�i qu� sức chứa của n� nữa. N�n người ta thường n�i ăn bằng con mắt, thấy l� th�m m� sức chứa kh�ng nổi. Người chạy theo đ�i hỏi ngon dở của thức ăn, để thỏa m�n th�n gọi l� thức thực. Nếu biết th�n hư giả tạm bợ, t�y thuận nu�i dưỡng n� qua ng�y để sống tu h�nh, l�m lợi �ch ch�ng sanh gọi l� tr� thực.

Bu�ng lung �, chấp m�i vị vọng sanh ph�n biệt, chỉ cầu m�n ngon kh�ng sanh nh�m ch�n, gọi l� thức thực. Tại sao cầu m�n ngon gọi l� thức thực? Bởi v� t�m m�n ngon vật lạ để thưởng thức, thưởng thức l� ph�n biệt ch� khen ngon dở. V� vậy người bu�ng lung � m�nh, đ�i hỏi những m�n ngon gọi l� thức thực.

 

CH�NH VĂN:

 

Thanh văn l� nh�n tiếng được ngộ, n�n gọi l� Thanh văn. Bởi kh�ng r� tự t�m, n�n tr�n lời dạy sanh hiểu biết, hoặc nh�n thần th�ng, hoặc nh�n tướng tốt, ng�n ngữ vận động, nghe c� Bồ-đề Niết-b�n tu h�nh trải qua ba v� số kiếp mới th�nh Phật đạo, đều thuộc đạo Thanh văn, gọi đ� l� Thanh văn.

 

GIẢNG:

 

Sao gọi l� Thanh văn? Chữ thanh hay thinh l� tiếng, nh�n nghe tiếng Phật dạy m� ngộ đạo, gọi l� Thanh văn. Thời Phật c�n tại thế, Ng�i n�i ph�p Tứ đế cho n�n năm anh em Kiều-trần-như nghe, sau khi nghe xong năm vị liền ngộ đạo, chứng quả A-la-h�n, gọi l� Thanh văn. Kh�ng ngộ tự t�m, chỉ nh�n lời n�i của Phật m� hiểu, nh�n hiểu rồi tu h�nh được th�nh đạo, gọi l� Thanh văn.

 

CH�NH VĂN:

 

Phật duy chỉ thẳng ch�ng r� tự t�m xưa nay l� Phật, kh�ng c� một ph�p c� thể được, kh�ng c� một hạnh c� thể tu, đ�y l� đạo v� thượng, đ�y l� ch�n như Phật.

 

GIẢNG:

 

Tất cả ph�p tu thứ bậc từ thấp l�n cao, như từ Tu-đ�-ho�n đến A-la-h�n, hay Bồ-t�t từ thập t�n, thập trụ cho tới thập địa v.v� đều l� ph�p t�y thuận t�m của ch�ng sanh. Chỗ n�y Phật chỉ thẳng cho ch�ng ta nhận r� tự t�m, tự t�m xưa nay l� Phật, kh�ng c� một ph�p n�o kh�c c� thể được, kh�ng c� một hạnh n�o kh�c c� thể tu, đ�y gọi l� đạo v� thượng, l� ch�n như Phật. Ở đ�y ch�ng ta đi thẳng một con đường Phật thừa, m� th� l�m ch�ng sanh, gi�c th� trở về với Phật. Vậy Phật l� chỉ cho t�m thể thanh tịnh sẵn c� của m�nh. Gọi ch�n như Phật tức l� Phật ch�n thật như như sẵn c� nơi m�nh, đi thẳng con đường đ� gọi l� đạo v� thượng, kh�ng g� hơn.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo chỉ sợ một niệm c�, tức c�ng đạo ngăn c�ch, niệm niệm kh�ng tướng, niệm niệm v� vi, tức l� Phật.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y Tổ n�i đơn giản v� c�ng: Người học đạo chỉ sợ một niệm c�, tức c�ng đạo ngăn c�ch. Một niệm nghĩ về ph�p Tứ đế, về Thập nhị nh�n duy�n c� c�ng đạo xa c�ch kh�ng? Niệm nghĩ về Tứ đế, về Thập nhị nh�n duy�n c� lỗi lầm g�? Vậy m� ở đ�y Ng�i lại n�i dứt kho�t c� một niệm th� c�ng đạo ngăn c�ch.

Niệm niệm kh�ng tướng, niệm niệm v� vi, tức l� Phật. V� ch�ng ta l�u nay hầu hết lấy niệm để tu. Niệm thiện để tu ph�p l�nh, niệm ch�nh ph�p để tu giải tho�t. Niệm ch�nh ph�p như niệm g�? Niệm Tứ đế, Tứ niệm xứ v.v� Tứ niệm xứ c� niệm kh�ng? Tứ niệm xứ hoặc Mười hai nh�n duy�n hoặc niệm Phật cũng l� niệm. C�n c� niệm để tu th� niệm đ� c� phải cứu k�nh kh�ng? Kh�ng, v� Phật như như của m�nh kh�ng động. Nếu động kh�ng phải như. C� niệm th� đ� động rồi, n�n kh�ng phải như, v� vậy c� động l� c�ch với Phật. Chỗ n�y kh� nếu qu� vị kh�ng nắm vững dễ bị lầm lắm.

Kinh nghiệm bản th�n t�i thấy rất r�. Như m�nh ngồi b�nh tĩnh s�ng suốt kh�ng dấy một niệm n�o, l�c đ� m�nh đang sống với c�i g�? B�nh tĩnh s�ng suốt m� kh�ng dấy nghĩ, l�c đ� m�nh sống với t�m ch�n như. Vừa nhớ Phật, nhớ Bồ-t�t, nhớ A-la-h�n th� c�i như động liền. Hoặc nhớ ph�p n�y, ph�p kia t�m vẫn động như thường, động th� mất như.

Vừa c� một niệm dấy l�n, d� niệm đ� qu� cũng đ� c�ch với Phật của m�nh rồi. Nếu niệm dấy l�n, ch�ng ta biết n� ảo giả bỏ đi th� trở về �ng Phật của m�nh. Dấy niệm nhớ về đức Phật ra đời l�m sao, l�c đ� gần Phật hay xa Phật? Gần đức Phật Th�ch-ca m� xa �ng Phật của m�nh. Niệm ch�nh c�n kh�ng thể được, huống l� niệm t�. V� vậy đến chỗ cuối c�ng niệm niệm đều phải v� vi tức kh�ng sanh, kh�ng diệt. Nếu được niệm niệm v� vi, kh�ng một h�nh ảnh để m�nh d�nh mắc, đ� l� Phật. Nếu c� một niệm n�o d�nh mắc th� đ� c�ch xa Phật rồi.

Ngồi y�n tĩnh t�m trong s�ng nghe thấy r� r�ng, ai cũng cho l� qu� tầm thường, nhưng kh�ng ngờ c�i tầm thường ấy ch�nh l� phi thường. Ch�ng ta kh�o tu th� biết r� Phật kh�ng xa. Bởi v� Phật l� t�nh hằng gi�c hằng tri của m�nh. Hằng gi�c hằng tri ch�nh l� �ng Phật gốc. Sống được với Phật gốc mới c� diệu dụng, tam minh, lục th�ng v.v� Nếu m�nh qu�n gốc th� mu�n đời kh�ng được tam minh, lục th�ng. Người tu thời nay muốn được tam minh, lục th�ng hơn l� trở về �ng Phật gốc của m�nh, phải vậy kh�ng? N�i tam minh, lục th�ng nghe oai qu�, c�n hằng tri hằng gi�c m� kh�ng nghĩ suy g� hết, nghe khờ qu�.

Ch�nh chỗ n�y, c�c Thiền sư khi đạt đạo rồi như ng�y, như ng�, c�c ng�i khờ khạo với c�i thức ph�n biệt chia chẻ của thế gian, nhưng đang sống với thể thanh tịnh của m�nh. Sống với thể thanh tịnh th� c� vẻ khờ khạo, sống với thức ph�n biệt thế gian th� lanh lắm. Cho n�n lanh kh�ng phải l� c�i hay đối với đạo, m� c�i thật mới gần với đạo. Ch�ng ta tu phải l�m sao t�m y�n tĩnh lặng lẽ, kh�ng chạy theo những lăng xăng lộn xộn b�n ngo�i, đ� mới l� t�m Phật, c�n c�ng chạy th� c�ng xa.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo nếu muốn th�nh Phật th� tất cả Phật ph�p thảy đều kh�ng dụng học, chỉ học kh�ng cầu, kh�ng đắm trước.

GIẢNG:

 

Người học đạo muốn th�nh Phật, th� tất cả Phật ph�p thảy đều kh�ng dụng học, kh�ng học Tam Tạng gi�o l� m� chỉ học kh�ng cầu kh�ng đắm trước. Năm chữ �kh�ng cầu kh�ng đắm trước�, hết sức giản đơn. C�n học Tam Tạng cả đời chưa rồi. Nếu kh�ng cầu kh�ng đắm trước th� t�m ch�ng ta y�n tịnh, kh�ng d�nh mắc g� hết. Đ� l� như, l� trở về ch�n thật. Nhớ kh�ng cầu kh�ng đắm trước đủ rồi. C�n học Tam Tạng gi�o điển Kinh, Luật, Luận v.v� n�i thao thao bất tuyệt m� cầu danh cầu lợi th� c�i học đ� thật chưa, được th�nh Phật kh�ng?

Ở đ�y n�i thẳng trọng t�m của sự tu. Tất cả kinh điển dạy đều hướng về chỗ chỉ cho ch�ng ta thấy r�, kh�ng tham cầu kh�ng đắm trước tất cả ph�p thế gian, tất cả h�nh tướng thế gian, đ� l� thật học đạo. C�n nếu đắm trước h�nh tướng thế gian, d�nh mắc c�c ph�p, đ� l� ch�ng ta bị kẹt chớ kh�ng phải học đạo. Hiểu như vậy mới thấy gốc của sự tu.

 

CH�NH VĂN:

 

Kh�ng cầu tức t�m kh�ng sanh, kh�ng đắm trước tức t�m kh�ng diệt, kh�ng sanh kh�ng diệt tức l� Phật.

GIẢNG:

 

Tại sao kh�ng cầu? Kh�ng cầu để t�m kh�ng mong mỏi, kh�ng dấy động muốn c�i n�y, c�i kia. T�m kh�ng dấy động l� t�m kh�ng sanh. Do kh�ng sanh n�n kh�ng diệt. T�m kh�ng sanh kh�ng diệt l� t�m Phật. Vậy chỉ c� bốn chữ �kh�ng cầu, kh�ng đắm� đủ cho ch�ng ta tu rồi. C� c�i g� ch�ng ta nắm giữ m� kh�ng bị v� thường đ�u. Đắm danh mất danh th� khổ, đắm sắc mất sắc th� khổ. Do vậy t�m kh�ng cầu kh�ng đắm l� t�m gần với Phật.

 

CH�NH VĂN:

 

T�m mu�n bốn ng�n ph�p m�n đối trị t�m mu�n bốn ng�n phiền n�o, chỉ l� m�n gi�o ho� tiếp dẫn. Vốn kh�ng tất cả ph�p, l�a tức l� ph�p, người biết l�a l� Phật. Chỉ l�a tất cả phiền n�o l� kh�ng ph�p c� thể được.��

GIẢNG:

 

Ng�i dẫn trong kinh Phật n�i tới t�m mu�n bốn ng�n ph�p m�n. Tại sao Phật chia chẻ nhiều như vậy? Bởi v� để đối trị ch�ng sanh c� bệnh n�o th� Phật c� ph�p ấy. Như s�n c� mấy bệnh? N�ng l� một, động tới nổi n�ng l� s�n. Kế đ� hận, hận l� th�. Nếu n�ng giận m� kh�ng thỏa m�n c�i giận đ� th� th�nh th�. Ngo�i th� c�n hờn nữa. Như vậy chỉ s�n th�i đ� c� ba bốn ph�p rồi.

Khi n�ng giận Phật dạy phải tu ph�p nhẫn, chận đừng cho n� nổi dậy. Khi hận th� Phật dạy tu ph�p xả, bỏ đi. Mỗi một bệnh c� mấy thứ ph�p, v� bệnh qu� tế nhị. Như trong tham cũng c� nhiều ph�p đối trị. Tham t�i tu ph�p g�, tham sắc tu ph�p g�, tham danh tu ph�p g�, tham lợi tu ph�p g�, mỗi thứ tham c� một ph�p tu. Bệnh căn bản rồi tới chi ly nữa, bệnh n�o cũng trăm ng�n thứ. V� vậy Phật phải dạy nhiều ph�p để đối trị.

T�m mu�n bốn ng�n ph�p m�n l� để trị t�m mu�n bốn ng�n phiền n�o. Sở dĩ Phật chia nhiều ph�p để trị nhiều bệnh l� v� muốn gi�o ho�, tiếp dẫn ch�ng sanh. Ai c� bệnh g� th� d�ng thuốc đ� trị cho l�nh từ từ, chớ chưa l�nh tận gốc. Đang sốt th� uống thuốc cảm cho hạ sốt, c� c�c thứ thuốc l� để trị c�c thứ bệnh, đến thuốc cuối trị hết tất cả bệnh. Ở đ�y Ng�i n�i ph�p cuối c�ng l� g�?

Vốn kh�ng tất cả ph�p, l�a tức l� ph�p, người biết l�a l� Phật. Chỉ một chữ l�a th�i. Tại sao ch�ng ta phải l�a? Bởi v� tất cả ph�p đều kh�ng thật, ph�p kh�ng thật theo giữ n� l�m sao được, cho n�n phải l�a. Người n�o biết l�a, kh�ng chấp, người đ� l� Phật. Kh�ng ph�p c� thể được nghĩa l� tất cả cảnh m�nh l�a th� kh�ng d�nh, tất cả phiền n�o dấy l�n m�nh l�a th� kh�ng c�. Bỏ tất cả ch�ng ta sẽ thấy �ng Phật hiện tiền. C�u chuyện nh� thiền n�i c� vẻ th� một ch�t l� ng�i Ho�ng B� khen đệ tử của M� Tổ: �Dưới M� Tổ c� t�m mươi bốn thiện hữu tri thức, nhưng người ỉa chảy đầy đất chỉ c� ng�i Qui T�ng.� Ỉa chảy đầy đất l� xả hết tu�n sạch hết. N�i nghe th� nhưng lối khen đ� rất ch� l�. Người biết l�a biết xả hết l� ng�i Qui T�ng, c�n những vị kh�c tuy cũng l�a nhưng l�a chưa thật sạch.

Ở đ�y chỉ một chữ l�a l� tất cả đều hết. V� l�a th� kh�ng d�nh, kh�ng c�n. Trong kh�ng d�nh phiền n�o, ngo�i kh�ng d�nh c�c ph�p, đ� l� Phật hiện tiền.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo muốn được biết yếu quyết th� chớ ở tr�n t�m để một vật n�i l� Phật.

 

GIẢNG:

 

Người học đạo muốn được biết yếu quyết, tức chỗ quyết định trọng yếu, th� chớ ở tr�n t�m để một vật n�i l� Phật. Nghĩa l� sao? Tức l� tr�n t�m của m�nh, m�nh tưởng c� �ng Phật đang ngự, như vậy chưa phải thật. Tại sao? T�m thanh tịnh l� Phật, m�nh lại để �ng Phật danh tự đ� �ng Phật thật của m�nh. Chỗ n�y thật r� nhưng cũng thật kh�. Ai kh�ng c� gan, kh�ng d�m nhận th� kh�ng thấy được.

 

CH�NH VĂN:

 

Ch�n ph�p th�n v� như hư kh�ng. Đ�y l� dụ ph�p th�n tức hư kh�ng, hư kh�ng tức ph�p th�n.

 

GIẢNG:

 

Ch�n ph�p th�n v� như hư kh�ng. Tại sao? Qu� vị kiểm lại thử xem khi ch�ng ta ngồi b�nh an, kh�ng nghĩ suy th� c�i biết c� kh�ng? Gi� thổi nghe m�t, người đi thấy r�, c�i biết b�ng bạc đ� c� h�nh tướng kh�ng? N� kh�ng h�nh tướng n�n như hư kh�ng. Ph�p th�n như hư kh�ng, kh�ng trụ chỗ n�o, tr�m khắp mọi nơi. Đ�y l� dụ ph�p th�n tức hư kh�ng, hư kh�ng tức ph�p th�n.

 

CH�NH VĂN:

 

Người thường bảo ph�p th�n đầy khắp hư kh�ng, trong hư kh�ng gồm chứa ph�p th�n. Họ kh�ng biết ph�p th�n tức hư kh�ng, hư kh�ng tức ph�p th�n.

 

GIẢNG:

 

Người thường bảo ph�p th�n đầy khắp hư kh�ng. C�u n�i đ� đ�ng hay sai? Ph�p th�n c� d�ng g� m� đầy? Hư kh�ng c� chỗ chứa kh�ng? Kh�ng tướng m� n�i đầy th� lấy đ�u biết đầy. Cho n�n từ �đầy� thuộc về h�nh tướng, Ng�i kh�ng chấp nhận. Nếu n�i đầy th�nh ra hư kh�ng giống như c�i vựa, c�n ph�p th�n đổ v�o vựa. Đ� l� lối n�i kh�ng r� r�ng. Ở đ�y Ng�i bảo ph�p th�n kh�ng tướng n�n đồng với hư kh�ng.

Họ kh�ng biết ph�p th�n tức hư kh�ng, hư kh�ng tức ph�p th�n. Bởi hai thứ ấy c�ng kh�ng h�nh kh�ng tướng, kh�ng ph�n biệt, kh�ng t�ch rời, n�n n�i �tức�.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu quyết định n�i c� hư kh�ng th� hư kh�ng chẳng phải ph�p th�n. Nếu quyết định n�i c� ph�p th�n th� ph�p th�n chẳng phải hư kh�ng.

 

GIẢNG:

 

Nếu n�i c� hai thứ ri�ng biệt th� ph�p th�n kh�ng phải l� hư kh�ng, hư kh�ng kh�ng phải l� ph�p th�n.

 

CH�NH VĂN:

 

Chớ khởi hiểu hư kh�ng th� hư kh�ng tức ph�p th�n. Chớ khởi hiểu ph�p th�n th� ph�p th�n tức hư kh�ng. Hư kh�ng c�ng ph�p th�n kh�ng c� tướng kh�c.

 

GIẢNG:

 

Hai chỗ n�y chỉ kh�c bởi khởi hiểu v� kh�ng khởi hiểu th�i. Kh�ng khởi hiểu th� ph�p th�n, hư kh�ng kh�ng t�ch rời. Vừa khởi hiểu th� đ� c� sai lầm.

Chớ khởi hiểu ph�p th�n th� ph�p th�n tức hư kh�ng. Chớ khởi hiểu hư kh�ng th� hư kh�ng tức ph�p th�n. Nếu khởi hiểu hư kh�ng, khởi hiểu ph�p th�n th� hư kh�ng v� ph�p th�n đ� bị cụ thể bằng niệm của m�nh, th�nh ra kh�ng đ�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Phật c�ng ch�ng sanh kh�ng c� tướng kh�c. Sanh tử c�ng Niết-b�n kh�ng c� tướng kh�c. Phiền n�o c�ng Bồ-đề kh�ng c� tướng kh�c. L�a tất cả tướng tức l� Phật.

 

GIẢNG:

 

Tới chỗ cuối c�ng Ng�i bảo Phật c�ng ch�ng sanh kh�ng c� tướng kh�c. N�i như vậy c� thực tế kh�ng? B�y giờ nh�n trong giảng đường n�y, xem ch�ng sanh với ch�ng sanh c� tướng kh�c kh�ng? C� người gầy, c� người b�o, c� người đen, c� người trắng� đủ thứ hết, l�m sao kh�ng c� tướng kh�c. Vậy m� ở đ�y n�i Phật c�ng ch�ng sanh kh�ng c� tướng kh�c, đ� l� căn cứ tr�n chỗ ch�n thật của m�nh, chớ kh�ng phải căn cứ tr�n giả tướng tạm bợ. Tướng giả tạm của ch�ng sanh th� c� sai biệt, nhưng t�m ch�n thật như như th� ai cũng như nhau.

B�y giờ t�i chỉ ngọn đ�n s�ng, ai cũng thấy s�ng. Khi ch�ng ta nh�n bức tranh thấy m�u sắc kh�ng kh�c nhau. Như vậy c�i thấy kh�ng kh�c, c�i nghe kh�ng kh�c, nhưng kh�c c�i ph�n biệt. Ph�n biệt người nhanh kẻ chậm, người so s�nh kh�o, người kh�ng biết so s�nh v.v� sai biệt chỗ đ�, chớ thật ra c�i biết ban đầu kh�ng kh�c nhau. V� vậy n�i Phật, ch�ng sanh kh�ng c� tướng kh�c.

Sanh tử c�ng Niết-b�n kh�ng c� tướng kh�c. Nếu ngay trong sanh tử m� m�nh nhận được c�i thật, đ� l� Niết-b�n, đ�u c� g� kh�c.

Phiền n�o c�ng Bồ-đề kh�ng c� tướng kh�c. Phiền n�o Bồ-đề cũng đều l� giả danh, l�m g� c� tướng kh�c.

L�a tất cả tướng tức l� Phật. Như vậy muốn l�m Phật kh� hay dễ? Giản đơn qu�, c� một chữ �l�a�. L�a tất cả tướng tức l� chư Phật. Ch�ng ta học đạo bao l�u rồi? Thuộc chữ th� mau m� l�m được kh�ng mau. Thuộc chữ �ly� dễ qu�, nhưng h�nh được chữ �ly� thật kh�. Nếu n�i ở miệng th� chưa thuộc, như mấy con s�o bắt chước người n�i vậy th�i, chớ kh�ng c� gi� trị. Chừng n�o n�i ly th� tất cả đều ly, ai chửi cũng ly, khen cũng ly, l�c n�o cũng ly hết. Đ� l� chuyện hết sức dễ m� cũng hết sức kh�.

 

CH�NH VĂN:

 

Ph�m phu chấp cảnh, đạo nh�n chấp t�m. T�m cảnh cả hai đều qu�n mới l� ch�n ph�p.

 

GIẢNG:

 

Ph�m phu chấp cảnh, cứ chạy theo cảnh n�y đẹp, cảnh kia xấu, cảnh n�y bền chắc, cảnh kia tạm bợ v.v�

Đạo nh�n chấp t�m. Chấp t�m l� sao? Người tu phần nhiều hay chấp t�m. Biết cảnh ở ngo�i hư giả, nhưng cho t�m nghĩ thiện, nghĩ �c, t�m đang tr� ch�, đang tụng kinh, đ� l� t�m ch�n thật. Một b�n chấp cảnh, một b�n chấp t�m, hai b�n chấp c� kh�c nhưng đều l� chấp hết. Muốn trị chữ �chấp� th� d�ng chữ �ly�. Ly th� kh�ng chấp cảnh, kh�ng chấp t�m n�n kh�ng phải ph�m phu, kh�ng phải đạo nh�n. Kh�ng phải ph�m phu, kh�ng phải đạo nh�n th� l� g�? L� Phật. Chỉ một chữ ly th�i, hết sức đơn giản. Bởi vậy n�n T�m cảnh cả hai đều qu�n mới l� ch�n ph�p.

 

CH�NH VĂN:

 

Qu�n cảnh vẫn dễ, qu�n t�m rất kh�.

 

GIẢNG:

 

Cảnh ở ngo�i ch�ng ta bỏ dễ hơn l� t�m. C�i t�m cho l� s�ng suốt, t�m hiểu đ�ng v.v� bỏ thật l� kh�.

 

CH�NH VĂN:

 

Người kh�ng d�m qu�n t�m, sợ rơi v�o chỗ kh�ng, kh�ng sờ m� đến.

 

GIẢNG:

 

C� người tu sợ bu�ng hết kh�ng c�n g� n�n kh�ng d�m bỏ t�m. L�c n�o cũng giữ t�m của m�nh đang biết, đang thấy, đang nghe, đang nghĩ v.v� cho đ� l� t�m thật. Tổ bảo người n�y kh�ng biết qu�n t�m.

 

CH�NH VĂN:

 

Kh�ng biết kh�ng vốn chẳng kh�ng, chỉ một ch�n ph�p giới.

 

GIẢNG:

 

Ch�ng ta kh�ng biết rằng c�i kh�ng ấy vốn chẳng phải kh�ng. Tại sao? V� n� l� ch�n ph�p giới, tức ph�p giới ch�n thật, l� chỗ kh�ng chấp t�m kh�ng chấp cảnh.

 

CH�NH VĂN:

 

T�nh linh gi�c n�y từ v� thủy đến nay tuổi đồng với hư kh�ng, chưa từng sanh, chưa từng diệt, chưa từng c�, chưa từng kh�ng, chưa từng uế, chưa từng tịnh, chưa từng ồn n�o, chưa từng vắng lặng, chưa từng b�, chưa từng gi�, kh�ng chỗ nơi, kh�ng trong ngo�i, kh�ng số lượng, kh�ng h�nh tướng, kh�ng sắc tượng, kh�ng �m thanh, kh�ng thể t�m, kh�ng thể cầu, kh�ng thể d�ng tr� tuệ m� biết, kh�ng thể d�ng ng�n ngữ m� nhận, kh�ng thể d�ng cảnh vật m� hội, kh�ng thể d�ng dụng c�ng m� đến.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y Ng�i chỉ t�m ch�n thật của ch�nh m�nh. T�m ch�n thật ch�nh l� t�nh linh gi�c của m�nh từ v� thủy tới giờ, tuổi n� đồng với tuổi hư kh�ng. Hư kh�ng bao nhi�u tuổi? Hư kh�ng kh�ng c� tuổi. Tại sao? Hư kh�ng l� hư kh�ng, n� kh�ng c� ng�y đ�m, kh�ng năm th�ng n�n kh�ng c� tuổi. Ng�y đ�m năm th�ng, đặt th�nh thời gian l� căn cứ tr�n v�ng quay của tr�i đất, hư kh�ng c� quay kh�ng? Hư kh�ng kh�ng quay, kh�ng quay l�m sao c� năm th�ng, kh�ng c� năm th�ng l�m sao c� tuổi.

T�nh linh gi�c cũng kh�ng c� tuổi. Tại sao? V� t�nh linh gi�c kh�ng phải l� c�i sanh c�i diệt. Sanh diệt l� nghiệp tướng của ch�ng sanh, chớ t�nh gi�c kh�ng sanh kh�ng diệt. Qu� vị tự nghiệm lại sẽ thấy r�, c�i hằng tri gi�c của m�nh chưa từng dấy niệm. Khi ch�ng ta dấy niệm tức l� chạy theo niệm sanh diệt, tạo nghiệp l�nh dữ, t�i sanh v�o chỗ l�nh dữ. Nghiệp l�i k�o t�nh linh gi�c c�ng đi v�o chỗ tốt, chỗ xấu. Khi sanh ra rồi, t�y nơi đặt thời gian kh�ng gian, chớ t�nh linh gi�c chưa từng sanh chưa từng diệt, l�m sao c� tuổi, l�m sao gi� chết, l�m sao c� sắc tượng. T�nh linh gi�c bất sanh bất diệt n�n l� Niết-b�n v� sanh.

Th�n sanh diệt tạm bợ mấy chục năm, người đời qu� trọng vui tươi khi n� c�n khỏe, chớ n� sắp hoại diệt th� khổ. Th�n hoại đi nhưng t�nh linh gi�c kh�ng hoại. Đức Phật chỉ cho ch�ng sanh nhận ra m�nh c� t�nh linh gi�c để tho�t ly sanh tử. Nếu đứng tr�n t�nh gi�c nh�n lại th�n n�y, chẳng kh�c n�o một con ph� du tr�n mặt nước, mới chạy lăng xăng đ� liền chết. Trong kinh Phật hay trong lời c�c Tổ thường v� dụ t�nh gi�c c� sẵn nơi ch�ng ta như hoa sen trong l� lửa. Lửa ch�y hừng hực m� n� vẫn tươi, kh�ng v� lửa m� bị t�n hoại. Đ� l� chỉ cho ngay nơi th�n t�m v� thường n�y, t�nh gi�c vẫn sẵn đ� kh�ng g� l�m hoại, kh�ng g� chi phối được n�.

Thường ch�ng ta kh�ng nhận t�nh gi�c, m� chỉ nhận th�n t�m lăng xăng thiện �c, chạy theo n� để tạo nghiệp sanh tử. Chừng n�o kh�ng chấp th�n n�y l� l�a ng�, kh�ng chạy theo niệm sanh diệt l� l�a t�m vọng tưởng. L�a hai thứ chấp đ� l� trở về t�nh thật. Ngược lại cứ chạy đuổi theo hai thứ ấy th� bảo đảm ch�ng ta sẽ sanh tử li�n mi�n. Thế n�n đức Phật thương ch�ng sanh, n�i ph�p suốt bốn mươi ch�n năm kh�ng ch�n, Ng�i thấy m�nh m� muội qu� mới r�ng n�i cho biết, vậy m� cho tới b�y giờ ch�ng ta vẫn chưa biết hết, chỉ biết ch�t ch�t th�i.

 

CH�NH VĂN:

 

Chư Phật, Bồ-t�t c�ng tất cả h�m linh xuẩn động đồng t�nh đại Niết-b�n n�y. T�nh tức l� t�m, t�m tức l� Phật, Phật tức l� ph�p.

 

GIẢNG:

 

Mấy chữ �tức� n�y thật l� kh�. T�nh tức l� t�m, tại sao t�nh tức l� t�m? T�nh n�i đủ l� t�nh gi�c. Gi�c tức l� biết, biết tức l� t�m. Cho n�n t�nh tức l� t�m. T�m tức l� Phật. C�i biết gi�c đ� l� Phật n�n t�m tức l� Phật. Phật tức l� ph�p, t�nh gi�c đ� l� ph�p ch�n thật tr�m khắp cả ph�p giới, chớ kh�ng phải kh�ng ngơ, n�n Phật tức l� ph�p.

 

CH�NH VĂN:

 

Một niệm l�a ch�n đều l� vọng tưởng.

 

GIẢNG:

 

Niệm l�a ch�n l� niệm g�? Như ch�ng ta đang ngồi an tịnh, kh�ng nghĩ kh�ng suy l�c đ� l� ch�n. Vừa dấy niệm nghĩ c�i g� đ� l� niệm l�a ch�n. Ch�ng ta tu để cầu ch�n, m� lu�n lu�n khởi niệm l�a ch�n. V� ch�n l� phẳng lặng m� dấy l�n l� động rồi, tức l�a c�i ch�n thật. Cho n�n Ng�i n�i �một niệm l�a ch�n đều l� vọng tưởng�, người tu phải chiếu soi vọng tưởng cho n� lặng xuống, trở về thể ch�n thật.

 

CH�NH VĂN:

 

Kh�ng thể đem t�m lại t�m t�m, kh�ng thể đem Phật lại cầu Phật, kh�ng thể đem ph�p lại cầu ph�p.

 

GIẢNG:

 

Ch�ng ta phải hiểu Phật l� t�nh gi�c sẵn của m�nh n�n kh�ng thể khởi niệm hiểu biết, cũng kh�ng thể khởi đi cầu Phật v� ch�nh t�m lặng lẽ hằng gi�c hằng tri l� Phật. Kh�ng thể đem ph�p cầu ph�p. Như vậy t�m, Phật, ph�p l� c�i kh�ng thể cầu.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo thẳng đ� v� t�m, thầm khế hội m� th�i.

 

GIẢNG:

 

Người học đạo kh�n ngoan, thấu hiểu ngay đ� đừng dấy niệm khởi nghĩ l� v� t�m. V� t�m th� khế hội được t�nh linh gi�c. Nếu c� t�m nghĩ suy, c� t�m t�m kiếm l� mất t�nh linh gi�c, r� r�ng như vậy. Như ch�ng ta muốn nh�n thấy mặt nước hồ phẳng th� cứ y�n lặng nh�n n�, chớ lấy cục đ� dội xuống để t�m mặt hồ phẳng lặng th� mặt hồ phẳng mất ngay.

Ch�ng ta đang l� Phật, khởi niệm cầu Phật th� mất Phật rồi. T�m đang phẳng lặng s�ng suốt l� Phật, b�y giờ ch�ng ta dấy niệm cầu Phật, chẳng kh�c n�o �m đ� quăng xuống mặt hồ phẳng để thấy mặt hồ phẳng. Thấy được kh�ng? Đ� l� lầm lẫn của ch�ng sanh nhiều đời. V� vậy Tổ n�i: Người học đạo thẳng đ� v� t�m, thầm khế hội m� th�i. Ngay đ� bu�ng tất cả niệm th� tự khế hội, chớ kh�ng c� g� lạ.

 

CH�NH VĂN:

 

Nghĩ t�m tức l� sai, lấy t�m truyền t�m đ�y l� ch�nh kiến.

 

GIẢNG:

 

Lấy t�m m� khởi nghĩ về t�m đ� l� sai. Lấy t�m truyền t�m l� ch�nh kiến. V� sao lấy t�m truyền t�m l� ch�nh kiến? V� t�m người truyền v� t�m người được truyền đều thanh tịnh. Hai b�n th�ng cảm nhau n�n n�i lấy t�m truyền t�m. Như Tổ Huệ Khả tr�nh với Tổ Đạt-ma: �Bạch Ho� thượng, con dứt hết c�c duy�n.� Tổ Đạt-ma bảo: �Coi chừng rơi v�o kh�ng.� Tổ Huệ Khả thưa: �R� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng được.� Tổ Đạt-ma bảo: ��ng như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế.� Đ� l� lấy t�m truyền t�m. ��ng như thế� l� t�m �ng kh�ng c�n d�nh c�c duy�n, r� r�ng thường biết. Ta cũng thế, t�m Phật cũng thế. Truyền như vậy mới l� ch�nh kiến, chớ n�i truyền t�m ấn bằng c�ch l�m ph�p g� đ� để truyền t�m l� trật lất, xa lắm rồi, kh�ng phải lẽ thật.

 

CH�NH VĂN:

 

D� dặt chớ hướng ra ngo�i, chạy theo cảnh, nhận cảnh l�m t�m l� nhận giặc l�m con. V� c� tham, s�n, si n�n lập giới, định, tuệ. Vốn kh�ng c� phiền n�o th� đ�u c� Bồ-đề. Cho n�n Tổ sư n�i: �Phật n�i tất cả ph�p v� trừ tất cả t�m, ta kh�ng tất cả t�m đ�u d�ng tất cả ph�p.�

 

GIẢNG:

 

Ng�i dạy ch�ng ta đừng chạy ra ngo�i t�m cầu, nhận cảnh l�m t�m l� nhận giặc l�m con. Nếu thấy cảnh rồi cho cảnh n�y đẹp, cảnh kia tốt v.v� để khen ch�, l� t�m đang duy�n theo cảnh, đ� l� nhận giặc l�m con.

Tại sao Phật n�i giới, định, tuệ? V� ch�ng sanh c� tham s�n si n�n Phật n�i giới định tuệ. Nếu ch�ng sanh hết tham s�n si th� cần giữ giới, cần thiền định tr� tuệ nữa kh�ng? Hết tham s�n si th� khỏi g� cả. Người n�o tham s�n si nhiều giữ giới phải nhiều, người n�o tham s�n si �t giữ giới �t, người n�o hết tham s�n si th� khỏi giữ giới. Giới định tuệ l� để kềm t�m, b�y giờ t�m lặng rồi c�n g� nữa m� kềm, th� giới định tuệ cũng kh�ng d�ng. Cho n�n ở đ�y Ng�i dẫn lời vốn kh�ng c� phiền n�o th� đ�u c� Bồ-đề. Phiền n�o l� m� lầm khổ sở, c�n Bồ-đề l� gi�c ngộ thanh tịnh. C� gi�c ngộ thanh tịnh v� c� m� lầm đau khổ, nếu hết m� lầm đau khổ th� cũng kh�ng n�i đến gi�c ngộ thanh tịnh l�m g�.

Lục Tổ n�i: Phật n�i tất cả ph�p v� trừ tất cả t�m, ta kh�ng tất cả t�m đ�u d�ng tất cả ph�p. Mới nghe dường như Tổ kh�ng cần tới gi�o l�, như vậy c� ng� mạn kh�ng? Kh�ng. V� như b�c sĩ tới kh�m bệnh, những người bệnh thấy mừng v� họ cần xem bệnh xin thuốc. C�n người kh�ng bệnh, khi b�c sĩ tới, n�i �t�i kh�ng cần�. N�i kh�ng cần chẳng qua v� kh�ng bệnh chớ kh�ng phải xem thường b�c sĩ, v� vậy kh�ng c� lỗi. B�c sĩ c� gi� trị đối với người bệnh. Cũng vậy, ph�p của Phật c� gi� trị đối với người c�n phiền n�o. Nếu hết phiền n�o th� ph�p của Phật cũng để d�nh đ�, chớ đ�u d�ng l�m g�. Người n�o nhiều t�m vọng tưởng, Phật lấy ph�p để trị, Tổ kh�ng tất cả t�m đ�u d�ng tất cả ph�p, điều n�y r� r�ng như vậy, chớ Tổ kh�ng c� ng� mạn.

Ch�ng ta b�y giờ c�n t�m lăng xăng nhiều qu� n�n phải học ph�p nhiều, chừng n�o t�m lặng hết th� khỏi học, khỏi ngồi thiền lu�n. Nếu kh�ng được thế th� th�i chịu kh� ngồi thiền, học ph�p l�u ng�y sẽ thấm. Bởi v� gi�o l� l� phương tiện trị t�m bệnh cho ch�ng sanh. Người ta chế thuốc l� v� người bệnh chớ kh�ng v� người mạnh. Ch�ng ta c�n bệnh buộc l�ng phải uống thuốc. L�c n�o hết bệnh th� thuốc cũng bằng thừa. Chỉ c� gi�o l� Phật mới d�m n�i một c�ch quả quyết rằng gi�o l� giống như ng�n tay chỉ mặt trăng. Khi chưa thấy mặt trăng th� cần ng�n tay, nương đ� để thấy mặt trăng. Khi thấy mặt trăng rồi th� ng�n tay thừa. Như muốn qua b�n bờ kia ch�ng ta d�ng chiếc b� đưa qua s�ng. Tới bờ kia rồi th� chiếc b� tr�i đ�u mặc n�, kh�ng quan trọng nữa. N�n hiểu ph�p Phật l� phương tiện, chớ kh�ng phải ch�n l�, kh�ng bao giờ bỏ được.

Người học đạo thấy được gốc rồi, sự tu kh�ng kh� khăn, chỉ cần bền ch�. Bền ch� g�nh đất, nhổ cỏ hay bền ch� l�m g�? Bền ch� thường tỉnh đừng m�, đừng qu�n. Thường tỉnh đừng chạy theo c�c vọng niệm, đ� l� ch�ng ta th�nh c�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Tr�n bản nguy�n thanh tịnh Phật lại kh�ng để một vật. V� như hư kh�ng, d� lấy tr�n bảo v� lượng để trang nghi�m, trọn kh�ng thể được. Phật t�nh đồng hư kh�ng, d� lấy c�ng đức tr� tuệ v� lượng để trang nghi�m, trọn kh�ng thể được. Chỉ m� bản t�nh b�n kh�ng thấy vậy.

 

GIẢNG:

 

Bản nguy�n thanh tịnh của ch�nh m�nh l� Phật, n�n kh�ng để một thứ g� tr�n đ� hết. N�i trang nghi�m tịnh độ hay trang nghi�m tự t�m l� trang nghi�m t�m n�o? Nếu trang nghi�m th� trang nghi�m t�m sanh diệt th�i, chớ t�m bản nguy�n kh�ng c� g� để trang nghi�m, v� n� kh�ng thiếu, kh�ng dư l�m sao trang nghi�m? Chỉ tr�n tự t�m biết r�, kh�ng th�m g� hết th� đ�ng, nếu c�n để một vật g� l� c�n m�. Cho n�n ở đ�y n�i chỉ m� bản t�nh b�n kh�ng thấy vậy.

Chỗ n�y c� tu mới thấy vui. Khi n�o ch�ng ta ngồi thiền tỉnh t�o lặng lẽ, t�m kh�ng vướng b�n n�y kh�ng mắc b�n kia, gương mặt tươi tỉnh, tự m�nh cũng thấy vui. C�n vướng c�n mắc th� c� buồn vui lẫn lộn. Người sống kh�ng vướng mắc sẽ tự vui, bởi v� t�m thanh tịnh bản nhi�n vốn an lạc tự tại, kh�ng kẹt chi cả. Cho n�n c�ng đi s�u, ch�ng ta c�ng thấy cụ thể m�nh sẵn c� t�m thanh tịnh, vậy m� cứ đi t�m ho�i, t�m đ�o để rốt cuộc nhận ra n� ngay dưới g�t ch�n m�nh, chớ kh�ng đ�u xa. Hiểu thế, ch�ng ta mới thấy tại sao Lục Tổ kh�ng chịu cho ngồi thiền nhiều. V� với Ng�i kh�ng c� một niệm, kh�ng c� một t�m, đi đứng ngồi nằm cũng vậy, cho n�n ngồi thiền chi cho cực.

Ch�ng ta b�y giờ th� sao? Chạy ngược, chạy xu�i qu� n�n phải ngồi. Ngồi ng� xuống cho đỡ một ch�t, �t nhất cũng giảm đi năm mươi phần trăm lộn xộn. Chừng n�o thuần thục rồi th� đi đứng nằm ngồi đều l� đạo, kh�ng c� c�ch biệt. Tuy nhi�n, nh�n lại đức Phật Th�ch-ca đ� th�nh Phật rồi, Ng�i cũng vẫn ngồi thiền như thường. Thọ trai xong Phật đi kinh h�nh, xế chiều tọa thiền. C�c thầy Tỳ-kheo hỏi: �Đức Thế T�n dạy ch�ng con ngồi thiền để định t�m, c�n Ng�i t�m đ� thường định tại sao cũng ngồi thiền?� Thế T�n đ�p: �Ta ngồi thiền để điều ho� th�n thể v� răn nhắc đệ tử sau n�y kh�ng lười trễ tọa thiền.� Ng�i ngồi quen, ngồi cho vui cho khỏe v� cũng để răn dạy c�c thầy Tỳ-kheo, chớ kh�ng t�m kiếm g� nữa.

Ch�ng ta hiểu cho tới nơi, thấy thật tường tận th� sự tu h�nh sẽ đơn giản v� c�ng. Sống đơn giản rồi m�nh thấy những b�y biện lăng xăng của cuộc sống c� ch�a mắt kh�ng, mệt đầu kh�ng? Bởi vậy nhiều khi t�i lắc đầu ho�i, tu Phật kiểu n�y th� kh�ng biết đời kiếp n�o về c�i Phật. Như c� �ng Sư n�i: �Ai muốn tụng kinh cho cha mẹ về Cực Lạc th� đặt tụng ba ng�y ba đ�m gi� hai c�y, ai sợ cha mẹ xuống địa ngục, muốn l�m lễ ph� địa ngục th� năm c�y.� Vậy m� người ta ưa lắm, th�nh ra t�i cũng lắc đầu.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i rằng �Ph�p m�n t�m địa� l� mu�n ph�p đều y t�m n�y dựng lập, gặp cảnh tức c�, kh�ng cảnh tức kh�ng, kh�ng thể tr�n t�nh tịnh lại khởi biết cảnh.

 

GIẢNG:

 

N�i rằng ph�p m�n của chư Phật chỉ dạy l� �ph�p m�n t�m địa� n�n gọi l� t�m địa qu�n. Ch�nh chỗ n�y ng�i V� Ng�n Th�ng tới Tổ B� Trượng. Một h�m Tổ B� Trượng dạy �t�m địa nhược kh�ng, tuệ nhật tự chiếu�, nghĩa l� đất t�m nếu kh�ng th� mặt trời tr� tuệ tự s�ng. Nghe c�u đ� Ng�i liền ngộ, sau sang Việt Nam truyền đạo. Tại sao n�i ph�p m�n t�m địa? V� tất cả ph�p từ t�m sanh khởi, kh�ng c� ph�p n�o ngo�i t�m, v� vậy gọi l� ph�p m�n t�m địa. Nếu ch�ng ta trở về được t�m địa, c�c ph�p kh�ng c�n sanh diệt nữa th� mặt trời tr� tuệ tự s�ng kh�ng nghi. V� vậy tu l� cốt trở về chỗ cứu k�nh ấy.

Bởi vậy kh�ng thể tr�n t�nh tịnh m� khởi biết cảnh, nghĩa l� cảnh đến th� đến, cảnh đi th� đi. Cảnh đến tạm c�, cảnh đi tạm kh�ng, chớ kh�ng phải t�nh m�nh c� hay kh�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i định tuệ l� qu�n dụng th� r� r�ng vắng lặng tỉnh t�o, thấy nghe hiểu biết đều phải.

 

GIẢNG:

 

N�i định tuệ l� qu�n dụng. Trong khi ch�ng ta dụng c�ng tu qu�n th� r� r�ng vắng lặng tỉnh t�o, qu�n tất cả ph�p t�nh l� kh�ng, kh�ng thấy c� ph�p thật, m�nh vẫn thấy nghe hiểu biết. Cho n�n trong c�i thấy nghe hiểu biết vẫn biết c�c ph�p tự t�nh l� kh�ng, kh�ng c� g� sai.��

 

CH�NH VĂN:

 

Tr�n cảnh khởi hiểu, tạm v� người trung hạ căn n�i th� được. Nếu muốn th�n chứng đều kh�ng thể khởi thấy hiểu như thế, to�n l� cảnh ph�p, c� chỗ lặn mất th� lặn mất ắt c� nơi. Chỉ đối tất cả ph�p kh�ng khởi thấy c� kh�ng, tức l� thấy ph�p.

 

GIẢNG:

 

Ở đ�y Ng�i n�i r�: Tr�n cảnh khởi hiểu, tạm v� người trung hạ căn n�i th� được. V� dụ đối với c�i b�n, qu�n n� duy�n hợp hư giả, hiểu như vậy kh�ng c� g� sai, nhưng đ� l� chỉ cho người trung căn v� hạ căn.

Nếu muốn th�n chứng, đều kh�ng thể khởi thấy hiểu như thế, to�n l� cảnh ph�p, c� chỗ lặn mất th� lặn mất ắt c� nơi. Th�n chứng l� chứng đến tận nơi. Nếu c�i thấy hiểu mất th� phải c� chỗ để cho n� mất.

Chỉ đối tất cả ph�p kh�ng khởi thấy c� kh�ng, tức l� thấy ph�p, qu�n c�c ph�p như huyễn, kh�ng thật th� cũng c� c�i �c� kh�ng� đối đ�i. V� vậy n�n biết r� rằng c�c ph�p kh�ng phải c�, kh�ng phải kh�ng, đừng cố chấp b�n n�o, như vậy mới l� chỗ ch�n thật.

Thế n�o l� người trung căn, người thượng căn? V� như ch�ng ta thấy c�nh hoa, ph�n biệt đẹp xấu rồi ưa gh�t, đ� l� đang loạn tưởng đắm nhiễm. B�y giờ nếu qu�n c�nh hoa đ� duy�n hợp, kh�ng thật, ph�n t�ch ra từng c�nh t�m c�i hoa kh�ng c�. Như vậy tu qu�n để trừ chấp hoa thật, hoa đẹp v.v� từ từ t�m y�n. Người qu�n thế ấy thuộc hạng trung căn. Nếu người thượng căn thấy c�nh hoa l� c�nh hoa, kh�ng ph�n biệt đẹp xấu, thấy người l� người, kh�ng ph�n biệt trắng đen, kh�ng cần khởi qu�n. V� vừa khởi qu�n l� trật rồi. Đối cảnh đẹp xấu kh�ng động t�m, đ� l� thật. C�n khởi qu�n để đừng d�nh mắc, đ� l� gỡ, l� tu. Như vậy người tu tr�n phương tiện thuộc h�ng trung căn, người nh�n thẳng tất cả c�c ph�p bằng t�m ch�n thật, kh�ng khởi qu�n thuộc về thượng căn.

Ch�ng ta b�y giờ thấy hoa c� qu�n hư giả hay thấy hoa trầm trồ đẹp xấu? Nếu thấy hoa trầm trồ đẹp xấu, đ� l� t�m của ai? Của ph�m phu. C�n nếu thấy hoa biết l� duy�n hợp hư giả, kh�ng thật đ� l� tr� qu�n của h�ng trung căn. V� để ph� chấp ph�m phu cho n�n dạy qu�n. C�n nếu người thấy hoa l� hoa, kh�ng cần dạy qu�n g� nữa. Dạy l� th�m bệnh, tức thịt l�nh kho�t th�nh thương t�ch. Hiểu r� chỗ n�y mới thấy � nghĩa đạo l� th�m trầm, kh�ng hiểu ch�ng ta tu dễ bị lầm lẫn.

 

CH�NH VĂN:

 

Từ Đại sư Đạt-ma đến Trung Quốc chỉ n�i một t�m, chỉ truyền một ph�p. Lấy Phật truyền Phật chẳng n�i Phật kh�c, lấy ph�p truyền ph�p chẳng n�i ph�p kh�c. Ph�p tức l� ph�p kh�ng thể n�i, Phật tức l� Phật kh�ng thể thủ, mới l� t�m bản nguy�n thanh tịnh vậy.

 

GIẢNG:

 

Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc truyền đạo, chỉ lấy một t�m chỉ truyền một ph�p. Tại sao n�i một t�m? Tại sao n�i một ph�p? V� Tổ chỉ cho ch�ng ta nhận ra bản t�m, đ� l� một t�m. Phương tiện chỉ t�m cho m�nh nhận ra, đ� l� một ph�p. Chỉ một t�m chỉ một ph�p, v� t�m đ� l� thể của mu�n ph�p n�n cũng l� một ph�p, chớ kh�ng kh�c. N�n n�i truyền một t�m một ph�p, kh�ng n�i g� kh�c.

Khi tới vua Lương V� Đế, Vua hỏi: �Trẫm l�m tất cả việc như cất ch�a nu�i tăng v.v� như vậy c� c�ng đức kh�ng?� Tổ đ�p: �Kh�ng.� Nếu b�y giờ ch�ng ta gặp Vua hỏi th� đ�p thế n�o, c� ai d�m n�i như Tổ kh�ng? Chắc l� kh�ng, m� c�n t�n th�n bệ hạ l�m như vậy phước đức v� lượng v� bi�n, v� sợ mất l�ng Vua. Tổ n�i thẳng �kh�ng c�ng đức�, đ� l� tạt một g�o nước lạnh v� mặt Vua, kh�ng sợ mất l�ng g� cả, đ� l� v� Tổ muốn truyền một ph�p th�i, ngo�i ra kh�ng muốn g� kh�c. Khi Vua hỏi: �Th�nh đế đệ nhất nghĩa thế n�o?� Ng�i đ�p: �Rỗng th�nh kh�ng Th�nh.� Thế l� l�m phật � vua Lương ho�n to�n, n�n kh�ng thể truyền đạo được ở đ�y. Đối với Tổ c�n Th�nh ph�m l� hai, n�n Ng�i n�i chỗ tột �rỗng th�nh kh�ng Th�nh�, kh�ng c� c�i thứ hai. Biết cơ duy�n truyền đạo tại đ�y kh�ng được, Tổ đi nơi kh�c.

Như vậy để hiểu người xưa truyền đạo rất trung th�nh với ph�p của m�nh được, chỉ thẳng ph�p đ�, kh�ng n�i ph�p kh�c. Ng�y nay ch�ng ta phương tiện nhiều qu�, riết rồi xin xăm b�i quẻ cũng phương tiện lu�n. Tại sao? V� c� tiền, rốt cuộc kh�ng c�n đạo nữa.

Ph�p tức l� ph�p kh�ng thể n�i, Phật tức l� Phật kh�ng thể thủ, mới l� t�m bản nguy�n thanh tịnh vậy. T�m bản nguy�n l� ph�p kh�ng thể n�i, Phật kh�ng thể thủ.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ một việc n�y thật, c� hai c�i kh�c th� chẳng phải ch�n.

 

GIẢNG:

 

Chỉ một l� thật, c�n hai kh�ng phải ch�n. Kinh Ph�p Hoa n�i chỉ một Phật thừa, hai chẳng phải ch�n. Như vậy t�m ch�n thật ấy kh�ng hai.

 

CH�NH VĂN:

 

B�t-nh� l� tuệ, tuệ n�y tức l� bản t�m v� tướng. Ph�m phu kh�ng đến đạo, chỉ bu�ng lung s�u t�nh l� đi trong s�u đạo. Người học đạo một niệm chấp sanh tử liền rơi v�o ma đạo; một niệm khởi c�c kiến (c�c thứ thấy biết kh�c) liền rơi v�o ngoại đạo; thấy c� sanh tiến đến diệt liền rơi v�o Thanh văn đạo; chẳng thấy c� sanh, chỉ thấy c� diệt, liền rơi v�o Duy�n gi�c đạo; kh�ng khởi c�i thấy c� hai, chẳng ch�n chẳng ưa, tất cả c�c ph�p chỉ l� một t�m, nhi�n hậu mới l� Phật thừa.

 

GIẢNG:

 

Thấy c� hai th� c�n mắc kẹt hai b�n, người học đạo c�n chấp sanh tử th� rơi v�o ma đạo. Người học đạo bu�ng lung s�u t�nh th� đi trong s�u đạo. S�u t�nh l� s�u căn. Bu�ng lung s�u căn chạy theo s�u trần th� đi trong s�u đường sanh tử. Nếu học đạo m� một niệm chấp sanh tử thật liền rơi v�o đường ma. Một niệm khởi c�c kiến rơi v�o ngoại đạo, kiến chấp thế n�y thế kia. Thấy c� sanh tiến tới diệt l� rơi v�o Thanh văn, nghĩa l� thấy c�i n�y sanh lần lần diệt, n� v� thường. Chẳng thấy c� sanh chỉ thấy c� diệt l� rơi v�o Duy�n gi�c đạo, tức l� thấy c�c ph�p do duy�n hợp, sanh kh�ng thật sanh, chỉ đủ duy�n n� tụ, hết duy�n n� tan, đ� l� Duy�n gi�c đạo.�� �����

Kh�ng khởi c�i thấy c� hai, chẳng ch�n chẳng ưa, tất cả c�c ph�p chỉ l� một t�m, nhi�n hậu mới l� Phật thừa. Chỉ tất cả ph�p l� một t�m, đ� mới l� Phật thừa. Học đạo chỉ biết đến chỗ cứu k�nh l� một t�m, kh�ng c� g� kh�c th� thật đơn giản. C�n học ph�n biệt Thanh văn bao nhi�u hạng, Bồ-t�t bao nhi�u hạng, cực qu�. Ở đ�y n�i thẳng chỉ đi tới chỗ cứu k�nh l� Phật th�i. Muốn cứu k�nh l� Phật th� kh�ng hai, kh�ng ưa, kh�ng gh�t. Đ� l� chỗ ch�n thật, cứu k�nh.

Ch�ng ta thấy lời chỉ dạy của Tổ Ho�ng B� rất th�m thiết, rất s�u k�n. Thấy tường tận như vậy th� tr�n đường tu kh�ng kh�.

 

CH�NH VĂN:

 

Ph�m phu đều theo cảnh sanh t�m, t�m b�n ưa ch�n. Nếu muốn kh�ng cảnh phải qu�n t�m ấy. T�m qu�n tức l� cảnh kh�ng, cảnh kh�ng tức l� t�m diệt. Nếu kh�ng qu�n t�m m� chỉ trừ cảnh th� cảnh kh�ng thể trừ, c�ng th�m lăng xăng. Cho n�n mu�n ph�p chỉ l� t�m, t�m cũng kh�ng thể được, lại cầu c�i g�? Người học B�t-nh� kh�ng thấy một ph�p c� thể được, dứt � nơi tam thừa, chỉ một ch�n thật kh�ng thể chứng được. Bảo l� ta hay chứng hay đắc đều l� người tăng thượng mạn. Tr�n hội Ph�p Hoa phủi �o ra đi, đều l� bọn người n�y. Phật n�i: �Ta đối với Bồ-đề thật kh�ng sở đắc�, thầm khế hội m� th�i.

 

GIẢNG:

 

Ph�m phu đều theo cảnh sanh t�m, sanh t�m b�n ưa ch�n. Nếu muốn kh�ng cảnh th� phải qu�n t�m ấy, nghĩa l� qu�n t�m đuổi theo cảnh, t�m qu�n tức cảnh kh�ng. Nếu qu�n t�m kh�ng dấy chạy theo cảnh th� cảnh tự kh�ng, cảnh tự kh�ng th� t�m cũng diệt. Nếu kh�ng qu�n t�m m� chỉ trừ cảnh, cảnh kh�ng thể trừ, c�ng th�m lăng xăng. Bệnh người tu b�y giờ l� vậy, kh�ng muốn qu�n t�m m� muốn dẹp cảnh. Muốn v� hang n�i tu một m�nh để đừng thấy ai hết, đ� l� qu�n t�m hay dẹp cảnh? Chắc g� ngồi trong hang n�i m� kh�ng suy nghĩ. Nhiều khi ngồi hang n�i lại muốn chạy ra ngo�i, cho n�n c�i đ� kh�ng phải gốc, gốc l� phải qu�n t�m, qu�n t�m tự nhi�n cảnh diệt. Như vậy mới l� người biết tu.

Cho n�n mu�n ph�p chỉ l� t�m, mu�n ph�p sanh v� t�m dấy niệm chạy theo. T�m chạy theo cảnh kh�ng c� thật. Ph�p kh�ng thật, t�m kh�ng thật th� cầu c�i g�? Thế n�n người học B�t-nh� kh�ng thấy một ph�p c� thể được, v� kh�ng một ph�p thật.

Dứt � nơi tam thừa, chỉ một ch�n thật kh�ng thể chứng được, c�i ch�n thật đ� sẵn c�, kh�ng n�i chứng n�i đắc.

Bảo l� ta hay chứng hay đắc đều l� người tăng thượng mạn, b�y giờ lắm người tu hay khoe, t�i chứng c�i n�y đắc c�i kia. Tổ dạy thật r� kh�ng c� c�i để chứng, kh�ng c� c�i để đắc. Tại sao? V� c�i sẵn của m�nh th� l�m sao n�i chứng, n�i đắc được. Cho n�n đến chỗ ch�n thật n�y Phật dạy: �Ta đối với Bồ-đề thật kh�ng sở đắc.� Ng�i đối với Bồ-đề thật kh�ng sở đắc m� người ta n�i Ng�i đắc Bồ-đề. Đọc kinh nhiều khi ch�ng ta thấy m�u thuẫn, như kinh B�t-nh� n�i �dĩ v� sở đắc cố� nghĩa l� kh�ng c� sở đắc. Từ Bồ-đề-t�t-đỏa y B�t-nh� ba-la-mật-đa� chư Phật y B�t-nh� ba-la-mật-đa� đắc V� thượng Ch�nh đẳng Ch�nh gi�c, nghĩa l� đắc hết. Đoạn trước th� kh�ng sở đắc, đoạn sau lại đắc. Như vậy l� sao? V� sở đắc v� tất cả ph�p đều hư dối, do biết tất cả ph�p hư dối n�n ch�ng ta đầy đủ Tam minh, Lục th�ng, Tứ v� sở �y, đ� l� đắc; kh�ng đắc m� đắc. C�n nếu thấy tất cả ph�p thật, th� kh�ng đạt được g� hết. Hiểu như vậy mới thấy kinh n�i dường như m�u thuẫn m� kh�ng m�u thuẫn. Phật kh�ng được Bồ-đề m� thật t�nh Ng�i đ� th�nh Ch�nh đẳng Ch�nh gi�c.

 

CH�NH VĂN:

 

Ph�m nh�n khi sắp mạng chung chỉ qu�n năm uẩn đều kh�ng, bốn đại v� ng�, ch�n t�m kh�ng tướng, chẳng đi chẳng đến, khi sanh t�nh cũng chẳng đến, khi tử t�nh cũng chẳng đi, y�n lặng tr�n bặt, t�m cảnh nhất như. Chỉ hay qu�n như thế liền đ� ch�ng liễu ngộ, chẳng bị ba đời r�ng buộc b�n l� người xuất thế.

 

GIẢNG:

 

Người tu thiền khi sắp l�m chung phải l�m sao? Ng�i dạy chỉ qu�n năm uẩn đều kh�ng, bốn đại v� ng� như trong kinh B�t-nh�.

Ch�n t�m kh�ng tướng, chẳng đi chẳng đến, khi sanh t�nh cũng chẳng đến, khi tử t�nh cũng chẳng đi, y�n lặng tr�n bặt, t�m cảnh nhất như. N�i rằng qu�n năm uẩn đều kh�ng, bốn đại v� ng� điều n�y nhiều người qu�n được. Nhưng tới ch�n t�m kh�ng tướng, chẳng đi chẳng đến l�m sao biết? Đ� kh�ng biết v� sao n�i ch�n t�m kh�ng tướng, chẳng đi chẳng đến, khi sanh t�nh cũng chẳng đến, khi tử t�nh cũng chẳng đi? Kh�ng biết m�nh c� ch�n t�m m� bảo qu�n ch�n t�m l�m sao qu�n? Đ� l� một vấn đề.

Ai cũng n�i c� ch�n t�m, m� n� hiện l�c n�o ra sao lại kh�ng biết. Khi đọc kinh s�ch tưởng như m�nh hiểu, thực ra chỉ hiểu tr�n danh từ th�i, chớ thực chất chưa nắm được. Qu� vị muốn thấy ch�n t�m th� phải d�ng tr� tuệ sẵn c� mu�n đời của m�nh m� nhận. Thường mọi người lu�n lấy � thức sanh diệt l�m t�m m�nh. Như vậy tất cả nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ tốt nghĩ xấu v.v� đều cho l� t�m m�nh. Người n�o nghĩ kh�o, nghĩ tr�ng th� khen t�m họ s�ng, ai nghĩ trật nghĩ sai th� n�i t�m họ m� mịt, đần độn qu�.

Trăm người như một đều nhận suy nghĩ ph�n biệt đối đ�i l�m t�m m�nh, kh�ng biết đ� l� t�m động, t�m sanh diệt. N� đ�u c� nghĩ ho�i một việc m� thay đổi lu�n lu�n. N� l� động, l� sanh diệt m� ch�ng ta nhận l� t�m m�nh, nhận th�n tứ đại sanh diệt l�m th�n m�nh th� đang sống với c�i g�? Sống với c�i tạm bợ, hư dối sanh diệt. Đ� lấy tạm bợ hư dối sanh diệt l� m�nh, th� c�i n�y hoại b�m c�i kh�c, c�i kh�c hoại b�m c�i kh�c nữa, li�n tục cho n�n tiếp tục trong v�ng sanh tử kh�ng c�ng tận. Đ� l� nỗi khổ của ch�ng sanh, cứ như vậy triền mi�n sanh tử kiếp kiếp đời đời, kh�ng dừng được. Cho n�n đức Phật hết sức thương x�t.

Ng�y nay ch�ng ta tu muốn tho�t ly sanh tử, m� cứ b�m v�o th�n t�m sanh diệt ấy, l�m sao tho�t ly được. Như người muốn qua s�ng lớn m� nương chiếc xuồng lủng, chiếc ghe bể th� sao? Th� chết ch�m. Muốn qua s�ng lớn �t ra cũng c� thuyền chắc hay t�u lớn, c�i kh�ng bền chắc m� d�ng vượt s�ng biển th� kh�ng thế n�o được. Tu h�nh cũng vậy, ch�ng ta phải biết c�i g� l� ch�n t�m, c�i g� l� vọng t�m hư dối. Nắm vững để ch�ng ta kh�ng bị kẹt trong tướng sanh diệt, m� nhận lấy c�i bất sanh bất diệt, nh� Phật gọi l� Niết-b�n. Ch�n t�m l� nh�n của Niết-b�n sẵn c� nơi mỗi người, m� kh�ng ai chịu nhận. Thật đ�ng tiếc.

Lục Tổ hỏi ng�i Huệ Minh: �Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, c�i g� l� bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?� Đ� l� Ng�i đ� chỉ ch�n t�m cho Thượng tọa Minh rồi. Ch�ng ta cứ n�i t�m ch�n, t�m vọng m� hỏi t�m l� g� cũng kh�ng biết, cứ cho suy nghĩ hai b�n l� t�m. Sự thật ng�i Khu� Phong định nghĩa r� r�ng �T�m l� c�i biết�. C�i biết n�o thuộc về hư dối sanh diệt gọi l� biết vọng. C�i biết kh�ng sanh kh�ng diệt l� biết ch�n. C�i biết nghĩ phải nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua l� c�i biết sanh diệt. Kh�ng d�ng c�i biết sanh diệt, m�nh vẫn biết đ� l� ch�n.

V� ch�ng ta kh�ng gan dạ, kh�ng d�m nh�n thẳng để nhận ra c�i thật, cứ chạy theo những dấy nghĩ cho l� t�m m�nh n�n qu�n mất c�i thường biết lặng lẽ. Như vậy c� tủi kh�ng? Ch�ng ta quả tang l� ch�ng bất hiếu c�ng tử, �ng cha sung sướng gi�u c� m� bỏ chạy tha hương, tới chừng thức tỉnh mới t�m trở về. Đ�u phải cha đuổi m� ch�nh m�nh bỏ nh� đi hoang. Cũng thế, ch�n t�m hiện giờ ai cũng c�, m� kh�ng chịu nhận. V� vậy ch�ng ta ngồi thiền để dừng nghĩ phải, nghĩ quấy, dừng vọng t�m. Vọng t�m dừng l�c đ� ch�n t�m hiện ra. Biết tất cả đ� l� t�m, m� kh�ng động.

C�c vị Tổ hồi xưa n�i �đ�m đ�m �m Phật ngủ�, �m �ng Phật ngủ m� kh�ng nhớ Phật, lại g�c tay g�c ch�n đ� Phật, �ng�y ng�y c�ng Phật đi�, m� kh�ng th�m ng� ng�ng tới Phật, to�n l� ng� theo ch�ng sanh. Thấy c�y d� xanh lo nh�n c�y d� xanh, thấy chậu hoa đỏ lo nh�n chậu hoa đỏ, cứ ph�n biệt theo cảnh b�n ngo�i, kh�ng nhớ m�nh c� �ng Phật đang đi theo đ�y. Bởi vậy đi đứng nằm ngồi kh�ng rời ch�n t�m, m� ch�ng ta lại kh�ng bao giờ nhận n�, cứ nhận cảnh vật b�n ngo�i, tr�ch g� kh�ng lu�n hồi mu�n kiếp. B�y giờ muốn dừng lu�n hồi phải nhớ m�nh c� t�m ch�n thật. Đ�l� c�i kh�ng nghĩ suy t�nh to�n, lặng lẽ thường biết hiện tiền. Diễn tả n� l�m sao? N� kh�ng l� g� hết, v� kh�ng c� h�nh d�ng. C� h�nh d�ng l� tướng v� thường sanh diệt. N� kh�ng phải v� thường sanh diệt n�n kh�ng h�nh d�ng m� hằng tri hằng gi�c.

Mỗi ng�y ch�ng ta ngồi thiền l� để sống lại với t�m thật của m�nh, kh�ng t�m cầu b�n ngo�i. Nhưng khổ nỗi nhiều người ngồi thiền mong thấy h�o quang, m� kh�ng biết ch�nh t�m lăng xăng loạn tưởng dừng, lu�n lu�n tỉnh s�ng, đ� l� t�m ch�n thật hiện tiền. Cho n�n n�i �m t�m chờ ngộ l� sai. C� g� đ�u phải chờ, chỉ cho bọn giặc lặng xuống, đừng rối loạn lăng xăng nữa th� c�i thật hiện ra. Thiền sư l�c sống với đạo thường như ngu như ng�y, khờ khạo. Khờ khạo với lanh lợi ph�n biệt, nhưng biết thấu tột cả vũ trụ nh�n sinh, thấy tường tận cội gốc của n�. C�n ch�ng ta ng�y nay lanh lợi qu�, chỉ biết chuyện hơn thua phải quấy th�i, n�n tu ho�i vẫn kh�ng hết v� minh phiền n�o.

Ch�ng sanh qu� khờ dại, những chuyện kh�ng c� quyền can thiệp, kh�ng c� quyền xử sự m� cứ muốn biết, c�n c�i thật đang sống với m�nh lại bỏ qua, đ�ng thương kh�ng? V� vậy chư Phật Bồ-t�t thị hiện ra đời l� v� ch�ng sanh, muốn độ ch�ng tho�t ly sanh tử. Tho�t ly sanh tử kh�ng phải th�n n�y, kh�ng phải t�m hơn thua phải quấy. Tho�t ly sanh tử l� nhận ra c�i ch�n thật m� m�nh bỏ qu�n n�n cứ trầm lu�n m�i. Phật thương nhắc đi nhắc lại kh�ng biết bao nhi�u kinh điển, m� n�o c� mấy người hưởng ứng? Như t�i n�i ph�p mười năm nữa cũng vậy th�i. N�i qua rồi qu� vị qu�n, chỉ nhớ chuyện b�n T�y b�n T�u, chớ kh�ng nhớ m�nh c� �ng Phật ch�n thật ngay đ�y. Tu như vậy tới gần chết qu�nh l�n kh�ng biết m�nh ra sao? Tại v� cứ b�m v�o th�n sanh diệt, t�m sanh diệt cho l� m�nh, tới khi n� sắp hoại mất th� sợ sệt hoảng hốt. C�n biết m�nh sẵn t�m ch�n thật rồi th� th�n tạm bợ n�y hoại diệt c� sao đ�u, việc g� phải khổ.

Cho n�n c�c Thiền sư cười trước khi chết, v� thấy th�n l� đồ bỏ kh�ng đ�ng gi� chi, tạm mượn n� sống tu. B�y giờ hết duy�n th� đi, c�c ng�i xem nhẹ sự sống chết như thế. Ch�ng sanh ngược lại, cho th�n l� thật n�n một lần mất n� l� một lần đau khổ v� c�ng. Chẳng những đau khổ v� mất n�, m� đau khổ kh�ng biết sẽ đi đ�u. Tổ Qui Sơn n�i: �Đường trước mờ mờ chưa biết về đ�u?� V� vậy ch�ng ta học đạo cốt để tu, đừng phụ bạc �ng chủ m�nh nữa. Người n�o đừng để t�m chạy ngược chạy xu�i, dừng nghỉ hết lăng xăng, tỉnh t�o vui vẻ đ� l� người sống với ch�n t�m. Được như vậy người đ� khi nhắm mắt đi với c�i kh�ng sanh diệt tức l� nhập Niết-b�n. Ngược lại cứ sống với phải quấy hơn thua thương gh�t, th� đi với t�m sanh diệt tạo nghiệp, dẫn trong s�u nẻo lu�n hồi.

B�y giờ qu� vị biết qu�n ch�n t�m l� sao chưa? Qu�n ch�n t�m l� biết r� tất cả niệm khởi thuộc tướng sanh diệt, c�i hằng gi�c hằng tri kh�ng dấy động l� m�nh. Cứ nhớ bao nhi�u đ� th� sống với �ng chủ, ra đi tự tại, thảnh thơi biết mấy. Tổ bảo khi sắp mạng chung chỉ qu�n năm uẩn kh�ng thật, bốn đại v� ng�. C�i hằng tri gi�c kh�ng sanh kh�ng diệt n�n khi sanh t�nh n� kh�ng đến, khi tử t�nh n� kh�ng đi, y�n lặng tr�n bặt, t�m cảnh nhất như.

Người n�o qu�n được như vậy th� liền ch�ng liễu ngộ, chẳng bị ba đời r�ng buộc, b�n l� người xuất thế. Bao nhi�u kinh điển đều chỉ một đoạn n�y, người thấy được đường tu th� rất gần. Nếu người c�n đa mang t�m sanh diệt, luyến tiếc tướng tứ đại th� đi theo chiều sanh diệt. C�n người biết những thứ đ� hư giả, chỉ nhớ t�m hiện tiền hằng tri gi�c bất sanh bất diệt của m�nh, đ� l� người xuất thế tức giải tho�t vậy.

 

CH�NH VĂN:

 

D� người kh�ng được �t phần th� hướng, nếu thấy tướng l�nh, chư Phật đến đ�n v� c�c thứ hiện trước cũng kh�ng khởi t�m đi theo; nếu thấy tướng dữ v� c�c thứ hiện trước cũng kh�ng sanh t�m kinh sợ; chỉ tự qu�n t�m đồng với ph�p giới liền được tự tại, đ�y tức l� điều thiết yếu vậy.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y rất kh�. Ai nhắm mắt gần chết, thấy Phật đến đ�n m� kh�ng mừng. Hầu như người tu n�o cũng mơ ước được Phật đ�n. Nhưng ở đ�y dạy nếu thấy tướng l�nh chư Phật đến đ�n v� c�c thứ hiện trước cũng kh�ng khởi t�m đi theo. Phật rước cũng kh�ng đi. Tại sao vậy? V� muốn ra khỏi sanh tử n�n kh�ng đi theo c�c tướng trạng b�n ngo�i, d� đ� l� tướng Phật. Nếu theo Phật cũng c�n sanh trong hoa sen. Muốn đi thẳng tới chỗ v� sanh, th� kh�ng theo ai kể cả Phật, huống nữa l� Th�nh Thần hay những người th�n y�u.

C�c thứ hiện trước cũng kh�ng khởi t�m đi theo, c�c thứ hiện trước l� th�n tộc b� con, anh em cha mẹ đ�n cũng kh�ng đi. Điều n�y kh� số một. Đa số qu� vị thấy b� con th�n tộc l� mừng rỡ, n�i g� đến đ�n m�nh. Cho n�n nếu kh�ng kh�o tu, l�c sắp mất đi theo những h�nh ảnh n�y l� tiếp tục thọ th�n sau, c� khi ma quỷ giả h�nh, dẫn người chết đi v�o cảnh giới của ch�ng, chịu khổ kh�ng thể lường.

Đến kh� số hai. Nếu thấy tướng dữ v� c�c thứ hiện trước cũng kh�ng sanh t�m kinh sợ. Thấy những tướng dữ tức như thấy cọp rượt, c� sấu đuổi v.v�cũng kh�ng sợ. T�m lại thấy tướng l�nh kh�ng theo, thấy tướng dữ kh�ng sợ.

Chỉ tự qu�n t�m đồng với ph�p giới liền được tự tại, đ�y tức l� thiết yếu vậy. Qu�n t�m l� qu�n t�m sanh diệt, t�m thương, t�m gh�t. Nếu c�n t�m ấy th� thấy th�n nh�n tới đ�n mừng n�n đi theo, t�m sợ th� thấy quỉ sứ dọa nạt, ch�ng chỉ đ�u liền hoảng sợ chạy theo đường đ�. Thấy đồng ph�p giới tức tr�m khắp, bất sanh bất diệt liền được tự tại. Đ�y l� thiết yếu, tức điểm then chốt của sự tu h�nh. Đ� l� những điều người tu phải biết, mới kh�ng sợ khi nhắm mắt bị rơi v�o đường t�. Như vậy cả hai thứ, vui theo tướng l�nh th� sanh c�i l�nh, sợ tướng dữ chạy trốn th� bị sanh chỗ dữ, đều đi trong con đường sanh tử. Chỉ nhớ t�m th�nh thang kh�ng h�nh kh�ng tướng, kh�ng sanh kh�ng diệt, kh�ng sợ h�i, lu�n tỉnh t�o s�ng suốt th� giải tho�t an vui.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i Ho� th�nh đ�, Nhị thừa v� Thập địa, Đẳng gi�c, Diệu gi�c, đều l� gi�o quyền lập để tiếp dẫn, thảy l� Ho� th�nh.

 

GIẢNG:

 

Đ�y dẫn kinh Ph�p Hoa, n�i Ho� th�nh l� chỉ cho Nhị thừa, Thập địa, Đẳng gi�c, Diệu gi�c, đi từng bậc từng bậc đều l� gi�o quyền lập. Gi�o quyền lập l� gi�o l� tạm lập để tiếp dẫn người, c� thứ bậc cho dễ đi, dễ tiến vậy th�i. Như Bộ Gi�o Dục muốn th�c đẩy học sinh học cho giỏi n�n mỗi năm tổ chức thi l�n cấp. Từ cấp Tiểu học l�n Trung học, Đại học rồi Tiến sĩ g� g� đ�, ấy l� thật lập hay quyền lập? Quyền lập như thế để đo sự hiểu biết của ch�ng ta qua những năm học, lập ra thứ bậc để th�c đẩy nhắc nhở sự tiến bộ trong học vấn, mục đ�ch v� muốn ch�ng ta biết s�u hiểu rộng, l�m lợi �ch cho mọi người. Đ� l� mục đ�ch phương tiện lập c� thứ bậc.

Cũng vậy đạo Phật muốn dạy ch�ng sanh tu h�nh để được gi�c ngộ th�nh Phật. Gi�c ngộ th�nh Phật l� thế n�o? L� trở lại sống thực với t�m bất sanh bất diệt hằng tri hằng gi�c của m�nh, gọi l� ch�n t�m hay Phật t�nh. Sống được với ch�n t�m l� bước v�o cảnh giới chư Phật. Nhưng n�i sống với ch�n t�m Phật t�nh, người ta nghe cao xa qu�, n�n Phật dạy tu hạnh n�y được quả bậc Thanh văn, tu hạnh n�y được quả bậc Duy�n gi�c, rồi gi�c được phần n�o l� Bồ-t�t Sơ địa, Bồ-t�t Nhị địa v.v� tới cuối c�ng cũng trở lại ch�n t�m Phật t�nh. Như vậy gi�o l� đ� l� phương tiện quyền lập, c�n chỗ ch�n thật kh�ng hai. Hiểu như vậy ch�ng ta mới thấy trong kinh Ph�p Hoa n�i Ho� th�nh l� phương tiện quyền lập, n�i Bảo sở l� chỉ ch�n t�m Phật t�nh. Chỗ đ� kh�ng đối đ�i n�n n�i kh�ng Phật, kh�ng ch�ng sanh, kh�ng c�n t�nh lượng, kh�ng c�n kiến lập. N�i Bảo sở l� chỗ qu� b�u, tức chỉ thẳng ch�n t�m Phật t�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i Bảo sở đ� l� bảo ch�n t�m, bản Phật, tự t�nh, c�i bảo n�y kh�ng thuộc về t�nh lượng, kh�ng thể kiến lập, kh�ng Phật, kh�ng ch�ng sanh, kh�ng năng kh�ng sở, chỗ n�o c� th�nh? Nếu hỏi: đ�y đ� l� Ho� th�nh, chỗ n�o l� Bảo sở? Bảo sở kh�ng thể chỉ, chỉ tức c� chỗ nơi, kh�ng phải l� ch�n Bảo sở. Cho n�n n�i �ở gần� m� th�i. Kh�ng thể định lượng nơi đ�, chỉ ch�nh đ�y khế hội l� phải.

 

GIẢNG:

 

Hỏi Bảo sở chỗ n�o Phật n�i �ở gần�, c�c Thiền sư n�i ở dưới g�t ch�n �ng. Chữ Ho� th�nh trong kinh Ph�p Hoa l� chỉ cho tu h�nh c� thứ bậc từ thấp l�n cao, c�n Bảo sở l� chỉ thẳng cho ch�ng ta biết c�i thật nằm ngay nơi mỗi người, kh�ng ở đ�u xa. Ch�ng ta tu l� để trở về c�i thật của m�nh, đ�y l� con đường gần nhất. Nếu đi thứ bậc th� hơi xa, hơi quanh co. Bởi vậy chỗ thật n�y chỉ kh�o khế hội l� được.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i xiển đề đ�, l�ng tin kh�ng đủ vậy. Tất cả ch�ng sanh trong s�u đạo cho đến Nhị thừa kh�ng tin c� Phật quả, đều gọi l� đoạn thiện căn xiển đề. Bồ-t�t đ�, tin s�u c� Phật ph�p kh�ng thấy c� đại thừa, tiểu thừa. Phật c�ng ch�ng sanh đồng một ph�p t�nh gọi l� thiện căn xiển đề.

 

GIẢNG:

 

Chữ �xiển đề� l� tiếng Phạn, nghĩa l� người kh�ng đủ l�ng tin. Kh�ng đủ l�ng tin thế n�o? Như những ch�ng sanh đi trong lục đạo lu�n hồi kh�ng đủ l�ng tin m�nh c� t�nh Phật, cho tới h�ng Nhị thừa kh�ng tin c� Phật quả. C�c ng�i tu chứng Diệt tận định l� nhập Niết-b�n, kh�ng n�i l�n Phật quả, cho n�n những hạng n�y gọi l� đoạn thiện căn xiển đề, tức do kh�ng tin l�m mất căn l�nh.C�n Bồ-t�t tin s�u Phật ph�p, kh�ng thấy c� Tiểu thừa, Đại thừa ri�ng, thấy tất cả ch�ng sanh đồng c� t�nh Phật, đồng một ph�p t�nh gọi đ� l� thiện căn xiển đề, nghĩa l� kh�ng tin m� kh�ng tin do c� căn l�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Đại để, nh�n nghe gi�o m� ngộ gọi l� Thanh văn, qu�n nh�n duy�n m� ngộ gọi l� Duy�n gi�c. Nếu kh�ng hướng trong t�m m�nh m� ngộ, tuy đến th�nh Phật cũng gọi l� Phật Thanh văn. Người học đạo phần nhiều đối tr�n gi�o ph�p m� ngộ, kh�ng ở tr�n t�m ph�p m� ngộ, tuy trải nhiều kiếp tu h�nh trọn kh�ng phải l� bổn Phật. Nếu kh�ng nơi t�m m� ngộ, chỉ đối tr�n gi�o ph�p m� ngộ tức l� khinh t�m trọng gi�o, b�n th�nh theo khối (theo h�nh tướng) m� qu�n bản t�m. Cho n�n chỉ khế hội bản t�m, chẳng cần cầu ph�p, t�m tức l� ph�p vậy.

 

GIẢNG:

 

Ch�ng ta tu c� hai c�ch. Một l� y nơi ph�p của Phật dạy, nghe qu�n chiếu rồi tu, gọi đ� l� Thanh văn. Thấy c�c ph�p duy�n sanh qu�n chiếu m� tu, gọi đ� l� Duy�n gi�c. Nhưng nếu chỉ nương theo ph�p của Phật dạy tu m� kh�ng nhận ra t�m m�nh, gọi đ� l� qu�n t�m cầu Phật, hay qu�n t�m ph�p m� chạy theo gi�o ph�p. Tu như vậy kh�ng thấy được �ng Phật gốc của m�nh. Nếu kh�ng nơi t�m ngộ, chỉ đối tr�n gi�o ph�p ngộ tức l� �khinh t�m trọng gi�o�. Người khinh t�m trọng gi�o l� chạy theo h�nh tướng, qu�n mất bản t�m.

Cho n�n chỉ khế hội bản t�m, chẳng cần cầu ph�p, t�m tức l� ph�p vậy. Ai nhận được bản t�m, người đ� trở lại gốc ngay nơi m�nh, kh�ng chạy ra ngo�i. Đa số ch�ng ta ng�y nay tu theo ph�p, �t nhận t�m, v� vậy c� lỗi khinh t�m trọng ph�p. M� ph�p của Phật n�i cốt chỉ c�i g�? Chỉ t�m. B�y giờ m�nh trọng ph�p qu�n t�m tức l� chạy theo ngọn m� qu�n gốc.

Bao nhi�u kinh điển đức Phật dạy đều chỉ cho ch�ng ta nhận ra bản t�m l� t�nh gi�c hằng hữu của m�nh, từ đ� tu mới th�nh Phật. Ch�ng ta kh�ng chịu nhận, chỉ chạy theo kinh điển học hết bộ n�y tới bộ nọ, khen bộ n�y hay bộ kia đặc biệt v.v� m� kh�ng biết tất cả bộ đều chỉ t�m của m�nh. Kh�ng nhận t�m lại đi nhận ph�p, như vậy l� khinh t�m trọng ph�p. Trong kinh Phật dụ ph�p như ng�n tay chỉ mặt trăng. Mặt trăng l� g�? L� ch�n t�m. V� muốn ch�ng sanh nhận ra ch�n t�m n�n Phật dạy gi�o ph�p, ch�ng sanh nương ph�p để nhận. B�y giờ m�nh lại kẹt ph�p kh�ng nhận ra t�m giống như người chỉ mặt trăng hướng t�y, ch�ng ta kh�ng chịu ng� hướng t�y để thấy mặt trăng, lại nhận đầu ng�n tay, h�i l�ng với đầu ng�n tay, cho đ� l� mặt trăng.

Người tu ng�y nay giống hệt như vậy, th�ch tụng kinh, tụng bộ n�y qua bộ kia, như vậy l� tu rồi đ�. Phật dạy ch�ng ta tu để trở về t�m, kh�ng chịu trở về t�m cứ lấy kinh đọc ho�i, kh�ng kh�c người muốn thấy mặt trăng m� chỉ qu� ng�n tay, kh�ng nh�n đ�ng mặt trăng. Tu như vậy chừng n�o th�nh Phật? N�i thẳng mếch l�ng, m� kh�ng n�i th� tội nghiệp. Gốc ở chỗ đ� m� kh�ng chịu nh�n, chỉ b�m ngọn ng�nh, phương tiện l�m sao tu h�nh đến nơi đến chốn được.

Phật dạy cho m�nh nhận ra bản t�m để kh�ng c�n chấp th�n n�y l� thật ng�, t�m chạy theo b�ng d�ng s�u trần l� thật t�m. Nhờ kh�ng chấp th�n, chấp t�m mới trở về với thể thật sẵn c�. B�y giờ cứ đọc ho�i, nhưng hỏi kinh dạy g� th� kh�ng biết. Chỉ biết tụng kinh c� phước vậy th�i, chớ kh�ng biết m�nh l� c�ng tử đ� bỏ cha đi, b�y giờ c�n lang thang chưa nhận được cha gi�. �ng cha l� chỉ t�nh gi�c hằng hữu của m�nh. Qu�n t�nh gi�c chạy theo s�u trần l� c�ng tử n�n khổ sở ngh�o n�n. Khi hối hận trở về t�m cha, về tới nh� rồi cũng kh�ng d�m nhận cha nữa. Cũng thế, ch�ng ta tu ph�p g� nhỏ nhỏ lần l�n, chớ kh�ng d�m đi thẳng. Đ� l� diễn đạt người m� qu�n m�nh theo cảnh vật. Nếu trở về th� ch�nh cha đang sẵn chờ, nhưng g� c�ng tử lại kh�ng d�m nhận. Như ch�ng ta c� Phật t�nh sẵn m� lại than mất Phật. C� c�i ch�n thật kh�ng chịu nhớ, rồi than sao sống khổ qu�, chịu kh�ng nổi. Nhiều khi t�m suy nghĩ lanh lợi qu�, hết nghĩ c�i n�y tới nghĩ c�i kia, tới giờ ngủ cũng cứ nghĩ ho�i, ngủ kh�ng được than khổ qu�. Tại sao khổ như vậy? Tại v� chạy theo n� quen rồi, b�y giờ muốn dừng nghĩ kh�ng được, ngồi thiền bữa n�o cũng nghĩ bậy nghĩ bạ. Tại sao nghĩ? V� chứa chấp, nếu bu�ng hết th� ngồi lại chỉ c�n một t�m thanh tịnh s�ng suốt, khoẻ biết chừng n�o. Sửa soạn ngủ th� bu�ng hết mọi việc, ngủ cho an ổn. Tất cả nỗi khổ l� v� ch�ng ta đuổi theo vọng tưởng sanh diệt, b�m v�o b�ng d�ng s�u trần. B�y giờ bu�ng hết trở về bản t�m tức l� Niết-b�n bất sanh bất diệt, kh�ng t�m chỗ n�o hết.

 

CH�NH VĂN:

 

Ph�m nh�n phần nhiều bị cảnh ngại t�m, sự ngại l�, thường muốn trốn cảnh để an t�m , đuổi sự để c�n l�, kh�ng biết ch�nh l� t�m ngại cảnh, l� ngại sự. Chỉ khiến t�m kh�ng, cảnh tự kh�ng, chỉ khiến l� lặng, sự tự lặng, chớ dụng t�m lộn ngược. Ph�m nh�n phần nhiều kh�ng chịu kh�ng t�m, sợ rơi v�o kh�ng, chẳng biết t�m m�nh vốn kh�ng.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y c� một số người đang mắc kẹt, cứ cho rằng cảnh ngại t�m. Ở ch�a đ�ng người, kẻ hơn người thua kẻ phải người quấy, phiền nhiễu qu� n�n kiếm hang hốc chui v� tu một m�nh cho y�n. V� qu� vị ấy nghĩ cảnh ngại t�m, n�n t�m chỗ kh�ng c� cảnh, tu sẽ hết ngại. N�o ngờ v� trong hang hốc lại c� chướng ngại của hang hốc. B�y giờ hết gạo l�m sao đ�y? X�ch d� xuống n�i, xin một �t gạo về, xin một lần đủ chưa? Chưa, lại xin nữa. C� gạo th� phải c� nồi, c� củi� đủ thứ hết. Chừng đ� gặp cảnh kh�ng? Tr�n n�i thiếu nước, kh�ng lẽ m�nh x�ch từ hũ từ hũ uống, th�i mua c�i lu lớn chứa kh� một ch�t. Lu lớn th� nhiều người khi�ng, rủ b� con phụ đưa l�n, từ đ� lần lần họ tới thăm nom. Nhờ Phật tử tới c� tiền mua gạo, th�i cũng tiếp. Bỏ cảnh ch�a nhiều người, l�n n�i ở một m�nh, t� ra c�ng nhiều hơn. Ở ch�a chia ra mười người, m�nh mất th� giờ chỉ một. C�n v� n�i m�nh l�nh trọn cả mười, chừng đ� phiền hơn nữa. Từ chấp cảnh tịnh biến th�nh trở ngại, ban đầu thấy dường như hay sau th�nh qu� dở. Đ� l� chỗ lầm lẫn lớn.

Đến phần sự v� l�. Nhiều người tu sợ sự ngại l� n�n đuổi sự giữ l�. Vậy l� l� g�, sự l� g�? Thế gian thường thường ai n�i chuyện nhiều, m�nh bảo người đ� l� sự qu�. V� dụ t�i n�i đồng hồ n�y đẹp xấu, vu�ng tr�n� đ� l� n�i về sự, về h�nh tướng. C�n l� của đồng hồ l� g�? C� hai trường hợp, l� thường v� l� đạo. L� thường l� đồng hồ kh�ng qu� ở h�nh vu�ng hay tr�n, m� qu� ở chỗ n� chạy đ�ng giờ, nhờ đồng hồ ch�ng ta biết giờ. L� đạo l� đồng hồ giả tướng, do nh�n duy�n hợp tạm c�, l� thật của n� l� kh�ng. Cho n�n Kh�ng ch�nh l� l� đạo.

Muốn t�m l� kh�ng, từ đ�u m� t�m? Ngay nơi tướng đồng hồ thấy được l� kh�ng của n�, như vậy tướng đồng hồ c� ngại g� l� đồng hồ? Tướng c�i nh� c� ngại g� l� c�i nh�, tướng người ngại g� l� người. Ngay nơi sự m�nh thấu l� th� ở đ�u cũng kh�ng ngại. C�n bỏ sự để t�m l� l�m sao t�m được, như l� nh�n duy�n m� bỏ sự tướng l�m sao biết nh�n duy�n. Phải ngay nơi sự nhận ra l�, đ� l� người kh�o tu, c�n sợ chạy trốn l� kh�ng kh�o. Người tu thường c� hai bệnh, thứ nhất l� sợ cảnh l�m nhiễu loạn t�m, thứ hai sợ sự l�m chướng ngại l�, n�n bỏ sự t�m l�. Như vậy đều kh�ng thực tế, đều lầm cả.

Chỉ khiến t�m kh�ng, cảnh tự kh�ng, chỉ khiến l� lặng, sự tự lặng, chớ dụng t�m lộn ngược. Chỉ cần t�m kh�ng chạy theo cảnh th� ở đ�u cũng l� cảnh tốt, kh�ng c� g� chướng ngại, chớ chẳng phải trốn v� hang s�u mới tốt. Thời n�y người th�ch l�m Phật sự th� ở th�nh thị, người muốn tu rục ưa chui v� hang ở một m�nh. Cả hai đều l� bệnh. Ch�ng ta biết tu l� tạo duy�n cho m�nh nghiền ngẫm, thấu triệt l� đạo, thấu triệt lẽ ch�n thật của Phật dạy, đ� l� gốc. T�m kh�ng d�nh với cảnh th� cảnh l�m g� ngại t�m. Nếu t�m như như th� l� sự đ�u chướng ngại nhau. Người bỏ c�i n�y cầu c�i kia l� dụng t�m lộn ngược.

Ph�m nh�n phần nhiều kh�ng chịu kh�ng t�m, sợ rơi v�o kh�ng chẳng biết t�m m�nh vốn kh�ng. Đ�y l� bệnh của người tu. Nhiều người ngồi thiền tới l�c t�m bặt hết lăng xăng, đ�m hoảng kh�ng biết t�m m�nh đ�u mất rồi. T�m ch�n thật vốn kh�ng c� lăng xăng, khi lăng xăng lặng th� t�m thật hiện tiền. Ch�ng ta thấy lăng xăng lặng, sao lại n�i kh�ng t�m? Ngồi y�n thấy r� t�m lăng xăng đang bặt, tai vẫn nghe, mắt vẫn thấy, tại sao n�i kh�ng t�m? Người hoảng l�n n�i mất t�m rồi, l� v� kh�ng biết được lẽ thật. Cho n�n n�i chẳng biết t�m m�nh vốn kh�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Người ngu trừ sự kh�ng trừ t�m, người tr� trừ t�m kh�ng trừ sự.

 

GIẢNG:

 

Người ngu trừ sự kh�ng trừ t�m, người tr� trừ t�m kh�ng trừ sự. Nhiều người n�i nghe thấy thương, như bảo t�i tu rồi kh�ng đồng hồ, kh�ng cần giường tốt, kh�ng cần đồ mới, th�nh ra ai cho đồ mới th� bỏ kh�ng mặc. Đ� l� chấp h�nh tướng, l� trừ sự kh�ng trừ t�m. Đ�y thuộc người ngu kh�ng phải người tr�. Người tr� trừ t�m kh�ng trừ sự. Đừng để t�m m�nh nhiễm tốt xấu, kh�ng mong mỏi qu� tiện, c�i g� cũng được hết. Ai cho th� nhận, cần x�i cứ x�i, kh�ng n�i qu� tiện, đ� l� trừ t�m kh�ng trừ sự. Đ�y mới gọi l� người tr�.

Người biết tu rồi th� t�y duy�n, c�i g� đến th� nhận, t�m kh�ng mong cầu, kh�ng sợ kh�ng ch�. Ai cho c�i xấu kh�ng ch�, cho c�i tốt cũng kh�ng sợ, t�m an nhi�n b�nh thường, như vậy mới đ�ng. C�n sợ c�i n�y cầu c�i kia l� mắc kẹt, v� vậy Tổ quở người ngu trừ sự kh�ng trừ t�m. Người tr� mặc �o tốt t�m kh�ng h�nh diện, kh�ng khoe với thi�n hạ, n�n kh�ng c� lỗi. Nếu mặc �o r�ch để người ta thấy m�nh tu khổ hạnh, tu giỏi, đ� l� lỗi.

Ở đời người ta thường nh�n tướng m� kh�ng hiểu t�m. Người tu phải hiểu t�m m�nh, sự tướng b�n ngo�i kh�ng quan trọng. Đừng để t�m đ�i hỏi c�i tốt, cũng kh�ng c� t�m sợ sệt c�i tốt. Đừng để t�m khoe c�i xấu, cũng đừng c� t�m sợ c�i xấu. được l�nh mặc l�nh, được r�ch mặc r�ch, kh�ng để � g� hết. V� t�m như vậy sống thế n�o cũng kh�ng tội. Nếu hữu t�m dụng � th� c� tội.

 

CH�NH VĂN:

 

Bồ-t�t t�m như hư kh�ng, tất cả đều xả, l�m việc phước đức đều kh�ng tham trước.

 

GIẢNG:

 

T�m Bồ-t�t như hư kh�ng rỗng rang v� tất cả đều xả, hơn thua phải quấy khen ch� xả hết. L�m việc phước đức đều kh�ng khoe, kh�ng chấp, đ� l� kh�ng tham trước.

 

CH�NH VĂN:

 

Nhưng xả c� ba bậc: trong ngo�i th�n t�m tất cả đều xả, v� như hư kh�ng, kh�ng c� chỗ thủ trước, nhi�n hậu t�y phương tiện l�m lợi �ch ch�ng sanh, năng sở đều qu�n, ấy l� đại xả.

 

GIẢNG:

 

Xả c� ba bậc: đại xả, trung xả v� tiểu xả. Người l�m tất cả việc tốt m� t�m như hư kh�ng, kh�ng chấp trước, năng sở đều qu�n đ� l� đại xả. Trong kinh thường gọi bố th� tam lu�n kh�ng tịch, người th�, vật th�, kẻ thọ th� đều kh�ng chấp, được vậy gọi l� đại xả.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu một b�n h�nh đạo bủa đức, một b�n lại xả kh�ng c� t�m mong cầu, ấy l� trung xả.

 

GIẢNG:

 

Trường hợp n�y l� một b�n h�nh đạo bủa đức, tức l�m lợi �ch cho mọi người, một b�n xả hết, kh�ng c� t�m mong cầu. Đ� l� trung xả.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu rộng tu c�c việc thiện c� chỗ mong cầu, nghe ph�p biết kh�ng, n�n mới kh�ng trước, ấy l� tiểu xả.

 

GIẢNG:

 

Người rộng tu c�c việc thiện, mong được phước đời sau, đ� l� mong cầu. Nhưng nghe ph�p biết kh�ng n�n như thế, mới kh�ng tham trước. Nghe ph�p biết tất cả ph�p t�nh l� kh�ng, kh�ng chấp trước. Nghĩa l� ban đầu c� mong cầu, sau tỉnh mới bỏ, đ� l� tiểu xả.

Đối với ch�ng ta, trong ba thứ tiểu xả c�n kh� huống l� đại xả. N�n người học đạo tu h�nh phải biết thật kỹ, tr�n đường tu ch�ng ta đến đ�u, l�m g� cho hợp đạo l�. Đừng để tu m� đi tr�n đường kh�ng đ�ng ch�nh ph�p.

 

CH�NH VĂN:

 

Đại xả như c�y đuốc s�ng để ở trước, lại kh�ng c� m� ngộ. Trung xả như c�y đuốc s�ng để một b�n, hoặc s�ng hoặc tối. Tiểu xả như c�y đuốc s�ng để ph�a sau, kh�ng thấy hầm hố. Cho n�n, Bồ-t�t t�m như hư kh�ng tất cả đều xả; qu� khứ t�m kh�ng thể được l� qu� khứ xả, hiện tại t�m kh�ng thể được l� hiện tại xả, vị lai t�m kh�ng thể được l� vị lai xả. N�n n�i �ba thời đều xả�.

 

GIẢNG:

 

C�y đuốc s�ng để ở trước n�n kh�ng c� ph�a n�o tối, đ� l� Đại xả. C�y đuốc để một b�n th� s�ng được b�n n�y, b�n kia tối, đ� l� Trung xả. C�y đuốc để đ�ng sau, m�nh đi tới kh�ng thấy đường c� thể trật ch�n. V� c�n đắm trước danh văn lợi dưỡng, tuy sau thức tỉnh, nhưng cũng muộn. N�n n�i c�y đuốc đốt để ph�a sau, c� thể sụp hầm hố, đ� l� Tiểu xả.

Cho n�n, Bồ-t�t t�m như hư kh�ng tất cả đều xả; qu� khứ t�m kh�ng thể được l� qu� khứ xả, hiện tại t�m kh�ng thể được l� hiện tại xả, vị lai t�m kh�ng thể được l� vị lai xả. N�n n�i �ba thời đều xả�. Qu� khứ, hiện tại, vị lai t�m kh�ng thể được th� c�n chấp g� nữa, rỗng rang s�ng suốt n�n �ba thời đều xả�. Được vậy l� đại xả.

 

CH�NH VĂN:

Từ đức Như Lai trao ph�p cho Tổ Ca-diếp đến nay, lấy t�m ấn t�m, t�m t�m kh�ng kh�c. Ấn (con dấu) in trong hư kh�ng th� in kh�ng th�nh dấu. Ấn in nơi vật tức ấn kh�ng th�nh ph�p. Cho n�n lấy t�m ấn t�m, t�m t�m kh�ng kh�c. Năng ấn v� sở ấn đều kh� khế hội n�n người được �t. Song, t�m tức v� t�m, được tức kh�ng được.

 

GIẢNG:

 

Chỗ n�y n�i thẳng về c�c Tổ Thiền t�ng. Từ đức Phật trao ph�p cho Tổ Ca-diếp l� lấy t�m ấn t�m. Ấn như con dấu, nếu con dấu ấn trong hư kh�ng th� kh�ng th�nh dấu. Ấn t�m l� sao? T�m của người đệ tử thế n�o, vị thầy thấy đ�ng như thế, đ� l� thừa nhận, l� ấn t�m. Như vậy c�i ấn ấy kh�ng phải in v�o c�y cối, m� in hẳn trong t�m. V� dụ trong sinh hoạt, ch�ng ta hay n�i �t�i đang suy t�nh việc n�y m� chưa ra, giờ muốn b�n với huynh đệ gi�p đỡ�. Khi đ� c� người đưa ra c�ch giải quyết đ�ng � m�nh, ch�ng ta vui vẻ n�i �đ�ng � t�i rồi�, đ� cũng l� ấn t�m, nhưng ấn t�m sanh diệt, kh�ng phải ấn t�m ch�n thật.

Tổ Huệ Khả sau khi được Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy biết lối v�o, Ng�i tự tu cho tới một h�m tr�nh với Tổ Đạt-ma: �Bạch H�a thượng, con dứt hết c�c duy�n.� Tổ Đạt-ma sợ Ng�i lầm chỗ kh�ng t�m n�n n�i �coi chừng rơi v�o kh�ng�. Ng�i liền n�i �r� r�ng thường biết l�m sao kh�ng được�. Tổ bảo �chỗ đ� chư Phật như thế, Ta như thế, �ng cũng như thế�, đ� l� ấn t�m. Ấn chứng như vậy l� d�ng t�m ấn t�m, ấn m� kh�ng c� năng ấn, sở ấn. Ng�i n�i: Cho n�n lấy t�m ấn t�m, t�m t�m kh�ng kh�c. T�m thầy v� t�m tr� kh�ng kh�c nhau.

Năng ấn v� sở ấn đều kh� khế hội n�n người được �t. V� năng ấn v� sở ấn cũng kh�ng c�, kh�ng thể được, chỉ hai b�n in hệt nhau vậy th�i. Kh�ng phải thầy l� năng ấn tr� l� sở ấn, v� nếu c� năng cũng như c� dấu ấn, c� sở như c� tờ giấy trắng để in xuống, chỗ n�y kh�ng năng sở g� hết. Đệ tử tr�nh b�y đ�ng như c�i thấy của thầy. Thừa nhận như vậy l� truyền t�m ph�p ấn.

 

CH�NH VĂN:

 

Phật c� ba th�n: ph�p th�n n�i ph�p tự t�nh rỗng suốt, b�o th�n n�i ph�p tất cả thanh tịnh, h�a th�n n�i ph�p lục độ vạn hạnh. Ph�p th�n n�i ph�p kh�ng thể d�ng ng�n ngữ �m thanh h�nh tướng văn tự m� cầu, kh�ng c� n�i, kh�ng c� chứng, tự t�nh rỗng suốt m� th�i. Cho n�n n�i: �kh�ng ph�p c� thể n�i, ấy gọi l� n�i ph�p�.

 

GIẢNG:

 

Kinh Kim Cang n�i �kh�ng ph�p c� thể n�i, ấy gọi l� n�i ph�p� l� chỉ cho ph�p th�n.

 

CH�NH VĂN:

 

B�o th�n, h�a th�n đều t�y cơ cảm m� hiện, c� n�i ph�p cũng t�y sự hợp cơ để v� nhiếp h�a đều kh�ng phải l� ch�n ph�p.

 

GIẢNG:

 

B�o th�n, h�a th�n l� phương tiện t�y cơ, kh�ng phải l� ch�n ph�p.

 

CH�NH VĂN:

 

Cho n�n n�i: �B�o, Ho� kh�ng phải ch�n Phật, cũng kh�ng phải n�i ph�p.���

 

GIẢNG:

 

Như vậy b�o th�n, h�a th�n n�i ph�p kh�ng phải l� ch�n Phật, v� kh�ng thể n�i thẳng được ph�p th�n.

 

CH�NH VĂN:

 

N�i �đồng l� một tinh minh ph�n l�m s�u h�a hợp�. Một tinh minh l� một t�m. S�u h�a hợp l� s�u căn. S�u căn n�y mỗi c�i c�ng trần hợp. Mắt c�ng sắc hợp, tai c�ng tiếng hợp, mũi c�ng m�i hợp, lưỡi c�ng vị hợp, th�n c�ng x�c hợp, � c�ng ph�p hợp. Khoảng giữa sanh s�u thức l� mười t�m giới. Nếu r� mười t�m giới kh�ng thật c�, tr�i s�u h�a hợp l�m một tinh minh. Một tinh minh l� t�m vậy. Người học đạo đều biết c�i n�y. Chỉ kh�ng thể khỏi c�i hiểu �một tinh minh v� s�u h�a hợp�, b�n bị ph�p tr�i kh�ng thể khế hội bản t�m. Như Lai ra đời muốn n�i nhất thừa ch�n ph�p, ắt ch�ng sanh kh�ng tin sanh ra hủy b�ng ch�m trong biển khổ, nếu ho�n to�n kh�ng n�i th� mắc lỗi san tham, chẳng v� ch�ng sanh chỉ dạy diệu đạo. Ng�i b�n lập phương tiện n�i c� ba thừa, thừa c� đại tiểu, được c� cạn s�u đều kh�ng phải l� bản ph�p. Cho n�n n�i �chỉ c� đạo nhất thừa, c� hai chẳng phải ch�n�. Nhưng, vẫn chưa c� thể hiển b�y một t�m ph�p, cho n�n triệu Ca-diếp đồng trong ph�p t�a ri�ng trao một t�m ph�p rời n�i năng, một nh�nh ph�p n�y khiến ri�ng thực h�nh. Nếu người hay khế ngộ liền đến Phật địa.�����

 

GIẢNG:

 

N�i một tinh minh sanh s�u h�a hợp, đ� l� dẫn trong kinh Lăng Nghi�m. Phật dạy, ch�ng ta c� t�m trong s�ng, hiện ra ở mắt gọi l� c�i thấy ở mắt, hiện ra ở tai gọi l� c�i thấy ở tai v.v� C�i ch�n thật đều hiển lộ qua c�c căn. Cho n�n ở đ�y bảo tr�i s�u căn trở về với một tinh minh, tức gom s�u căn về một tinh minh. Chỗ n�y nếu n�i một tinh minh sanh s�u h�a hợp th� bị ph�p tr�i kh�ng thể khế hội bản t�m. V� vậy ch�ng ta phải tr�i s�u h�a hợp th�nh một tinh minh. Chỗ n�y hết sức quan trọng, tr�n ng�n ngữ nghe thường nhưng tr�n sự tu lại tối quan trọng, tr�i lục h�a hợp th�nh nhất tinh minh. Đ� l� m�nh tr�i ph�p, kh�ng để ph�p tr�i m�nh.

L�m sao tr�i s�u h�a hợp th�nh một tinh minh? Khi mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm v.v� mỗi c�i đều theo trần cảnh, vừa thấy liền khởi thức ph�n biệt, th�nh ra s�u căn, s�u trần, s�u thức hợp lại. B�y giờ tr�i s�u căn trở về một tinh minh l� thấy nghe� s�u c�i đều hoạt động, nhưng kh�ng cho d�nh c�i g� hết. Chỉ sống với một tinh minh l� thấy nghe đủ cả m� liễu liễu thường tri. Kh�ng để thức ph�n biệt c�i n�y d�nh c�i kia, như vậy l� tr�i lại. Nếu tr�i s�u căn trở về một tinh minh l� đến chỗ ch�n thật. Tinh minh th� đ�u phải v� tri gi�c. Tổ Huệ Khả n�i �t�m con dứt hết c�c duy�n�, l� kh�ng d�nh c�c ph�p b�n ngo�i tức Ng�i tr�i s�u căn, kh�ng cho d�nh với s�u trần. Từ tr�i s�u căn kh�ng d�nh với s�u trần bị Tổ Đạt-ma n�i �coi chừng rơi v�o kh�ng�, Ng�i thưa � con r� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng được� tức l� nhận một tinh minh r� r�ng thường biết, chớ đ�u phải kh�ng.

Ch�ng ta ng�y nay th�ch tr�i s�u căn hay th�ch thả s�u căn. Như ở đ�y nghe đ�ng kia c� hoa thơm th� chịu ngồi đ�y hay đi t�m hoa. Hoặc đang ngồi đ�y m� nghe đ�ng kia c� tiếng nhạc hay, l�c đ� ngồi y�n hay chạy lại coi nhạc g� vậy. R� r�ng ch�ng ta thả s�u căn để cho s�u trần xỏ mũi dẫn đi. Nếu ngồi đ�y nghe m�i hoa thơm, nghe tiếng nhạc hay vẫn r� r�ng thường biết, kh�ng th�m d�nh kh�ng th�m chạy, đ� l� tr�i s�u căn trở về nhất tinh minh, hay tr�i s�u h�a hợp trở về nhất tinh minh. N� hay chạy theo, b�y giờ cột lại kh�ng cho chạy, đ� l� tr�i. Ch�ng ta tu l� tr�i lục h�a hợp để trở về nhất tinh minh. Một tinh minh tức l� một t�m. Nếu ch�ng ta n�i một tinh minh sanh ra lục h�a hợp, đ� l� chạy theo ph�p, bị ph�p tr�i rồi.

Tất cả kinh điển đều l� do chư Phật lập phương tiện n�i c� ba thừa. Thừa lại c� đại thừa tiểu thừa, được c� cạn s�u đều l� chẳng phải l� bản ph�p. Bản ph�p l� tr�i lục h�a hợp trở về nhất tinh minh.

Cho n�n dẫn kinh Ph�p Hoa n�i �chỉ c� đạo nhất thừa, c� hai chẳng phải ch�n�. Ch�n l� chỉ c� c�i ch�n thật, c�n thấy hai l� đối đ�i kh�ng phải ch�n. Trong b�i �T�n T�m Minh� Tổ Tăng X�n kết th�c �t�n t�m bất nhị, bất nhị t�n t�m�, nếu tin t�m th� kh�ng hai, c� hai l� chưa tin t�m. Ở đ�y n�i c�n hai th� kh�ng phải ch�n. Ch�ng ta thấy kinh Phật với lời Tổ kh�ng kh�c, kh�t khao, r� r�ng nhưng v� ch�ng ta kh�ng hiểu n�n chấp c�u chấp lời, cho rằng Tổ dạy kh�c, Phật dạy kh�c, thật sự kh�ng phải như vậy.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Thế n�o l� đạo? Tu h�nh thế n�o?

Đ�p: Đạo l� vật g� m� �ng muốn tu h�nh?

Hỏi: C�c nơi t�ng sư truyền nhau tham thiền học đạo l� thế n�o?

Đ�p: Lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa c� thể y cứ.

Hỏi: Đ�y l� lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa biết tiếp dẫn người thượng căn lại n�i ph�p g�?

Đ�p: Nếu l� người thượng căn, tại sao lại đến người kh�c m� t�m, tự m�nh c�n kh�ng thể được huống l� ri�ng c� ph�p xứng t�nh. Kh�ng thấy trong kinh n�i: �ph�p ph�p h�nh trạng g�?

 

GIẢNG:

 

C�u hỏi thứ nhất: Thế n�o l� đạo? Tu h�nh thế n�o? Th�ng thường ai cũng hay hỏi c�u n�y. Đ�p: Đạo l� vật g� m� �ng muốn tu h�nh? Ở đ�y cần phải hiểu chữ đạo cho thật tường tận. Nhiều người cho rằng đạo l� phương ph�p l� con đường. Nhưng sự thực, chữ đạo trong nh� Thiền l� chỉ cho t�m ch�n thật của ch�nh m�nh. Thấy được, nhận được t�m ch�n thật gọi l� thấy đạo hay đạt đạo. T�m ch�n thật vốn của m�nh, đ�u phải vật g� b�n ngo�i m� muốn tu h�nh. Tu l� tu những thứ tạm bợ, giả dối. N�n Tổ trả lời �Đạo l� vật g� m� �ng muốn tu h�nh�. Như vậy chữ đạo ở đ�y chỉ cho t�m thể ch�n thật của ch�ng ta, n� sẵn c�, chỉ đừng bị vọng duy�n, ngoại cảnh l�i cuốn th� đạo hiện tiền. Tu h�nh chẳng qua dẹp duy�n l� đủ.

Hỏi: C�c nơi t�ng sư truyền nhau tham thiền học đạo l� thế n�o? Đ�p: Lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa c� thể y cứ. L�u nay ch�ng ta n�i học đạo, n�i thiền l� n�i với người n�o? N�i với người độn căn. Độn căn l� người kh�ng s�ng. V� vậy ch�ng ta đừng lấy đ� l�m chỗ y cứ.

Hỏi: Đ�y l� lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa biết tiếp dẫn người thượng căn lại n�i ph�p g�?� Những c�u n�i tham thiền học đạo l� tiếp dẫn kẻ độn căn, người thượng căn phải dạy l�m sao?

Đ�p: Nếu l� người thượng căn, tại sao lại đến người kh�c m� t�m, tự m�nh c�n kh�ng thể được huống l� ri�ng c� ph�p xứng t�nh. Nếu người thượng căn th� kh�ng cần đến người kh�c t�m. Tại sao? Bởi v� thượng căn th� nhận ngay nơi t�nh m�nh, t�m m�nh l� chỗ y cứ, l� chỗ ch�n thật. Đ� c� chỗ y cứ c�n đi t�m đ�u nữa. Ch�nh m�nh nhận ra c�n kh�ng c� sở đắc, huống nữa c� ph�p để m�nh được. Đối với người thượng căn, thượng tr� tu l� trở lại với t�m t�nh sẵn c� của m�nh, đ� l� sẵn c� th� c�n t�m đ�u nữa. Kh�ng t�m th� kh�ng c� được. Sở dĩ n�i được l� do t�m, t�m c�i b�n ngo�i chớ kh�ng phải c�i của m�nh, v� vậy n�i tự m�nh c�n kh�ng c� thể được huống l� ri�ng c� ph�p xứng t�nh. Xứng t�nh l� hợp với mong muốn của m�nh. Kh�ng thấy trong kinh n�i: �ph�p ph�p h�nh trạng g�? Tổ dẫn kinh để x�c chứng � n�y.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Nếu như vậy ho�n to�n kh�ng cần t�m kiếm?

Đ�p: Nếu c�ng m�i th� sức t�m tỉnh gi�c.

Hỏi: Như thế th� lẫn th�nh đoạn tuyệt, kh�ng thể l� kh�ng?

Đ�p: Ai dạy kia kh�ng? Kia l� c�i g� �ng nghĩ t�m kia?

Hỏi: Đ� kh�ng cho t�m, cớ sao lại n�i: �chớ đoạn kia�?

Đ�p: Nếu kh�ng t�m liền th�i, ai dạy �ng đoạn? �ng thấy hư kh�ng ở trước mắt, l�m thế n�o để đoạn n�?

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Nếu như vậy ho�n to�n kh�ng cần t�m kiếm? Đ�p: Nếu c�ng m�i th� sức t�m tỉnh gi�c. Từ n�y nghe thật kh� hiểu. Nếu c�ng m�i th� sức t�m tỉnh gi�c nghĩa l� sao? Chỗ đ� kh�ng phải t�m kiếm b�n ngo�i, nhưng biết m�i biết giũa th� t�m tỉnh gi�c c�ng s�ng. Vậy c�i g� m�i, c�i g� giũa? Thật ra ch�ng ta kh�ng c� g� để dụng c�ng, nhưng tr�n thực tế vẫn hằng dụng c�ng. Nghe như m�u thuẫn. Tại sao? Bởi v� nếu c� dụng c�ng, tất nhi�n người dụng c�ng v� c�i bị dụng c�ng kh�c. C�n ở đ�y m�nh tự tỉnh, tự gi�c. Tất cả vọng tưởng phiền n�o dấy khởi, m�nh bu�ng đi kh�ng theo, l�c đ� dường như thấy c� bu�ng bỏ phiền n�o, m� thật ra phiền n�o kh�ng thật, c�i thấy phiền n�o cũng kh�ng thật. Như vậy cả hai đều kh�ng thật. Do ch�ng ta tự tỉnh thấy n� kh�ng thật n�n bu�ng bỏ, chớ kh�ng phải thấy thật rồi cố m�i giũa cho n� sạch.

Trong giai đoạn tu phải dụng c�ng như thế, kh�ng thể n�i t�m m�nh sẵn thanh tịnh l� ta sống thanh tịnh được. R� r�ng b�y giờ n� kh�ng chịu thanh tịnh, lu�n nghĩ bậy nghĩ bạ đ�y. Nếu ch�ng ta để y nguy�n như thế, th� n� nghĩ ho�i l�m sao dẹp được, n�n phương tiện d�ng sức tỉnh gi�c m�i giũa n�. Khi n� lặng th� c�i tỉnh gi�c cũng lặng theo. V� vậy n�i �nếu c�ng m�i th� sức t�m tỉnh gi�c�.�����

Hỏi: Như thế th� lẫn th�nh đoạn tuyệt, kh�ng thể l� kh�ng? C�u hỏi n�y rất c� �. Ch�ng ta m�i giũa tới khi cả hai m�n hết, th� th�nh đoạn tuyệt, chẳng lẽ tu tới kh�ng ngơ?

Đ�p: Ai dạy kia kh�ng? Kia l� c�i g� �ng nghĩ t�m kia?

Ai dạy kia kh�ng, nghĩa l� dạy tới chỗ cuối c�ng l� kh�ng. Kia l� c�i g� �ng nghĩ t�m kia? Đ� l� c�i thật của ch�nh m�nh, ch�ng ta kh�ng thấy, kh�ng nhận l� do vọng tưởng đi�n đảo mờ �m che đậy, buộc l�ng phải m�i giũa. M�i giũa n� ti�u m�n dần, c�i thật hiện ra, đ�u n�i l� kh�ng được.

Hỏi: Đ� kh�ng cho t�m, cớ sao lại n�i �chớ đoạn kia�? Đ�p: Nếu kh�ng t�m liền th�i, ai dạy �ng đoạn? �ng thấy hư kh�ng ở trước mắt, l�m thế n�o để đoạn n�?

Ở đ�y hỏi đ� kh�ng cho t�m, cớ sao lại n�i �chớ đoạn kia�, tức l� chớ đoạn n�. Đ�p nếu kh�ng t�m liền th�i, ai dạy �ng đoạn? Ngừng t�m đuổi t�m l� được, chớ n�i g� đoạn. V� thể t�m ch�n thật kh�ng tướng trạng n�n d�ng h�nh thức hư kh�ng để v� dụ. Hư kh�ng kh�ng c� h�nh tướng l�m sao đoạn, thể t�m cũng thế, l�m sao đoạn được.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Ph�p n�y c� thể đồng với hư kh�ng chăng?

Đ�p: Hư kh�ng sớm chiều đến, �ng n�i c� đồng c� kh�c với ta chăng? Chỉ tạm n�i như thế, �ng b�n nhắm v�o n� m� sanh hiểu.

Hỏi: L� ưng c�ng người sanh hiểu chăng?

Đ�p: T�i kh�ng từng chướng �ng, cốt c�i hiểu thuộc về t�nh, t�nh sanh th� tr� c�ch.

Hỏi: Ở trong đ� chớ sanh t�nh phải chăng?

Đ�p: Nếu kh�ng sanh t�nh ai n�i l� phải?

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Ph�p n�y c� thể đồng với hư kh�ng chăng?

Đ�p: Hư kh�ng sớm chiều đến, �ng n�i c� đồng c� kh�c với ta chăng? Chỉ tạm n�i như thế, �ng b�n nhắm v�o n� m� sanh hiểu.

Trong hư kh�ng buổi s�ng mặt trời l�n th� thấy s�ng, buổi chiều mặt trời lặn th� thấy tối, s�ng tối l� cảnh b�n ngo�i. Hư kh�ng kh�ng s�ng tối, như vậy đồng kh�c với ta chăng? Hư kh�ng l� v� tri, t�nh gi�c l� thường tri. C�i v� tri với c�i thường tri m� hỏi đồng hỏi kh�c l� sao? Đ�y chẳng qua tạm d�ng hư kh�ng để th� dụ, �ng b�n nhằm v�o n� sanh hiểu, tưởng chỗ ch�n thật giống như hư kh�ng. Như vậy kh�ng đ�ng.

Hỏi: L� ưng c�ng người sanh hiểu chăng? Như vậy cho người sanh hiểu chăng?

Đ�p: T�i kh�ng từng chướng �ng, cốt c�i hiểu thuộc về t�nh, t�nh sanh th� tr� c�ch.

C�u n�y đ�p rất r� r�ng. Hỏi �như vậy cho sanh hiểu kh�ng�, Ng�i đ�p t�i kh�ng từng chướng, kh�ng ngăn, kh�ng che �ng, �ng tự muốn hiểu th� cứ hiểu, nhưng c�i hiểu thuộc về t�nh. Cho n�n khi c�c Thiền sư hỏi �hội kh�ng� thường đ�p �chẳng hội�. Chẳng hội m� được, c�n n�i hội th� ăn đ�n. Chẳng hội l� chẳng hiểu, bị v� hiểu tức l� t�nh, m� t�nh sanh th� tr� c�ch, kh�ng c�n tr� ch�n thật hiện tiền.

Ch�ng ta sống thường d�ng t�nh nhiều hơn tr�. C�i g� cũng đặt thức t�nh t�m hiểu, c�ng t�m hiểu th� tr� ch�n thật c�ng lặn mất. Tu được định tr� ch�n thật mới hiện ra. Đ� định th� t�nh c�n kh�ng? T�nh hết. T�nh hết tr� mới hiện. T�m hiểu thuộc về t�nh, c�ng hiểu t�nh c�ng s�u n�n n�i t�nh sanh th� tr� c�ch.

Hỏi: Ở trong đ� chớ sanh t�nh phải chăng? Đ�p: Nếu kh�ng sanh t�nh ai n�i l� phải? Hỏi c� phải kh�ng sanh t�nh chăng? Nếu c�n thấy phải thấy quấy l� c�n t�nh. Nếu kh�ng sanh t�nh th� đừng n�i phải quấy. Đ�y l� chỗ đặc biệt.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Vừa nhằm chỗ H�a thượng n�i ra, l� tại sao lại rơi v�o n�i năng?

Đ�p: �ng tự l� người kh�ng hiểu lời n�i, c� c�i g� l� rơi v�o?

Hỏi:Từ tr�n đến đ�y n�i nhiều như thế đều l� lời phản lại, ho�n to�n chưa từng chỉ b�y thật ph�p cho người?

Đ�p: Thật ph�p kh�ng đi�n đảo, nay chỗ hỏi của �ng tự sanh đi�n đảo, t�m thật ph�p chỗ n�o?

Hỏi: Đ� l� chỗ hỏi tự sanh đi�n đảo th� chỗ đ�p của H�a thượng thế n�o?

Đ�p: �ng h�y tự lấy gương soi mặt m�nh, chớ xem x�t người kh�c. Chỉ giống như con ch� ngu thấy c� tiếng động l� sủa, kh�ng ph�n biệt gi� thổi hay c�y cỏ động.

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Vừa nhằm chỗ H�a thượng n�i ra, l� tại sao lại rơi v�o n�i năng? H�a thượng vừa mới n�i, người nghe lập lại, tại sao lại rơi v�o chỗ n�i năng?

Đ�p: �ng tự l� người kh�ng hiểu lời n�i, c� c�i g� l� rơi v�o? �ng kh�ng hiểu lời n�i, chớ c� g� rơi v�o, chẳng qua l� thấy với chưa thấy th�i, kh�ng c� g� rơi v�o hết.

Hỏi:Từ tr�n đến đ�y n�i nhiều như thế đều l� lời phản lại, ho�n to�n chưa từng chỉ b�y thật ph�p cho người? Đ�p: Thật ph�p kh�ng đi�n đảo, nay chỗ hỏi của �ng tự sanh đi�n đảo, t�m thật ph�p chỗ n�o? Thật ph�p l� kh�ng đi�n đảo m� �ng hỏi quanh hỏi co, hỏi phải hỏi quấy, đ� l� tự đi�n đảo rồi, l�m sao thấy thật ph�p.

Hỏi: Đ� l� chỗ hỏi tự sanh đi�n đảo th� chỗ đ�p của H�a thượng thế n�o? Hỏi đi�n đảo th� chẳng lẽ Ho� thượng đ�p cũng đi�n đảo lu�n sao.

Đ�p: �ng h�y tự lấy gương soi mặt m�nh, chớ xem x�t người kh�c. Chỉ giống như con ch� ngu thấy c� tiếng động l� sủa, kh�ng ph�n biệt gi� thổi hay c�y cỏ động. Ở đ�y Ng�i dạy, �ng h�y tự lấy gương soi mặt m�nh, đừng chạy theo lời n�i, mạch văn của người. Nếu chạy theo người ta th� giống như con ch� ngu thấy tiếng động l� sủa, kh�ng biết gi� hay c�y.

 

CH�NH VĂN:

 

Về Thiền t�ng t�i đ�y từ c�c bậc tiền bối trao truyền đến nay, kh�ng từng dạy người cầu hiểu cầu biết, chỉ n�i �học đạo� l� lời để tiếp dẫn. Nhưng, đạo cũng kh�ng thể học, c�n nghĩ học hiểu trở th�nh m� đạo. Đạo kh�ng c� chỗ nơi gọi t�m Đại thừa. T�m n�y kh�ng ở trong, ngo�i, chặng giữa, thật kh�ng c� chỗ nơi, hay nhất l� kh�ng được khởi hiểu biết.

 

GIẢNG:

 

Đứng về mặt Thiền t�ng, c�c bậc tiền bối trao truyền từ trước đến giờ, kh�ng từng dạy người cầu hiểu cầu biết, chỉ dạy người nhận ra, thấy liền thấy, kh�ng thấy th� th�i, chớ kh�ng cho cầu hiểu biết. Học đạo l� lời n�i để tiếp dẫn người sau th�i. Nhưng đạo cũng kh�ng thể học. C�n nghĩ học hiểu trở th�nh m� đạo. Tại sao? Lẽ ra học hiểu th� th�ng đạo, tại sao m� đạo? V� c�ng học, c�ng hiểu c�ng trở th�nh tr� suy luận, so s�nh, đối chiếu. M� so s�nh đối chiếu th� xa đạo rồi.

Đạo kh�ng c� chỗ nơi gọi t�m Đại thừa. V� đạo kh�ng c� chỗ nơi n�n đạo chỉ cho t�m Đại thừa, t�m th�nh thang rộng lớn của m�nh.

T�m n�y kh�ng ở trong, ngo�i, chặng giữa, thật kh�ng c� chỗ nơi, hay nhất l� kh�ng được khởi hiểu biết. T�m n�y kh�ng c� chỗ nơi v� đặc biệt muốn thấy, muốn gần n� l� đừng khởi hiểu biết. Vừa khởi hiểu biết liền c�ch xa.

Ng�i n�i đi n�i lại, rốt cuộc cũng chỉ cho ch�ng ta thấy nơi mọi người c� t�m thể ch�n thật, kh�ng cho suy luận hiểu biết để m�nh nhận ra t�m ấy. Bởi v� phải lặng dừng tất cả suy luận t�m ấy mới hiện. V� vậy ch�ng ta tu muốn t�m ch�n thật hiển hiện phải dừng tất cả niệm lăng xăng, đối đ�i, ph�n biệt.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ n�i với �ng chỗ t�nh lượng hiện nay, t�nh lượng nếu hết th� t�m kh�ng chỗ nơi. Đạo thi�n ch�n n�y vốn kh�ng danh tự. Bởi v� thế gian kh�ng biết, m� ở trong t�nh. Cho n�n chư Phật ra đời n�i để ph� việc n�y, sợ e c�c �ng kh�ng r�, quyền lập t�n �Đạo�. Kh�ng thể nhận t�n sanh hiểu, n�n n�i �được c� qu�n n�m�. Th�n t�m tự nhi�n đạt đạo, biết t�m, đạt nguồn cội hiệu l� Sa-m�n.

 

GIẢNG:

 

Chỉ n�i với �ng chỗ t�nh lượng hiện nay, t�nh lượng nếu hết th� t�m kh�ng chỗ nơi. T�nh lượng tức l� t�m suy luận hiểu biết. Nếu hết t�m suy luận hiểu biết th� t�m ch�n thật tr�m khắp. T�m suy lượng hiểu biết lu�n đặt tr�n danh tướng. Khi ch�ng ta ph�n biệt t�n đ�, chữ đ�, nghĩa đ� l� danh. Ph�n biệt h�nh n�y, tướng kia đẹp xấu� l� tướng. Tất cả t�nh lượng ph�n biệt đều nằm tr�n danh tướng. Nếu danh tướng t�nh lượng lặng th� t�m th�nh thang bủa khắp, đ� l� đạo.

Cho n�n ở đ�y d�ng chữ �đạo thi�n ch�n� n�y vốn kh�ng danh tự. Tại sao n�i đạo thi�n ch�n? Thi�n ch�n c� hai c�ch hiểu. Thứ nhất, thi�n ch�n l� c�i ch�n nghi�ng một b�n. Thường thường n�i thi�n ch�n l� chỗ đạt được của Nhị thừa, chỉ mới c� một b�n, chưa vi�n m�n. Thứ hai, thi�n ch�n ở đ�y l� c�i ch�n thật sẵn c�. Đạo sẵn c� ch�n thật n�y vốn kh�ng danh tự. N�n đạo thi�n ch�n tức l� đạo sẵn c� ch�n thật. Người thế gian kh�ng hiểu n�n m� trong t�nh.

Cho n�n chư Phật ra đời th� n�i để ph� việc n�y, sợ e c�c �ng kh�ng r� quyền lập t�n đạo. Ch�ng ta sẵn c� đạo ch�n thật, kh�ng t�n tuổi, kh�ng danh tự, người thế gian kh�ng biết m� lầm trong t�nh chấp. Cho n�n chư Phật ra đời để ph� chấp n�y, quyền lập t�n �đạo�. Kh�ng thể nhận t�n sanh hiểu, n�n n�i �được c� qu�n n�m�. Ch�ng ta tu phải nhận ra chỗ ch�n thật, kh�ng n�n sanh th�m hiểu biết ph�n biệt n�o, v� vậy n�i �được c� qu�n n�m�. Như người cầm n�m đi n�m, cốt được c� chớ kh�ng phải được n�m. Cho n�n khi được c� th� qu�n n�m. Ch�ng ta cũng vậy, nhận ra đạo th� qu�n hết danh tự, d� danh tự đạo cũng kh�ng c�n. Nếu c�n b�m v�o danh tự l� c�n giữ n�m m� kh�ng giữ c�.

Th�n t�m tự nhi�n đạt đạo, biết t�m đạt nguồn cội hiệu l� Sa-m�n. Sa-m�n l� g�? �Thức t�m đạt bản nguy�n danh vi Sa-m�n.� Hiểu được t�m, đạt được nguồn cội gọi l� Sa-m�n. Người tu m� kh�ng hiểu t�m, kh�ng thấu suốt được nguồn cội th� chưa xứng l� người tu. V� vậy Tổ dẫn kinh Tứ Thập Nhị Chương nhắc c�u n�y.

 

CH�NH VĂN:

 

Quả Sa-m�n l� dứt duy�n lự m� th�nh, kh�ng phải từ học m� được.

 

GIẢNG:

 

Quả của Sa-m�n c� nhiều bậc. Th� dụ như Tứ quả Sa-m�n l� Tu-đ�-ho�n, Tư-đ�-h�m, A-na-h�m, A-la-h�n. Ri�ng quả Sa-m�n ở đ�y l� quả đạt đạo tuyệt cao, kh�ng phải do t�m ph�n biệt so s�nh đối đ�i m� th�nh. Cho n�n n�i kh�ng phải học m� được.

 

CH�NH VĂN:

 

�ng nay đem t�m cầu t�m, b�n cạnh nh� người chỉ toan học lấy, c� khi n�o được.

 

GIẢNG:

 

Nếu đem t�m cầu t�m, c� khi n�o được. Muốn được t�m ch�n thật tự m�nh phải bu�ng hết mọi thứ ph�n biệt vọng lự, th� t�m ch�n thật hiện tiền. B�n cạnh nh� người chỉ toan học lấy l� đến nh� c�c bậc thầy cầu mong chỉ dạy, như thế trọn chẳng thể được.

 

CH�NH VĂN:

 

Người xưa t�m lanh lợi vừa nghe một c�u b�n dứt học, cho n�n n�i l� �tuyệt học v� vi nh�n đạo nh�n�.

 

GIẢNG:

 

Người xưa nghe một c�u b�n dứt học, gọi l� tuyệt học v� vi nh�n đạo nh�n. Ng�i Huyền Gi�c n�i c�u n�y để nhắc ch�ng ta đến chỗ ch�n thật rồi kh�ng c�n học l� tuyệt học, v� vi l� kh�ng c�n mọi động t�c, mọi suy luận. được như thế gọi l� nh�n đạo nh�n, đạo nh�n thảnh thơi kh�ng c�n bận bịu việc g�.

 

CH�NH VĂN:

 

Người thời nay chỉ muốn được biết nhiều hiểu rộng, rộng cầu văn nghĩa, bảo l� tu h�nh, kh�ng biết biết nhiều hiểu rộng trở th�nh b�t lấp.

 

GIẢNG:

 

Tại sao biết nhiều, hiểu rộng lại trở th�nh b�t lấp? Bởi v� ch�ng ta học nhiều, nhớ nhiều th� c�ng che c�i ch�n thật của ch�nh m�nh, cho n�n gọi l� b�t lấp. Nếu t�m trống rỗng kh�ng c�n g� che đậy, t�m ch�n thật sẽ hiện ra.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỉ cần biết nhiều s�nh với trẻ con ăn t� ăn sữa, trọn kh�ng biết ti�u c�ng chẳng ti�u.

 

GIẢNG:

 

Người muốn biết thật nhiều, thuộc l�ng tam tạng kinh điển, giống như mấy đứa b� th�ch ăn bơ, ăn sữa. N� kh�ng biết ăn nhiều kh�ng ti�u sẽ th�nh bệnh. Ch�ng ta cũng vậy, cứ ngỡ rằng học nhiều, hiểu rộng l� hay, kh�ng ngờ ch�nh học nhiều hiểu rộng lại trở th�nh b�t lấp.

 

CH�NH VĂN:

 

Người học đạo tam thừa đều giống như thế, chung gọi l� ăn kh�ng ti�u. N�n n�i �hiểu biết kh�ng ti�u đều l� thuốc độc�. Ho�n to�n nhằm trong sanh diệt m� lấy, trong ch�n như trọn kh�ng c� việc n�y. N�n n�i �trong kho vua của ta kh�ng c� đạo như thế�. Từ trước c� tất cả chỗ hiểu biết cần phải dẹp sạch, khiến kh�ng, lại kh�ng ph�n biệt tức l� Kh�ng Như Lai Tạng.

 

GIẢNG:

 

Người học đạo tam thừa đều giống như thế, chung gọi l� ăn kh�ng ti�u, học nhiều qu� ti�u h�a kh�ng nổi gọi l� ăn kh�ng ti�u. N�n n�i �hiểu biết kh�ng ti�u đều l� thuốc độc�, tất cả hiểu biết nhiều m� kh�ng ti�u h�a nổi th� trở th�nh thuốc độc.

Ho�n to�n nhằm trong sanh diệt m� lấy, trong ch�n như trọn kh�ng c� việc n�y, học hiểu t�m kiếm ph�n biệt� tất cả những thứ ấy đều nằm trong sanh diệt, kh�ng phải thể ch�n như.

N�n n�i �trong kho vua của ta kh�ng c� đạo như thế�, trong kho vua kh�ng c� đạo như thế, kh�ng c� học lăng xăng như vậy.

Từ trước c� tất cả chỗ hiểu biết cần phải dẹp sạch, khiến kh�ng, lại kh�ng ph�n biệt tức l� Kh�ng Như Lai Tạng. Sao gọi l� Như Lai Tạng? Sao gọi l� Kh�ng Như Lai Tạng? Khi kh�ng c�n d�nh chấp, kh�ng c�n khởi ph�n biệt gọi l� Kh�ng Như Lai Tạng. Như Lai l� Phật, Tạng l� kho. Như Lai Tạng l� kho của Phật. Kho của Phật chứa g�? Kho của Phật trống rỗng th�nh thang, cho n�n gọi l� Kh�ng Như Lai Tạng.

C�n kho ch�ng ta chứa g�? Chứa đủ thứ b� nạp, tốt xấu hay dở kh�ng thiếu thứ g�. Bởi vậy n�n gọi l� tạng hay t�ng thức. T�ng thức đối với Duy Thức học gọi l� thức thứ t�m, chứa tất cả chủng tử thiện �c, đ� l� những thứ ph�n biệt n�n gọi l� thức. Khi ta dẹp hết tất cả chủng tử thiện �c rồi gọi đ� l� Kh�ng Như Lai Tạng.

 

CH�NH VĂN:

 

Như Lai Tạng lại kh�ng một mảy bụi c� thể c�, tức l� vị Ph�p vương ph� hữu xuất hiện ở thế gian, cũng n�i rằng: �Ta ở chỗ Phật Nhi�n Đăng kh�ng c� một ch�t ph�p c� thể được.�

 

GIẢNG:

 

Như Lai Tạng kh�ng một mảy bụi c� thể c�, nghĩa l� kh�ng c�n một mảy bụi mới gọi l� Như Lai Tạng. Nếu kh�ng c�n một mảy bụi th� gọi l� vị Ph�p vương ph� hữu xuất hiện ở thế gian. Ph�p vương ph� hữu l� g�? L� �ng vua ph�p dẹp hết những c�i c� ở thế gian. Cũng n�i rằng �Ta ở chỗ Phật Nhi�n Đăng kh�ng c� một ch�t ph�p c� thể được�, đ�y dẫn kinh Kim Cang để n�i đức Phật l� vị Ph�p Vương Ph� Hữu xuất hiện ở thế gian.

 

CH�NH VĂN:

 

Lời n�i n�y chỉ l� kh�ng. T�nh lượng hiểu biết của �ng cần được ti�u dung, trong ngo�i t�nh hết, trọn kh�ng y chấp l� người v� sự.

 

GIẢNG:

 

Những lời dẫn từ trước đến đ�y, cốt chỉ cho ch�ng ta thấy l� kh�ng, kh�ng một ph�p, như vậy tất cả t�nh lượng, hiểu biết cần phải ti�u dung. Ti�u dung l� dọn dẹp ti�u ho� hết, kh�ng c�n g� lợn cợn nữa. Trong ngo�i t�nh hết, ở trong ở ngo�i đều kh�ng c�n t�nh chấp. Trọn kh�ng y chấp l� người v� sự, tức kh�ng c� g� để d�nh mắc nữa l� người v� sự. Người v� sự l� người thế n�o? Chắp tay ra sau đi tới đi lui thong thả, ng� trời ng� m�y l� người v� sự chăng? Ng� trời ng� m�y m� trong đầu lăng xăng, c� phải v� sự chưa? Th�n th� thấy như v� sự m� thực t�m chưa v� sự. V� sự l� tất cả t�nh chấp kh�ng c�n, trong ngo�i đều dứt sạch, ch�nh chỗ đối cảnh v� t�m mới l� người v� sự.

 

CH�NH VĂN:

 

Cương yếu gi�o l� tam thừa chỉ l� thứ thuốc hợp cơ, t�y nghi n�i ra, tạm thời lập b�y, mỗi mỗi kh�ng đồng, chỉ cần r� biết th� kh�ng bị m� hoặc l� hay bậc nhất. Kh�ng được b�n một cơ, một gi�o chấp văn nhận hiểu. Tại sao như thế? Thật kh�ng c� ph�p nhất định Như Lai c� thể n�i.

 

GIẢNG:

 

Ở đ�y Ng�i muốn n�i cho ch�ng ta hiểu, sở dĩ Phật giảng dạy c� chia ra tam thừa Phật gi�o, hoặc ngũ thừa Phật gi�o l� v� đối bệnh cho thuốc, chớ chưa phải chỗ cứu k�nh. Bởi hợp cơ cho n�n t�y nghi n�i ra, tạm thời lập b�y, mỗi mỗi kh�ng đồng n�n ph�p n�y kh�c ph�p kia. Chỉ cần r� biết th� kh�ng m� hoặc, ch�ng ta cần biết những ph�p ấy Phật phương tiện t�y cơ m� thuyết. Biết r�nh rẽ như vậy, kh�ng lầm lẫn l� hay bậc nhất.

Gần đ�y t�i c� một c�i nh�n, như h�ng Thanh văn lấy ph�p B�t ch�nh đạo l�m căn bản, Duy�n gi�c lấy Mười hai nh�n duy�n l�m căn bản. Trong B�t ch�nh đạo thứ nhất l� Ch�nh kiến, kế đến l� Ch�nh tư duy, Ch�nh ngữ, Ch�nh nghiệp, Ch�nh mạng, Ch�nh tinh tấn, Ch�nh niệm, tới Ch�nh định th� dừng. C�n Đại thừa lấy Lục độ l�m căn bản. Lục độ gồm Bố th�, Tr� giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Tr� tuệ. Như vậy hai b�n kh�c nhau chỗ n�o?

Theo Thanh văn, bước đầu l� Ch�nh kiến, nhận định đ�ng với Ch�nh ph�p, đ�ng với l� Tứ đế. Muốn thế phải c� tr� tuệ mới Ch�nh kiến được. Tr� tuệ ở đ�u ra? Phật dạy �c�c ngươi h�y thắp đuốc l�n m� đi, thắp l�n với ch�nh ph�p�. Tr� tuệ đ� từ học m� được. C�c h�ng Thanh văn nhờ nghe, nhờ học kinh Phật m� c� nhận định đ�ng, th�nh ra tr� đ� l� tr� hữu học. Từ tr� hữu học đi lần lần l�n thấy đ�ng, nghĩ đ�ng, n�i đ�ng, l�m đ�ng, sống đ�ng, tu h�nh đ�ng tới ch�nh định th� dừng. Tại sao? Bởi v� Thanh văn tu muốn cầu Niết-b�n, cứu k�nh Niết-b�n của Thanh văn l� Diệt tận định, cho n�n dừng lại ở định.

Bồ-t�t bắt đầu từ Bố th�, kế đến l� Tr� giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Tr� tuệ. Với tinh thần Đại thừa, trước hết d�ng l�ng Từ bi, do d�ng Từ bi n�n bố th�. Bố th� dẹp c�i g�? Dẹp tham. Kế đến Tr� giới l� bảo vệ cho ch�ng ta tr�nh những lỗi lầm. Nhẫn nhục để trừ s�n. Tinh tấn, Thiền định, Tr� tuệ diệt hết si. Như vậy tr� tuệ của Lục độ từ đ�u ra? Từ Thiền định m� được, n�n tr� tuệ đ� l� tr� tuệ v� sư. Bồ-t�t ban đầu đi từ t�m từ bi, lần lần tới diệt tham, s�n, si, cuối c�ng tr� tuệ ch�n thật hiện. Ph�n biệt sự kh�c nhau tr�n ph�p tu của hai b�n Thanh văn v� Bồ-t�t, ch�ng ta mới thấy hai gi�o l� sai biệt nhau ở mục đ�ch cứu k�nh.

Người tu Bồ-t�t đạo khi được tr� tuệ rồi, biết tr� tuệ ấy đ�u phải ri�ng m�nh c�, ai cũng sẵn v� n� l� tr� v� sư. Do đ� mọi người đều c� khả năng th�nh Phật, v� vậy c�c ng�i kh�ng nhập Niết-b�n m� chấp nhận đi trong sanh tử để độ ch�ng sanh. C�n c�c vị Thanh văn tu học từ Tứ đế được Diệt tận định, n�n muốn ra khỏi sanh tử nhập Niết-b�n. Một b�n hết duy�n nhập Niết-b�n. Một b�n nhận ra tr� tuệ v� sư, lăn l�c v�o đời độ ch�ng sanh. Đ� l� chỗ kh�c biệt giữa Tiểu thừa v� Đại thừa.

Hiểu vậy mới thấy gi�o l� của Phật c� từng chặng, n�n n�i gi�o l� Tam thừa chỉ l� phương ph�p khế cơ th�i. Ở đ�y chỉ thẳng cho ch�ng ta biết tới chỗ cuối c�ng kh�ng c�n tất cả những suy nghĩ luận b�n. N�n n�i �thật kh�ng c� ph�p nhất định Như Lai c� thể n�i�, chẳng qua chỉ l� phương tiện.

 

CH�NH VĂN:

 

T�ng m�n của t�i đ�y chẳng b�n việc n�y, chỉ biết dứt t�m liền th�i, kh�ng cần suy trước t�nh sau.

 

GIẢNG:

 

Tổ bảo t�ng m�n của Ng�i chỉ cần dứt t�m, kh�ng cần suy trước t�nh sau. Chỗ n�y đơn giản m� kh�. V� dụ như người bị bệnh �i nặng, Phật dạy họ qu�n th�n bất tịnh. Qu�n đến khi n�o gớm n� th� bớt �i, như vậy dễ trừ. C�n ở đ�y kh�ng n�i bệnh g� hết, miễn niệm dấy l�n liền bỏ. Ch�ng ta bỏ ho�i m� kh�ng thấy hết n�n n�i kh�. C�ng đơn giản c�ng kh�. Cũng thế, ch�n l� rất đơn giản cho n�n kh� t�m. C�i g� m�u sắc hoa h�e t� điểm b�n ngo�i, dễ t�m n�n người ta th�ch, nhưng n� kh�ng phải ch�n l�. Ch�n l� l� lẽ thật, rất đơn giản. Hiểu vậy ch�ng ta thấy lối tu chỉ biết dứt t�m liền th�i l� qu� đơn giản, v� thế n�n kh�. Đ� l� con đường tắt. Kh� m� bền ch� tu cũng sẽ th�nh tựu. C�n dễ l� con đường quanh, đi kh�ng kh�o l�ng v�ng m�i kh�ng biết bao giờ mới về đến nh�. Như người leo n�i, đi thẳng l�n kh�, c�n đi v�ng v�ng dễ hơn. Việc tu của ch�ng ta cũng giống như vậy. Hiểu rồi mới bền ch�, mới quyết t�m tu. Nếu kh�ng hiểu th� tu l�u thấy mệt mỏi sanh ra ch�n ng�n. Người kh�o tu biết bu�ng bỏ những g� d�nh mắc, che lấp th� tự s�ng th�i.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Từ trước đến nay đều n�i �tức t�m l� Phật�, chưa biết tức t�m n�o l� Phật?

Đ�p: �ng c� bao nhi�u thứ t�m?

Hỏi: Tức t�m ph�m l� Phật hay tức t�m Th�nh l� Phật?

Đ�p: �ng chỗ n�o c� t�m ph�m th�nh?

Hỏi: Nay trong tam thừa n�i c� ph�m th�nh, Ho� thượng đ�u được n�i kh�ng?

Đ�p: Trong tam thừa r� r�ng n�i với �ng �t�m ph�m th�nh l� vọng�, nay �ng kh�ng hiểu trở lại chấp l� c�, đem kh�ng l�m thật, đ�u kh�ng phải l� vọng, vọng n�n m� t�m. �ng chỉ trừ dẹp t�nh ph�m cảnh th�nh, ngo�i t�m kh�ng c� Phật kh�c, Tổ sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng mọi người to�n thể l� Phật. Nay �ng kh�ng biết chấp ph�m chấp th�nh, nhằm ngo�i chạy t�m, trở lại m� t�m m�nh, v� thế n�n đến �ng n�i �tức t�m l� Phật�. Một niệm t�nh sanh liền sa v�o c�i kh�c, từ v� thủy đến giờ kh�ng kh�c ng�y nay. Kh�ng c� ph�p kh�c n�n gọi th�nh Đẳng Ch�nh Gi�c.

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Từ trước đến nay đều n�i �tức t�m l� Phật�, chưa biết tức t�m n�o l� Phật?

Đ�p: �ng c� bao nhi�u thứ t�m? Hỏi t�m n�o l� Phật, Ng�i hỏi lại �ng c� bao nhi�u thứ t�m?

Hỏi: Tức t�m ph�m l� Phật hay tức t�m Th�nh l� Phật?

Đ�p: �ng chỗ n�o c� t�m ph�m th�nh?

Hỏi: Nay trong tam thừa n�i c� ph�m th�nh, Ho� thượng đ�u được n�i kh�ng? Tam thừa n�i r� r�ng c� ph�m th�nh, nếu người tu Thiền từ Sơ thiền tới Tứ thiền thuộc về Ph�m phu thiền. Từ Tứ thiền trở l�n bước qua Th�nh quả, c� ph�m c� th�nh. C�n Bồ-t�t từ thập t�n, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng thuộc về Hiền, từ sơ địa cho tới thập địa� thuộc về Th�nh. R� r�ng từ gi�o l� Nhị thừa tới gi�o l� Đại thừa đều n�i c� ph�m th�nh. Tại sao Ng�i n�i kh�ng ph�m th�nh.

Đ�p: Trong tam thừa r� r�ng n�i với �ng �t�m ph�m th�nh l� vọng�, trong tam thừa gi�o l� cũng n�i t�m ph�n biệt ph�m, t�m ph�n biệt th�nh l� t�m vọng. Nay �ng kh�ng hiểu trở lại chấp l� c�, đem kh�ng l�m thật, đ�u kh�ng phải l� vọng, vọng n�n m� t�m. V� �ng c�n chấp hai b�n ph�m th�nh, đ� l� vọng n�n c�n m� t�m. �ng chỉ trừ dẹp t�nh ph�m cảnh th�nh, ngo�i t�m kh�ng c� Phật kh�c, b�y giờ hai b�n ph�m th�nh đều dẹp hết. N�i dẹp phải quấy hơn thua th� dễ, chớ dẹp ph�m th�nh hơi kh�. Dẹp được phải quấy hơn thua cũng l� hạng kh�, huống nữa l� dẹp t�nh ph�m cảnh th�nh. Nếu dẹp được t�nh ph�m cảnh th�nh th� kh�ng c�n Phật n�o kh�c nữa, đ� l� Phật rồi. Cho n�n n�i ngo�i t�m ch�n thật kh�ng c� Phật kh�c.

Tổ sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng mọi người to�n thể l� Phật. Nay �ng kh�ng biết chấp ph�m chấp th�nh, nhằm ngo�i chạy t�m, trở lại m� t�m m�nh, v� thế n�n đến �ng n�i �tức t�m l� Phật�. Ở đ�y dẫn lời của Tổ Đạt-ma chỉ dạy. Ng�i chỉ thẳng mọi người to�n thể l� Phật. Nay �ng kh�ng biết chấp ph�m chấp th�nh, nhằm ngo�i chạy t�m tức chạy ra ngo�i t�m ph�m t�m th�nh, trở lại m� t�m m�nh tức qu�n t�m, v� thế buộc l�ng phải n�i với �ng �tức t�m l� Phật�. N�i thế để nhớ t�m m�nh l� Phật, kh�ng thể bỏ n� t�m Phật b�n ngo�i được.

Một niệm t�nh sanh liền sa v�o c�i kh�c, từ v� thủy đến giờ kh�ng kh�c ng�y nay, thể ch�n thật hay t�m Phật của m�nh từ xưa đến giờ kh�ng đổi thay t� n�o hết. Nếu người c� niệm ph�n biệt suy t�nh liền rơi v�o c�i kh�c.

Kh�ng c� ph�p kh�c n�n gọi th�nh Đẳng Ch�nh Gi�c. Đẳng l� ngang nhau, được Ch�nh gi�c bằng nhau chớ kh�ng c� cao thấp ri�ng kh�c.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Ho� Thượng n�i �tức� l� đạo l� g�?

Đ�p: T�m đạo l� g�? Vừa c� đạo l� b�n tức t�m kh�c.

Hỏi: Tr�n n�i �từ v� thủy đến giờ kh�ng kh�c ng�y nay�, l� n�y thế n�o?

Đ�p: Chỉ v� t�m n�n �ng tự kh�c người, �ng nếu kh�ng t�m th� chỗ n�o c� kh�c?

Hỏi: Đ� l� kh�ng kh�c sao lại phải n�i �tức�?

Đ�p: �ng nếu kh�ng nhận ph�m th�nh th� ai đến �ng n�i �tức�? Tức như kh�ng tức, t�m cũng chẳng t�m, n�n trong ấy t�m tức đều qu�n, người n�o lại nghĩ, nhằm chỗ n�o t�m?

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Ho� Thượng n�i �tức� l� đạo l� g�?

Đ�p: T�m đạo l� g�? Vừa c� đạo l� b�n tức t�m kh�c. Vừa thấy c� đạo l� l� t�m kh�c, chớ kh�ng c�n tức t�m l� Phật nữa.

Hỏi: Tr�n n�i �từ v� thủy đến giờ kh�ng kh�c ng�y nay�, l� n�y thế n�o?

Đ�p: Chỉ v� t�m n�n �ng tự kh�c người, �ng nếu kh�ng t�m th� chỗ n�o c� kh�c? V� ch�ng ta chạy t�m n�n th�nh kh�c. Nếu kh�ng t�m kiếm th� c� g� kh�c.

Hỏi: Đ� l� kh�ng kh�c sao lại phải n�i �tức�?

Đ�p: �ng nếu kh�ng nhận ph�m th�nh th� ai đến �ng n�i �tức�? Tại �ng n�i t�m n�y l� ph�m, t�m kia l� th�nh, n�n n�i tức ph�m l� th�nh.

Tức như kh�ng tức, t�m cũng chẳng t�m, n�n trong ấy t�m tức đều qu�n, người n�o lại nghĩ, nhằm chỗ n�o t�m? Tới chỗ cuối c�ng chữ tức cũng phải bu�ng, chữ t�m cũng phải bỏ, cả hai đều hết. Như vậy kh�ng cần t�m kiếm ở đ�u.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Vọng hay chướng t�m m�nh, chưa biết nay n�n lấy c�i g� dẹp vọng?

Đ�p: Khởi vọng dẹp vọng cũng th�nh vọng. Vọng vốn kh�ng gốc, chỉ nh�n ph�n biệt m� c�, �ng chỉ n�n đối hai chỗ ph�m th�nh t�nh chấp hết, tự nhi�n kh�ng vọng. Nếu v� dẹp n� trọn kh�ng được c� một mảy y chấp, gọi l� �ta bỏ hai c�nh tay ắt sẽ được Phật�.

Hỏi: Đ� kh�ng y chấp th� truyền trao thế n�o?

Đ�p: Lấy t�m truyền t�m.

Hỏi: Nếu t�m truyền nhau tại sao n�i t�m cũng kh�ng?

Đ�p: Kh�ng được một ph�p gọi l� truyền t�m, nếu r� t�m n�y tức l� kh�ng t�m kh�ng ph�p.

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Vọng hay chướng t�m m�nh, chưa biết nay n�n lấy c�i g� dẹp vọng?

Đ�p: Khởi vọng dẹp vọng cũng th�nh vọng. Vọng vốn kh�ng gốc, chỉ nh�n ph�n biệt m� c�, �ng chỉ n�n đối hai chỗ ph�m th�nh t�nh chấp hết, tự nhi�n kh�ng vọng. Nếu v� dẹp n� trọn kh�ng được c� một mảy y chấp, gọi l� �ta bỏ hai c�nh tay ắt sẽ được Phật�. N�i khởi vọng dẹp vọng cũng th�nh vọng. Vừa thấy vọng ch�ng ta khởi dẹp n�, như vậy c�i khởi dẹp cũng l� vọng. Nhưng nếu vọng khởi m�nh kh�ng dấy niệm bỏ, l�m sao n� hết, cho n�n giai đoạn đầu phải phương tiện d�ng c�i n�y bỏ c�i kia.

Nhưng khi ch�ng ta tu s�u rồi, vọng vừa dấy m�nh nh�n n� mất. Qu� vị đừng cố đ�, đừng cố dẹp, chỉ thấy n� bu�ng th�i, đừng theo l� được. Tại sao đừng đ� đừng dẹp? Bởi v� n� c� thật đ�u m� đ�, c� thật đ�u m� dẹp, chẳng qua biết n� hư dối kh�ng theo l� được rồi. Vọng vốn kh�ng gốc, kh�ng thật, chỉ nh�n ph�n biệt m� c�. Cho n�n Tổ dạy �ng chỉ n�n đối hai chỗ ph�m th�nh t�nh chấp hết, tự nhi�n kh�ng vọng. Tất cả hai b�n: phải quấy, hơn thua, tốt xấu, đ�ng sai, ph�m th�nh� đều kh�ng d�nh b�n n�o th� vọng tự hết. Ngược lại, nếu kẹt một b�n, b�n n�y hoặc b�n nọ th� vọng kh�ng bao giờ hết.

Nếu v� dẹp n� trọn kh�ng được c� một mảy y chấp, gọi l� �ta bỏ hai c�nh tay ắt sẽ được Phật�. Tổ dẫn h�nh ảnh Bồ-t�t chặt hai c�nh tay để c�ng dường, đ�y l� để n�i � bỏ hai b�n. Hai b�n kh�ng c�n d�nh, kh�ng c�n kẹt, kh�ng c�n chấp, đ� l� Phật. C� người bảo khởi nghĩ l� vọng, dừng nghĩ l� ch�n, cho n�n bỏ vọng cầu ch�n. Bỏ vọng cầu ch�n th� c�n hai b�n hay một b�n? Cũng l� hai b�n. N�i vọng n�i ch�n l� phương tiện, chớ kh�ng phải thật. Chỉ vọng lặng hết tự n� l� ch�n, c�i ch�n cũng kh�ng c�n ch�n, v� đối với vọng n�n gọi ch�n. Vọng hết th� c�n gọi l� g�? N� l� t�m thể ch�n thật hiện tiền, kh�ng n�i vọng, n�i ch�n g� hết.

C�ng dường hai c�nh tay l� bỏ chấp hai b�n. Kinh Đại thừa c� những h�nh ảnh người ta dễ hiểu lầm. N�i Bồ-t�t bố th� hai c�nh tay, ta tưởng đ�u bỏ hai c�nh tay được Phật thọ k�. Th�ch qu� h�m n�o ta cũng chặt tay để được Phật thọ k�. Nhưng m�nh chặt tay rồi th� th�nh người cụt tay, chớ kh�ng ai thọ k� cho đ�u.��

Hỏi: Đ� kh�ng y chấp th� truyền trao thế n�o?

Đ�p: Lấy t�m truyền t�m.

Hỏi: Nếu t�m truyền nhau tại sao n�i t�m cũng kh�ng?

Đ�p: Kh�ng được một ph�p gọi l� truyền t�m, nếu r� t�m n�y tức l� kh�ng t�m kh�ng ph�p.

Truyền t�m l� người kh�ng c�n d�nh chấp n�o, t�m thể hiện tiền, nghe người kia tr�nh b�y chỗ kh�ng c�n d�nh mắc của họ, hai b�n th�ng cảm nhau gọi l� lấy t�m truyền t�m. Tổ Đạt-ma truyền ph�p cho Tổ Huệ Khả. Tổ Huệ Khả n�i �ng�y nay con dứt hết c�c duy�n�, nghĩa l� kh�ng c�n ch�t d�nh mắc n�o. Tổ Đạt-ma sợ dứt hết c�c duy�n lại chấp kh�ng, n�n n�i �coi chừng rơi v�o kh�ng�. Tổ Huệ Khả n�i �r� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng được�. Dứt hết c�c duy�n m� t�m vẫn r� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng. Tổ Đạt-ma n�i ��ng như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế�, đ� l� truyền t�m. Như vậy c� truyền g� kh�ng? Thường n�i truyền trao l� đem gậy, đem b�t, đem y trao cho gọi l� truyền. C�n ở đ�y �ng thấy như vậy đ�ng với c�i thấy của ta, ta thấy đ�ng với c�i thấy của Phật. Đ� l� thừa nhận chỗ hợp nhau, gọi l� truyền, chớ kh�ng phải đem c�i g� ra truyền cho người.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Nếu kh�ng t�m kh�ng ph�p, thế n�o l� truyền?

Đ�p: �ng nghe n�i truyền t�m b�n cho l� c� khả đắc. Sở dĩ Tổ sư n�i: �Khi nhận được t�m t�nh n�n n�i kh�ng nghĩ b�n, r� r�ng kh�ng sở đắc, khi được kh�ng n�i biết.� Việc n�y nếu đem dạy, �ng đ�u kham l�nh hội.

Hỏi: Như hư kh�ng ở trước mắt, thật kh�ng phải cảnh, sao kh�ng chỉ cảnh để thấy được t�m?

Đ�p: T�m g� m� dạy �ng nhằm tr�n cảnh thấy? Giả sử �ng thấy được chỉ l� c�i t�m chiếu cảnh. Như người d�ng gương soi mặt, cho d� thấy được m�y mắt r� r�ng, nhưng thật ra chỉ l� b�ng d�ng, đ�u quan hệ g� việc của �ng?

Hỏi: Nếu kh�ng nh�n chiếu khi n�o được thấy?

Đ�p: Nếu vậy li�n hệ đến nh�n thường phải nhờ vật, c� khi n�o được liễu ngộ. �ng kh�ng thấy người đến �ng n�i: �bu�ng tay tợ người kh�ng một vật, luống c�ng dối n�i mấy ng�n điều�.

Hỏi: Nếu người hiểu rồi chiếu cũng kh�ng vật sao?

Đ�p: Nếu l� kh�ng vật th� cần g� phải chiếu, �ng nếu mở mắt th� n�i hết ngủ.

 

GIẢNG:

 

Hỏi: Nếu kh�ng t�m kh�ng ph�p, thế n�o l� truyền?

Đ�p: �ng nghe n�i truyền t�m b�n cho l� c� khả đắc. Sở dĩ Tổ sư n�i: �Khi nhận được t�m t�nh n�n n�i kh�ng nghĩ b�n, r� r�ng kh�ng sở đắc, khi được kh�ng n�i biết.� Việc n�y nếu đem dạy �ng, đ�u kham l�nh hội.

N�i truyền t�m l� sao? Ng�i dẫn Tổ sư n�i khi nhận được t�m t�nh n�n n�i kh�ng nghĩ b�n, nhận được chỗ kh�ng c�n nghĩ b�n, r� r�ng kh�ng sở đắc, khi được kh�ng n�i biết. Khi được cũng kh�ng n�i t�i biết n�, v� n� r� r�ng hằng biết, đ�u thể n�i biết được n�. Nếu biết n� th� n� l� vật bị biết. Việc n�y nếu đem dạy �ng, đ�u kham l�nh hội. T�i c� dạy �ng cũng kh�ng l�nh hội được.

Hỏi: Như hư kh�ng ở trước mắt, thật kh�ng phải cảnh, sao kh�ng chỉ cảnh để thấy được t�m?

Đ�p: T�m g� m� dạy �ng nhằm tr�n cảnh thấy? Giả sử �ng thấy được chỉ l� c�i t�m chiếu cảnh. Như người d�ng gương soi mặt, cho d� thấy được m�y mắt r� r�ng, nhưng thật ra chỉ l� b�ng d�ng, đ�u quan hệ g� việc của �ng?

Người hỏi n�i rằng như hư kh�ng ở trước mắt, thật kh�ng phải cảnh, sao kh�ng chỉ cảnh để thấy được t�m. Như hư kh�ng ở trước mắt, ta c� thể nh�n biết, sao kh�ng lấy đ� m� chỉ? Ng�i n�i t�m g� m� dạy �ng nhằm tr�n cảnh thấy? T�m đ� kh�ng phải ngo�i cảnh m� c�, n� c� ngay nơi �ng. Giả sử m�nh thấy được n�, chỉ l� thấy t�m chiếu cảnh, chớ kh�ng phải thấy t�m thật. Như lấy gương soi mặt, mặt m�y trong gương ch�ng ta thấy được l� c�i b�ng, chớ kh�ng phải mặt m�y thật. Mặt m�y thật kh�ng thể thấy, như con mắt kh�ng thể thấy con mắt. V� vậy những g� ch�ng ta t�m thấy chỉ l� b�ng d�ng th�i, kh�ng phải c�i ch�n thật.

Hỏi: Nếu kh�ng nh�n chiếu khi n�o được thấy?

Đ�p: Nếu vậy li�n hệ đến nh�n thường phải nhờ vật, c� khi n�o được liễu ngộ. �ng kh�ng thấy người đến �ng n�i: �bu�ng tay tợ người kh�ng một vật, luống c�ng dối n�i mấy ng�n điều�. Ở đ�y hỏi nếu n�i kh�ng nh�n chiếu khi n�o được thấy? Ng�i đ�p nếu vậy li�n hệ đến nh�n thường phải nhờ vật, nh�n tức l� nh�n chiếu. Muốn chiếu th� phải c� vật mới chiếu được, như vậy chừng n�o liễu ngộ. Đ�y dẫn lời c�c Tổ n�i �ng thấy người đến �ng n�i: �bu�ng tay tợ người kh�ng một vật, luống c�ng dối n�i mấy ng�n điều�, d� n�i mấy ng�n điều chỉ l� chuyện luống c�ng, chớ gốc l� bu�ng tay kh�ng d�nh một vật. Đ� l� chủ yếu, c�n n�i đ�ng n�i t�y chỉ phương tiện th�i.

Hỏi: Nếu người hiểu rồi chiếu cũng kh�ng vật sao?

Đ�p: Nếu l� kh�ng vật th� cần g� phải chiếu, �ng nếu mở mắt th� n�i hết ngủ.

Đơn giản v� c�ng. Hỏi �nếu người hiểu rồi chiếu soi cũng kh�ng vật sao�, Ng�i đ�p �nếu l� kh�ng vật th� cần g� phải chiếu�. V� chiếu l� soi lại, m� c�i ấy kh�ng c�, lấy g� soi. B�y giờ chỉ n�i nếu �ng hết m� tức l� gi�c, giống như người mở mắt th� kh�ng ngủ. Thức ngủ kh�c nhau ở chỗ mở mắt với nhắm mắt th�i, s�ng tối kh�c nhau ở chỗ tỉnh hay m� th�i.

 

CH�NH VĂN:

 

Ng�i thượng đường bảo:

Biết nhiều trăm thứ, chẳng bằng kh�ng cầu, tột bậc nhất vậy. Đạo nh�n l� người v� sự, thật kh�ng c� những t�m nhiều ấy, cũng kh�ng c� đạo l� g� c� thể n�i. V� sự giải t�n đi.

 

GIẢNG:

 

Ng�i bảo �biết nhiều trăm thứ chẳng bằng kh�ng cầu, tột bậc nhất vậy�, chỗ kh�ng cầu l� tột bậc nhất, c�n biết nhiều trăm thứ kh�ng phải l� hay.

Đạo nh�n l� người v� sự, thật kh�ng c� những t�m nhiều ấy, c�ng sự kh�ng c� đạo l� g� c� thể n�i, n�i đạo nh�n l� chỉ cho những người v� sự, v� sự th� kh�ng c� t�m lăng xăng lộn xộn, chỗ tột c�ng sự kh�ng c�n đạo l� g� để n�i nữa. Cuối c�ng Ng�i n�i một c�u dễ d�ng nhất: V� sự giải t�n đi, kh�ng c�n chuyện g� nữa th� giải t�n đi, học nhiều l�m chi.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Thế n�o l� thế đế?

Đ�p: N�i nh�nh nh�c ấy l�m g�? Xưa nay thanh tịnh đ�u nhờ n�i năng vấn đ�p, chỉ kh�ng tất cả t�m liền gọi l� tr� v� lậu. �ng mỗi ng�y đi đứng ngồi nằm tất cả n�i năng, chớ đắm ph�p hữu vi, n�i ra nh�y mắt thảy đồng v� lậu. Như nay nhằm đời mạt ph�p, phần nhiều người học Thiền học đạo đều đắm tất cả thanh sắc, sao kh�ng c�ng ta mỗi t�m đồng hư kh�ng đi, như c�y kh� h�n đ� đi, như tro t�n lửa tắt đi, mới c� một �t phần tương ưng. Nếu kh�ng như thế, h�m n�o sẽ bị Di�m Vương dẫn �ng đi.

 

GIẢNG:

 

Thế đế cũng gọi l� thế tục đế. Đệ nhất nghĩa đế cũng gọi l� Th�nh đế. Thế đế l� đối với đệ nhất nghĩa đế m� lập. Chữ đế l� lẽ thật. Hỏi thế đế l� n�i về thế tục, những vấn đề rất thường t�nh. Cho n�n ở đ�y Ng�i đ�p: N�i nh�nh nh�c ấy l�m g�? Tổ giải th�ch: xưa nay thanh tịnh đ�u nhờ n�i năng vấn đ�p, chỉ kh�ng tất cả t�m liền gọi l� tr� v� lậu, đơn giản l�m sao. Ch�ng ta cứ t�m hiểu ng�n ngữ, văn tự m� kh�ng bu�ng tất cả t�m cho thanh tịnh. Nếu t�m kh�ng thanh tịnh d� hỏi tới đ�u cũng chỉ l� ng�n ngữ th�i. V� vậy Ng�i n�i chỉ kh�ng tất cả t�m liền gọi l� tr� v� lậu. Ch�ng ta kh�ng tất cả t�m dấy khởi lăng xăng, gọi l� tr� v� lậu.

�ng mỗi ng�y đi đứng ngồi nằm tất cả n�i năng, chớ đắm ph�p hữu vi, n�i ra nh�y mắt thảy đồng v� lậu. Đi đứng ngồi nằm n�i năng v.v� l� tướng hữu vi, đừng mắc kẹt n�. Nếu kh�ng mắc kẹt th� mọi h�nh động đều l� v� lậu. Ngược lại nếu mắc kẹt trong ph�p hữu vi th� rơi v�o hữu lậu.

Như nay nhằm đời mạt ph�p, phần nhiều người học thiền học đạo đều đắm tất cả thanh sắc, sao kh�ng c�ng ta mỗi t�m đồng hư kh�ng đi, như c�y kh� h�n đ� đi, như tro t�n lửa tắt đi, mới c� một �t phần tương ưng. Ng�i dạy ch�ng ta học đạo kh�ng phải học ng�n ngữ, h�nh thức m� phải tập mỗi t�m đồng hư kh�ng. Mỗi t�m đồng hư kh�ng l� sao? T�m t�m kh�ng d�nh với cảnh, t�m t�m kh�ng d�nh với hơn thua phải quấy v.v� l� t�m đồng với hư kh�ng.

Như c�y kh� h�n đ� đi, tại sao bảo m�nh phải như c�y kh� như h�n đ�? Nhịn đ�i để chết cứng như c�y kh�, h�n đ� phải kh�ng? N�i c�y kh�, h�n đ� để chỉ t�m kh�ng d�nh, kh�ng kẹt, kh�ng g� l�m lay động được t�m.

Như tro t�n lửa tắt đi, mới c� một �t phần tương ưng. L�m sao t�m như lửa tắt, như tro t�n? Nghe một lời n�i tr�i tai nổi n�ng l�n l� lửa tắt hay lửa ch�y? Lửa ch�y chớ kh�ng tắt. Nghe n�i nặng, n�i nhẹ m� t�m vẫn lạnh kh�ng bực, kh�ng n�ng nảy l� lửa tắt. Lửa tắt th� tro lạnh, tro t�n. Nghe n�i danh lợi m�nh th�ch, c� lửa kh�ng? S�n l� lửa m� tham cũng l� lửa. Cho n�n ch�ng ta phải kh�o tu, l�m sao t�m như lửa tắt tro t�n, mới đi tới chỗ tương ưng c�ng Phật ph�p hay tương ưng c�ng ch�n t�m Phật t�nh.

Nếu kh�ng như thế, h�m n�o sẽ bị Di�m Vương dẫn �ng đi. Đ� l� c�u n�i cảnh c�o. Cảnh c�o ai? Ai kh�ng để lửa tắt tro t�n. Nếu người như lửa tắt, tro t�n th� Di�m Vương biết đ�u m� dẫn.

 

CH�NH VĂN:

 

�ng chỉ l�a hẳn c�c ph�p hữu v�, t�m như vầng mặt trời trong hư kh�ng, �nh s�ng tự nhi�n kh�ng chiếu m� chiếu, kh�ng phải l� việc của sức phản tỉnh. Khi đến đ�y th� kh�ng chỗ nương tựa, tức l� l�m hạnh của chư Phật, b�n l� �n�n kh�ng c� chỗ trụ m� sanh t�m kia�. Đ�y l� ph�p th�n thanh tịnh của �ng, gọi l� A-nậu Bồ-đề. Nếu kh�ng l�nh hội được � n�y, d� �ng học được biết nhiều, si�ng năng khổ nhọc tu h�nh, �o cỏ ăn c�y, kh�ng biết t�m m�nh đều gọi l� hạnh t�, quyết định sẽ l�m quyến thuộc của thi�n ma, tu h�nh như thế sẽ c� �ch lợi g�?

 

GIẢNG:

 

Ở tr�n Ng�i dạy như lửa tắt tro t�n. Đến đ�y Ng�i dạy phải biết l�a c�c ph�p hữu vi tức l� l�a hai b�n như c� kh�ng, phải quấy, hơn thua v.v� Khi n�o ch�ng ta kh�ng nghĩ hai b�n, l�c đ� t�m động hay tịnh? T�m tịnh. Thường thường ch�ng ta kh�ng nghĩ thiện th� nghĩ �c, kh�ng nghĩ phải th� nghĩ quấy, lu�n lu�n nghĩ trong đối đ�i. M� đối đ�i l� tướng sanh diệt, sanh diệt l� động. Cho n�n ch�ng ta l�a hết c�c t�m, c�c ph�p hữu v� v�.

Nếu tất cả hai b�n đều l�a th� t�m m�nh như vầng mặt trời trong hư kh�ng, �nh s�ng tự nhi�n kh�ng chiếu m� chiếu, kh�ng phải l� việc của sức phản tỉnh. C�u n�y rất thiết yếu, ai c� tu mới thấy n� quan trọng. Khi ngồi tu, t�m kh�ng dấy niệm, nhiều người cảm thấy v� tri qu�, l�c ấy lại khởi nghĩ muốn s�ng đạo, c� h�o quang mới th�ch. Đ� l� sai lầm. V� vậy Ng�i dạy nếu kh�ng d�nh kẹt hai b�n, t�m như vầng mặt trời trong hư kh�ng, �nh s�ng tự nhi�n kh�ng chiếu m� chiếu. Hai chữ kh�ng chiếu m� chiếu n�i được � quan trọng n�y. Kh�ng chiếu m� chiếu l� sao? Thường thường l�c t�m y�n, n� kh�ng phản quan, kh�ng soi lại, n�n n�i kh�ng chiếu, nhưng n� vẫn s�ng, dấy niệm liền biết n�n n�i chiếu. Đ� l� kh�ng chiếu m� chiếu. Chỗ n�y rất thiết yếu. Bởi v� khi tu ch�ng ta nghe n�i niệm dấy đừng theo, rồi nh�n niệm ho�i. Nh�n niệm như vậy l� chiếu hay kh�ng chiếu? Chiếu. V� vậy niệm dấy l�n liền đ� xuống. Người n�o ngồi nh�n niệm như vậy, một giờ đầu sẽ nặng trĩu, kh�ng kh�o th�nh đau đầu. Cho n�n trong khi tu, chiếu m� kh�ng chiếu, chỉ b�ng bạc nhẹ nh�ng như mặt trời trong hư kh�ng th�i. T�m kh�ng khởi niệm chiếu nhưng rất s�ng, niệm l�n vẫn thấy chớ kh�ng phải kh�ng thấy.

Tuy nhi�n, n�i kh�ng nh�n chớ kh�ng phải thả lỏng, chỗ n�y rất kh�. Nhiều người nghe n�i kh�ng nh�n liền thả lỏng, mặc t�nh n� l�m g� th� l�m, như vậy tu l�m chi? Kh�ng nh�n m� kh�ng thả lỏng nghĩa l� t�m l�c n�o cũng biết, do biết n�n niệm l�n kh�ng chạy theo. Nếu niệm kh�ng l�n th� cứ như vậy biết th�i, chớ kh�ng phải chăm chăm nh�n. Nhiều người chăm chăm nh�n n�n nghe tim đập, nghe nghẹn thở, đ� l� bệnh. V� vậy ai ngồi thiền m� tim đập qu� th� biết dụng c�ng nhiều, chăm chỉ qu�. Cho n�n chỗ n�y phải nhớ thật kỹ.

Kh�ng phải l� việc của sức phản tỉnh, vậy m� cứ quay lại soi ho�i. Tuy kh�ng phải quay lại m� vừa dấy niệm liền thấy. Như �nh s�ng mặt trời bủa khắp, kh�ng cố t�nh soi rọi chỗ n�o, m� s�ng tất cả mọi nơi. Khi đến đ�y th� kh�ng chỗ nương tựa tức l� l�m hạnh của chư Phật. Tu tới chỗ n�y kh�ng c�n chỗ nương tựa nữa, tức đang tu theo hạnh chư Phật. Tổ dẫn kinh Kim Cang l�m chứng �n�n kh�ng c� chỗ trụ m� sanh t�m kia�, Lục Tổ v� ng�i Trần Th�i T�ng cũng thấy chỗ n�y.

Như vậy ch�ng ta thấy lời dạy trong kinh v� chỗ thấy của chư Tổ rất tr�ng hợp, sự tu kh�ng mất gốc. Ch�ng ta tu m� kh�ng nắm vững, n�n sanh bệnh n�y tật nọ, rồi đổ thừa tu thiền sanh bệnh. Khi kh�ng c� niệm đối đ�i dấy l�n, l�c đ� t�m m�nh s�ng, biết một c�ch b�ng bạc, giống như �nh s�ng mặt trời trong hư kh�ng tr�m khắp. C�i b�ng bạc tr�m khắp đ� kh�ng chiếu một chỗ n�o, m� kh�ng l�c n�o kh�ng chiếu. Bởi n� s�ng biết n�n c�i g� dấy động liền biết. Nếu t�m của ch�ng ta được như vậy l� tu hạnh của chư Phật, kh�ng c�n d�nh kẹt. Cho n�n kinh n�i �ưng v� sở trụ nhi sanh kỳ t�m�.

Đ�y l� ph�p th�n thanh tịnh của �ng, gọi l� A-nậu Bồ-đề. Ch�ng ta thử ngồi lại tu, mới thấy m�nh c� sẵn ph�p th�n. Chỉ ba ph�t, năm ph�t t�m kh�ng dấy niệm đối đ�i duy�n theo cảnh, l�c đ� vẫn thường tri gi�c n�n gọi l� ph�p th�n. Ph�p th�n tuy c� sẵn, nhưng vừa c� niệm đối đ�i dấy l�n l� n� phủ che. V� vậy lặng niệm lại th� ph�p th�n hiện ra, chớ kh�ng đ�u hết.

Ph�p th�n ở đ�u m� ngộ? N� kh�ng c� chỗ nơi. Cho n�n c�c Tổ n�i �ngộ rồi đồng kh�ng ngộ�. Kh�ng c� c�i thứ hai. Ph�p th�n kh�ng hai, n� sẵn từ trong. C�i c� sẵn đ� l� c�i của ch�nh m�nh hay n�i ch�nh x�c hơn th� kh�ng c� chữ �của� nữa. Th�m một chữ l� trật. C�i ch�nh m�nh m� ch�ng ta qu�n, chạy theo đối đ�i hai b�n th�nh ra khuất lấp. B�y giờ dừng đối đ�i hai b�n th� c�i đ� hiện r� ra. Khi n� hiện ra, ch�ng ta biết r� để sống, đ� l� sống trở lại ph�p th�n. C�n thấy ngờ, kh�ng biết phải m�nh kh�ng, rồi chạy theo niệm, đ� l� bỏ qu�n n�. Cho n�n Tổ dẫn kinh n�i �người cầu V� thượng ch�nh đẳng ch�nh gi�c l�m sao an trụ t�m�, Phật trả lời �kh�ng trụ sắc sanh t�m, kh�ng trụ thanh hương vị x�c ph�p sanh t�m, ưng v� sở trụ nhi sanh kỳ t�m�. Kỳ t�m l� t�m v� thượng Bồ-đề, kh�ng d�nh sắc thanh hương vị x�c, đ� l� t�m v� thượng Bồ-đề.

Ch�ng ta c� Phật m� kh�ng chịu sống với Phật lại đi sống với ma, đ� l� lỗi lớn. Sống với ma rồi sợ ma, chạy đi t�m Phật. Kh�ng gặp Phật thật chạy t�m Phật giả lạy, như vậy cứ quanh quanh quẩn quẩn. Thật đ�ng thương! V� vậy ở đ�y chư Tổ chỉ thẳng lối tu trực chỉ, kh�ng t�m kiếm ở đ�u hết, đừng để t�m d�nh kẹt hai b�n. T�m kh�ng d�nh kẹt hai b�n m� hằng tri hằng gi�c l� V� thượng ch�nh đẳng ch�nh gi�c. T�m ch�n thật kh�ng phải xa, xa l� v� ch�ng ta kh�ng chịu nhận. Hồi xưa kh�ng c� ai chỉ dạy n�n kh�ng biết, b�y giờ c� người chỉ dạy rồi ch�ng ta phải kh�o nhận, kh�o biết.����

Nếu kh�ng l�nh hội được � n�y, d� �ng học được biết nhiều, si�ng năng khổ nhọc tu h�nh, �o cỏ ăn c�y, kh�ng biết t�m m�nh đều gọi l� hạnh t�, quyết định sẽ l�m quyến thuộc của thi�n ma, tu h�nh như thế sẽ c� �ch lợi g�?

Ng�i tr�ch nếu người kh�ng l�nh hội được � tr�n, d� học l�u l�u Tam tạng kinh điển, si�ng năng khổ nhọc tu h�nh, lấy cỏ kết th�nh �o, ăn l� c�y m� kh�ng biết t�m m�nh, đều gọi l� hạnh t�. Học giỏi, hiểu nhiều, tu khổ hạnh m� kh�ng biết t�m m�nh, đều gọi l� hạnh t�. Chỗ n�y ch�ng ta phải lưu �. M�nh c� t�m ham học, ham tu l� rất tốt, người thế gian rất k�nh nể. Nhưng đối nơi chỗ cứu k�nh, nếu kh�ng nhận ra bản t�m th� tất cả c�c việc tr�n đều l� hạnh t�. Nếu l� hạnh t� quyết định sẽ l�m quyến thuộc Thi�n ma. Tu h�nh để cầu giải tho�t sanh tử, m� như vậy th� c� lợi �ch g�.��

 

CH�NH VĂN:

 

Ch� C�ng n�i: �Phật vốn t�m m�nh l�m, đ�u được trong văn tự cầu.�

 

GIẢNG:

 

Phật l� từ t�m m�nh m� th�nh, chớ kh�ng phải trong chữ nghĩa. Nếu lấy chữ nghĩa l�m sở đắc, đ� l� sai lầm.

 

CH�NH VĂN:

 

D� �ng học được tam hiền tứ quả, thập địa m�n t�m, cũng chỉ l� ngồi trong ph�m th�nh, kh�ng thấy đạo.

 

GIẢNG:

 

Được tam hiền tứ quả, l� bậc n�o? Nếu Bồ-t�t th� thập t�n, thập trụ, thập hạnh l� tam hiền. Tứ quả l� Tu-đ�-ho�n, Tư-đ�-h�m, A-na-h�m, A-la-h�n. Được những quả vị n�y cho tới thập địa m�n t�m cũng c�n ngồi trong đối đ�i ph�m th�nh, chớ chưa phải chỗ ch�n thật. Đ� l� ph�m th�nh đối đ�i th� kh�ng thấy được đạo. Kh�ng thấy được đạo tức kh�ng nhận ra Phật t�nh hay ph�p th�n của ch�nh m�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

C�c hạnh v� thường l� ph�p sanh diệt, thế lực hết th� t�n lại rơi xuống, chi�u cảm quả đời sau kh�ng như �. Đ�u bằng m�n thật tướng v� vi, một phen vượt l�n thẳng đến địa vị Như Lai. V� �ng kh�ng thể như người kia n�n cần đến h�a m�n của cổ nh�n, học hiểu cho rộng.

 

GIẢNG:

 

Ở đ�y Ng�i n�i thật r� r�ng, nếu c�n nằm trong ph�m th�nh th� chưa thấy đạo. V� tam hiền, thập th�nh l� đối với ph�m, cho n�n c�n hai b�n đối đ�i, c�n đối đ�i l� kh�ng thấy đạo. Thấy đạo tức thấy được ph�p th�n. Tất cả hạnh l� tướng sanh diệt n�n v� thường. V� thường sanh diệt c� ng�y phải hết. Nếu hết th� rơi trở lại, như mũi t�n bắn l�n thật cao, nhưng khi hết sức đẩy n� rớt xuống. Chỉ thấy được c�i thật của m�nh mới kh�ng l�n, kh�ng xuống. Cốt l�i của người học đạo l� thấu suốt được thật tướng v� vi. C� thế mới một phen vượt l�n thẳng địa vị Như Lai.

V� �ng kh�ng thể như người kia n�n cần đến h�a m�n của cổ nh�n, học hiểu cho rộng. Người kia l� người n�o? Người kia l� người l�n thẳng địa vị Như Lai. Do kh�ng thể như người kia n�n cần đến h�a m�n của cổ nh�n, học hiểu cho rộng. H�a m�n l� cửa gi�o ho�, c� học nhiều hiểu rộng mới truyền đạo được. Nếu đủ khả năng đi thẳng l�n địa vị Phật th� kh�ng phải quanh co.

 

CH�NH VĂN:

 

Ch� C�ng n�i: �Kh�ng gặp minh sư xuất thế, uổng uống ph�p dược đại thừa.�

GIẢNG:

 

Nếu ch�ng ta ra đời kh�ng gặp minh sư chỉ dạy th� uổng uống ph�p dược đại thừa, v� kh�ng thể hiện được t�m ch�n thật.

 

CH�NH VĂN:

 

�ng hiện nay trong tất cả thời đi đứng ngồi nằm chỉ học v� t�m, l�u ng�y sẽ thật đắc.

 

GIẢNG:

 

Trong tất cả thời, từ sớm đến chiều đi đứng nằm ngồi, chỉ cần v� t�m. V� t�m l� v� t�m n�o? Người ta dễ lầm chữ v� t�m lắm, tưởng v� t�m như gỗ như đ�. Ở đ�y v� t�m l� v� c�i t�m sanh diệt, trong bốn oai nghi đều kh�ng dấy niệm sanh diệt, gọi l� v� t�m. Nếu kh�ng c� niệm sanh diệt, l�u ng�y sẽ thật đắc được ph�p v� sanh.

 

CH�NH VĂN:

 

V� �ng lực lượng k�m kh�ng thể đốn si�u, cần được ba năm, năm năm hoặc mười năm phải được chỗ v�o, tự nhi�n hội giải.

 

GIẢNG:

 

Nếu khả năng ch�ng ta k�m kh�ng thể tiến thẳng được th� cần c� tu h�nh ba năm, năm năm, mười năm cũng được chỗ v�o.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu �ng kh�ng thể như thế, thiết tha đem t�m học thiền học đạo, Phật ph�p c� g� li�n hệ?

 

GIẢNG:

 

Nếu kh�ng được như vậy, d� đem t�m thiết tha học thiền học đạo cũng kh�ng c� g� li�n hệ với Phật ph�p.

 

CH�NH VĂN:

 

Cho n�n n�i: �Như lai n�i ra đều v� gi�o h�a người, như nắm l� v�ng bảo l� v�ng để vỗ trẻ con kh�c, quyết định kh�ng thật.�

 

GIẢNG:

 

Ch�ng ta kh�ng đi thẳng ngay chỗ ch�n thật, m� cứ b�m v�o gi�o l�, b�m v�o kinh điển, n�n Ng�i dẫn trong kinh n�i: �Như lai n�i ra đều v� gi�o h�a người, như nắm l� v�ng bảo l� v�ng để vỗ trẻ con kh�c, quyết định kh�ng thật.� Gi�o ph�p của Phật l� gi�o ph�p ch�n thật hay gi�o ph�p để an ủi người? Chỗ n�y chỗ hơi kh� n�i. L�u nay ch�ng ta t�n th�n lời Phật dạy l� ch�n thật, cứu k�nh, kh�ng g� l�m lay chuyển được. Nhưng ở đ�y Phật n�i, gi�o l� của Ng�i như nắm l� v�ng n�i l� v�ng để vỗ con n�t kh�c th�i, chớ kh�ng phải v�ng thật. Cho n�n n�i tới chỗ cuối c�ng th� tất cả lời Phật n�i l� phương tiện, chớ kh�ng phải cứu k�nh. Cứu k�nh th� phải vượt qua lời n�i.

Như b�y giờ ch�ng ta đọc B�t-nh� chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng, đ� l� lời b�n ngo�i, th�nh hay kh�ng do tự m�nh l�m. Nếu lấy lời b�n ngo�i l�m v�ng ngọc, rồi đọc ho�i c� th�nh kh�ng? Như vậy mới thấy Phật Tổ dạy ch�ng ta phải l�m, chớ kh�ng phải n�i. Song l�u nay đa số người kẹt lời n�i, n�n học đạo h�nh đạo bằng c�ch đọc tụng lại lời của Phật, cho đ� l� trung th�nh với Phật.

Phật dạy gi�o l� để khuy�n ch�ng ta tu. Nếu đạt được l� th� phải qu�n lời, cũng như qua s�ng phải bỏ b�. Gi�o l� l� ng�n tay chỉ mặt trăng, thấy mặt trăng rồi phải bỏ ng�n tay. Gi�o l� l� phương tiện m� l�u nay ch�ng ta lại lấy l�m cứu k�nh. Suốt một đời tu cứ đọc ho�i lời Phật. Một ng�y tụng ba biến, bảy biến kinh Kim Cang hay nửa bộ Ph�p Hoa� như vậy cho l� tu kỹ. Đọc tụng m� kh�ng h�nh đ�ng lời Phật dạy, đ� chỉ l� mắc kẹt tr�n phương tiện, kh�ng thấu triệt được chỗ cứu k�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu c� thật đắc th� kh�ng phải người kh�ch trong T�ng m�n của ta, vả lại c�ng bản thể của �ng c� g� li�n hệ?

 

GIẢNG:

 

Nếu người b�m v�o gi�o điển cho l� thật đắc th� kh�ng phải ở trong t�ng m�n nh� Thiền, cũng kh�ng li�n hệ g� tới bản thể của m�nh. V� Phật t�nh l� bản thể, c�i b�n ngo�i l�m sao gọi l� bản thể của m�nh được. V� vậy kh�ng thể n�i trong t�ng m�n của ta, cũng kh�ng phải bản thể của �ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Cho n�n kinh n�i: �Thật kh�ng c� ch�t ph�p c� thể được gọi l� A-nậu Bồ-đề.�

 

GIẢNG:

 

Kinh Kim Cang n�i �thật kh�ng c� ch�t ph�p c� thể được gọi l� A-nậu Bồ-đề�. A-nậu Bồ-đề l� v� thượng ch�nh đẳng ch�nh gi�c. Kh�ng c� ph�p n�o gọi l� v� thượng ch�nh đẳng ch�nh gi�c hết. V� v� thượng ch�nh đẳng ch�nh gi�c l� t�m. Đ� l� t�m m�nh th� kh�ng phải ph�p b�n ngo�i.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu như hội được � n�y mới biết Phật đạo ma đạo đều lầm.

 

GIẢNG:

 

Nếu người thấu suốt được nghĩa n�y th� Phật đạo ma đạo đều lầm. Sao vậy? Ma đạo lầm th� phải, Phật đạo v� sao lầm? V� Phật đạo ma đạo l� cũng l� hai b�n, m� hai b�n th� kh�ng phải thể ch�n thật. Nếu c� lối ở ngo�i, d� phải quấy g� cũng l� lối ở ngo�i, kh�ng phải c�i thật của m�nh. V� vậy n�n n�i đều lầm.

 

CH�NH VĂN:

 

Chỗ xưa nay thanh tịnh trong s�ng, kh�ng tướng vu�ng tr�n, lớn nhỏ, d�i ngắn v.v� V� lậu v� vi kh�ng m� kh�ng ngộ, r� r�ng thấy kh�ng một vật, kh�ng người cũng kh�ng Phật, �hạt bọt trong biển đại thi�n sa giới, tất cả Th�nh hiền như điện chớp�.

 

GIẢNG:

 

Ở đ�y n�i l�n chỗ ch�n thật của m�nh xưa nay thanh tịnh, trong s�ng, kh�ng tất cả tướng vu�ng tr�n, lớn nhỏ, d�i ngắn, v� lậu v� vi, kh�ng sanh kh�ng diệt, kh�ng hai b�n m� ngộ. Thấy kh�ng một vật l� đến chỗ cứu k�nh, r� r�ng kh�ng c� một vật. Kh�ng người cũng kh�ng Phật nữa. Ở đ�y dẫn b�i �Chứng đạo ca� của ng�i Huyền Gi�c hạt bọt trong biển đại thi�n sa giới, tất cả Th�nh hiền như điện chớp, những h�nh ảnh ấy đều tạm bợ hư ảo, kh�ng c� g� thật.

 

CH�NH VĂN:

 

Tất cả kh�ng bằng t�m ch�n thật ph�p th�n, từ xưa đến nay c�ng Phật, Tổ đồng một loại, chỗ n�o thiếu k�m một mảy l�ng? Đ� hội được � như thế cần phải cố gắng trọn một đời n�y th�i, hơi thở ra kh�ng bảo đảm trở v�o!

 

GIẢNG:

 

Tất cả mọi thứ đều kh�ng bằng t�m ch�n thật tức ph�p th�n của m�nh. T�m ch�n thật đ� từ xưa đến nay c�ng Phật, Tổ kh�ng kh�c, kh�ng thiếu k�m một mảy l�ng. Chư Phật c� t�m ch�n thật, ch�ng ta cũng c� t�m ch�n thật, t�m Phật t�m ch�ng ta kh�ng kh�c. Ch�ng ta biết được như vậy rồi phải cố gắng bu�ng xả, kh�ng n�n mắc kẹt hai b�n.

N�i bu�ng xả ai nghe cũng dễ qu�, bu�ng xả l� bỏ hết đi. Nhưng tr�n thực tế bu�ng xả dễ hay kh�? C� c�i đang d�nh mắc, biểu bu�ng cho nhẹ nh�ng, nhất l� đang g�nh một g�nh thật nặng, bảo quăng xuống đi, quăng xuống được th� khỏe, thảnh thơi l�m sao. Vậy m� l�m kh�ng dễ. Th�nh ra bu�ng bỏ l� lẽ thực m� ch�ng ta kh�ng can đảm n�n bu�ng kh�ng được. Nếu g�nh một g�nh đất hay một g�nh g� h�i h�m, ai bảo bu�ng đi ch�ng ta thấy dễ, nhưng nếu g�nh một g�nh đồ qu� m� bảo bu�ng th� kh�ng d�m bu�ng. Như vậy ch�ng ta c� thể bu�ng được c�i xấu dở, c�n c�i hay tốt th� kh�ng thể bu�ng.

Ở đ�y Tổ bảo tất cả t�m tốt xấu hay dở đều bu�ng. Bởi v� tốt xấu hay dở đều l� tướng động, tướng sanh diệt. Nếu m�nh b�m v�o một tướng n�o cũng đều l� gốc của sanh diệt. Cho n�n bu�ng hết c�i sanh diệt th� c�i ch�n thật r� r�ng thường biết mới hiện ra. Do đ� nh� Phật bảo bu�ng tất cả để được tất cả hoặc n�i ngược lại được tất cả l� mất tất cả. Sao lạ vậy? B�y giờ n�i như thế gian l�m đ�u được đ�. Năm năm, mười năm, hai ba chục năm nh� lầu xe hơi đủ hết gọi l� được tất cả. Nhưng tới khi thở kh� ra kh�ng h�t v� th� sao? Mất tất cả. Tất cả c�i được đều mất, bởi v� ch�ng cung cấp cho th�n n�y. C� c�i g� kh�ng v� th�n n�y đ�u, như sắm xe để m�nh đi, cất nh� để m�nh ở, c�i g� cũng để cho th�n n�y. Khi th�n n�y hoại th� tất cả c�i được ấy đều mất hết. Đ� l� được tất cả m� mất tất cả. C�n ch�ng ta bu�ng tất cả c�i sanh diệt, tạm bợ phải quấy, hơn thua, để t�m ch�n thật hiện tiền. Ấy l� bỏ tất cả m� được tất cả, bởi v� trong c�i ch�n thật đ� đầy đủ hết rồi. Vậy bu�ng tất cả sẽ được tất cả kh�ng sướng hơn sao.

Người tu mới nh�n thấy như thiệt th�i, khờ dại. Nhưng sự thực trong c�i khờ dại ấy c� c�i vi diệu b�n trong, chớ kh�ng phải khờ dại như mấy ch� khờ khờ ngo�i đường. Người tu sống th�m trầm trong nội t�m, chớ kh�ng chạy theo h�nh tướng b�n ngo�i.

Đ� hội được � như thế, cần phải cố gắng trọn một đời n�y th�i, ngay trong đời phải l�m cho tr�n; hơi thở ra kh�ng bảo đảm trở v�o. Một c�u nhắc n�y buồn l�m sao, thở kh� ra nhắm mắt đi xu�i. Như vậy c�n mong chờ c�i g� m� kh�ng cố gắng. Cố gắng l�m g�? Kh�ng phải cố gắng cuốc đất hay cất nh� nhiều, m� cố gắng bu�ng tất cả. Đ� l� chỗ thiết yếu. Bu�ng tất cả sẽ được tất cả, c� thiệt th�i g� đ�u m� kh�ng chịu bu�ng. Những người hay ph�n biệt hơn thua phải quấy, hay ph�n biệt tốt xấu v.v� dễ bu�ng hay kh�? Kh� bu�ng.

Phật dạy trong kinh Kim Cang �nhất thiết hữu vi ph�p, như mộng huyễn b�o ảnh, như lộ diệc như điện, ưng t�c như thị qu�n�. Thế gian c� g� thật đ�u, kh�ng thật th� bu�ng dễ chớ tại sao lại kh�? Ch�ng ta n�i bu�ng nhưng nghe khen cũng thấy thật, nghe mắng cũng thấy thật, n�n bu�ng kh�ng được. Muốn bu�ng phải c� tr� tuệ B�t-nh� nh�n c�c ph�p như huyễn như h�a. Thấy như vậy th� bu�ng kh�ng kh� khăn, bu�ng được đời tu mới c� gi� trị. Nếu bu�ng kh�ng được th� hơi thở ra kh�ng h�t v�o uổng đi một đời, tất cả đều mất hết.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Lục Tổ kh�ng hiểu kinh s�ch sao được truyền y l�m Tổ. Thượng tọa T� l� Thủ tọa của năm trăm người, l�m thầy gi�o thọ, giảng được ba mươi hai bản kinh luận, tại sao kh�ng được truyền y?

 

GIẢNG:

 

C�u hỏi n�y c� lẽ một �t chư tăng, chư ni cũng thắc mắc, một �ng nh� qu� dốt n�t m� được truyền y, c�n một vị th�ng minh giảng kinh thao thao lại kh�ng được, tại sao như vậy?

 

CH�NH VĂN:

 

Đ�p: V� kia (T�) c� t�m l� ph�p hữu vi, c� tu c� chứng cho l� phải. Ngũ Tổ trao cho Lục Tổ, Lục Tổ khi ấy chỉ nhằm khế hội, được thầm trao � thậm th�m của Như Lai. Thế n�n truyền y cho Ng�i, �ng chẳng thấy n�i:

 

Ph�p bản ph�p v� ph�p

V� ph�p ph�p diệc ph�p

Kim ph� v� ph�p thời

Ph�p ph�p h� tằng ph�p

 

Dịch:

 

Ph�p bản ph�p l� kh�ng ph�p

Ph�p kh�ng ph�p cũng l� ph�p

Nay trao c�i kh�ng ph�p n�y

Mỗi ph�p đ�u từng l� ph�p

 

GIẢNG:

 

Ph�p bản ph�p v� ph�p, ph�p bản l� ph�p gốc, ph�p ch�n thật, ph�p đ� vốn kh�ng ph�p. Chữ �kh�ng ph�p� n�y hay v� c�ng. Khi Lục Tổ tr�nh bốn c�u kệ cho Ngũ Tổ, trong c� c�u �bản lai v� nhất vật�, vật l� ph�p, xưa nay kh�ng c� một ph�p, Lục Tổ thấy đến chỗ n�y n�n Ngũ Tổ mới cho v�o thất giảng kinh Kim Cang rồi truyền y b�t. Đệ tử của Lục Tổ l� Nam Nhạc Ho�i Nhượng, khi tới, Tổ hỏi một c�u hết sức tầm thường: ��ng đến c� mang vật g� kh�ng?� Nghe tầm thường như vậy m� t�m năm sau Ng�i mới trả lời nổi �n�i một vật tức kh�ng tr�ng�. Tổ hỏi th�m: �C� tu chứng kh�ng?� Đ�p: �Tu chứng chẳng phải kh�ng, nhiễm � kh�ng thể được.� Sau đ� được Tổ ấn chứng.

N�i �một vật kh�ng tr�ng� giống như Tổ thấy �bản lai v� nhất vật�. N�i một vật kh�ng tr�ng tức l� kh�ng c� một vật. Kh�ng c� một vật l� kh�ng ngơ sao? Cho n�n Tổ hỏi gạn lại �c� tu chứng kh�ng�, trả lời �tu chứng chẳng phải kh�ng�, nhưng �nhiễm � kh�ng thể được�. Như vậy để thấy n� kh�ng phải l� c�i kh�ng ngơ. Ch�nh chỗ đ� n�n n�i ph�p gốc l� v� ph�p, tức kh�ng c� ph�p g� hết. Bởi v� c� một ph�p l� c� một vật, m� c� một vật l� c� tướng sanh diệt. T�m ch�n thật vượt ngo�i tướng sanh diệt, l�m sao c� một ph�p.

V� ph�p ph�p diệc ph�p, như tr�n đ� n�i bỏ tất cả l� được tất cả. Kh�ng một ph�p m� l� tất cả ph�p, bởi v� kh�ng c� ph�p n�o ngo�i n�. Như vậy ph�p gốc kh�ng phải ph�p, nhưng kh�ng c� ph�p n�o ngo�i n�.

Kim ph� v� ph�p thời, nay trao c�i kh�ng ph�p n�y, n�i trao nhưng sự thực c� g� đ�u để trao. Thầy thấu suốt như vậy, tr� hiểu đ�ng chỗ của thầy gọi l� trao, chớ c� g� để trao đ�u. V� vậy n�i: �ph�p ph�p h� tằng ph�p�, tức ph�p ph�p đ�u từng l� ph�p. Chỗ ch�n thật n�y kh�ng thể diễn tả được, chỉ tạm nhắc tới nhắc lui hai trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất dễ nhớ dễ thấy nhất l� một giờ nửa giờ ch�ng ta ngồi dưới gốc c�y một m�nh, t�m rỗng rang, kh�ng d�nh mắc g� hết, l�c đ� c� một vật n�o kh�ng? Kh�ng c� một vật, kh�ng d�nh l� kh�ng c� vật. L�c ấy c� tri gi�c kh�ng? Rỗng rang nhưng tri gi�c hiện tiền. Chỉ kh�ng một vật vướng bận trong l�ng, l�c đ� rỗng rang, tri gi�c r� r�ng. Thế th� c� ai kh�ng được một ph�t hai ph�t như vậy, đủ biết ch�ng ta c� c�i ch�n thật sẵn đ�y rồi. Nhưng nếu sực nhớ chuyện n�y chuyện kia liền qu�n n�. Đ� l� n�i trường hợp ngồi thảnh thơi ngắm trời ngắm m�y, hoặc ngồi dưới cội c�y chơi như vậy m� c� những ph�t rất tỉnh.

Trường hợp thứ hai l� khi ngồi thiền. Khi ngồi y�n tỉnh, ch�ng ta thấy kh�ng c� niệm n�o hết, l�c đ� đ�u c� ph�p g�. Kh�ng c� một ph�p nhưng tất cả động tịnh b�n ngo�i, m�nh đều biết hết. Kh�ng c� một vật m� vẫn hằng gi�c tri th� Phật Tổ chỉ dạy m�nh tu đ�u phải l� chuyện b�ng quơ, m� rất thực tế. C� những giờ ph�t ngồi chơi hoặc ngồi thiền, ch�ng ta nhận được r� r�ng như vậy nhưng v� n� b�ng bạc, rỗng rang n�n dễ qu�n.

T�i thường v� dụ như ch�ng ta đang ngồi chơi ng� trời trong veo, thấy cũng th�ch th�ch. Nhưng đ�ng kia c� chiếc m�y bay, bấy giờ m�nh xoay lại nh�n chiếc m�y bay m� qu�n bầu trời trong veo. Chừng n�o m�y bay bay qua mất rồi, họa chăng ta mới nh�n lại bầu trời trong veo cũ. Như vậy c�i n�o hấp dẫn hơn? Qua h�nh ảnh v� dụ n�y ch�ng ta thấy cụ thể v� c�ng. Ngồi nh�n bầu trời trong veo, t�m y�n ổn, thời giờ tr�i qua m�nh kh�ng quan t�m. Nhưng nhớ chuyện vui buồn th� chạy theo kh�ng c�n nhớ tới bầu trời trong veo. Một khi vui buồn trỗi dậy, n� d�y chuyền hết c�i n�y tới c�i kia, gỡ được n�t n�y lại sanh n�t kh�c, kh�ng y�n. Vậy m� chuyện buồn vui dường như hấp dẫn hơn, c�n bầu trời lặng lẽ th�nh thang th� dễ qu�n. Bao giờ ch�ng ta nh�n bầu trời trong kh�ng thấy ch�n, d� c� chim bay hay m�y bay bay cũng kệ, chỉ nhớ bầu trời trong veo th� tiến kh� rồi. Tuy cũng c� chim bay qua, nhưng m�nh kh�ng quan t�m, như thế khả dĩ kh�ng đ�nh mất c�i qu� b�u c� sẵn nơi m�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu hội được � n�y mới l� kẻ xuất gia, mới l� tu h�nh tốt. Nếu kh�ng tin tại sao Thượng tọa Minh chạy đến ngọn Đại Dữu t�m Lục Tổ, Lục Tổ hỏi: �Ngươi đến cầu việc g�, v� cầu y v� cầu ph�p?� Thượng tọa Minh n�i: �Kh�ng v� y m� đến, chỉ v� ph�p m� đến.� Lục Tổ bảo: ��ng h�y tạm thời thu niệm, thiện �c đều chớ nghĩ t�nh.� Thượng tọa Minh nhận lời n�y. Lục Tổ bảo: �Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, ch�nh khi ấy hiện lại bộ mặt thật của Thượng tọa Minh khi cha mẹ chưa sanh.� Thượng tọa Minh ngay c�u n�i đ� bỗng nhi�n thầm khế hội, b�n lễ b�i thưa: �Như người uống nước, lạnh n�ng tự biết, t�i ở trong hội Ngũ Tổ uổng d�ng c�ng phu ba mươi năm, ng�y nay mới biết lỗi trước.�

 

GIẢNG:

 

Chỉ một c�u n�i m� Thượng tọa Minh nhận ra được c�i ch�n thật của m�nh. Song muốn tr�nh b�y chỗ ch�n thật ấy, Ng�i n�i như kẻ uống nước lạnh n�ng tự biết, kh�ng diễn tả cho người kh�c biết được. Ch�ng ta c� phần chớ kh�ng phải v� phần, nhưng v� kh�ng kh�o nhận n�n c� cũng như kh�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Lục Tổ bảo: �Khi đến đ�y mới biết Tổ sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng t�m người thấy t�nh th�nh Phật, kh�ng ở n�i b�n.�

 

GIẢNG:

 

Lục Tổ bảo c� nhận được rồi mới biết Tổ sư từ Ấn Độ sang chỉ thẳng t�m người thấy t�nh th�nh Phật, kh�ng ở n�i b�n. Nghĩa l� phải nhận ngay được t�m m�nh l� Phật, kh�ng phải suy luận, n�i b�n m� biết được.

 

CH�NH VĂN:

 

Đ�u kh�ng thấy Tổ A-nan hỏi Tổ Ca-diếp: �Thế T�n ngo�i truyền y Kim Lan, c�n ri�ng truyền ph�p g�?� Ca-diếp gọi: �A-nan.� A-nan đ�p: �Dạ.� Ca-diếp bảo: �Cột phướn trước ch�a ng�.� Đ�y l� chỗ bộc lộ của Tổ sư vậy. Ng�i A-nan ba mươi năm l�m thị giả chỉ v� tr� tuệ đa văn bị Phật quở: �Ngươi ng�n ng�y học tuệ, kh�ng bằng một ng�y học đạo. Nếu kh�ng học đạo, một giọt nước cũng kh�ng ti�u.�

 

GIẢNG:

 

Tổ Ca-diếp khi nghe Tổ A-nan hỏi �Thế T�n ngo�i truyền y Kim Lan, c�n ph�p g� kh�c kh�ng�, Tổ Ca-diếp chỉ gọi �A-nan�, A-nan đ�p �dạ�, Tổ Ca-diếp bảo �cột phướn trước ch�a ng�. Đ� l� chỉ cho ng�i A-nan ph�p m� Phật truyền ri�ng cho Ng�i. Phật truyền ph�p g�? Truyền c�y phướn trước ch�a ng�, phải kh�ng? Người xưa đ� chỉ r� cho người sau, nếu kh�ng kh�o ch�ng ta kh�ng sao nhận ra được. Bởi vậy n�n đa số cứ suy nghĩ, tại sao c�y phướn trước ch�a ng�. Suy nghĩ như vậy biết chừng n�o ra.

Ng�i A-nan theo Phật, nổi tiếng l� đa văn, tức tr� tuệ học giỏi nhớ nhiều, rốt cuộc bị Phật quở: �Ngươi ng�n ng�y học tuệ kh�ng bằng một ng�y học đạo. Nếu kh�ng học đạo một giọt nước cũng kh�ng ti�u.� Học tuệ l� học g�? Học đạo l� học g�? Tuệ đ�y l� văn tuệ, tư tuệ. C�n đạo l� t�nh thật của ch�nh m�nh. N�i thấy đạo l� nhận ra bản t�nh ch�n thật của ch�nh m�nh. Ch�ng ta biết quay lại nhận ra t�nh ch�n thật đ� l� học đạo, c�n cứ theo chữ nghĩa học thuộc l�ng b�i n�y b�i nọ, đ� l� học tuệ. Ở đ�y Phật dạy nếu kh�ng học đạo, một giọt nước của th� chủ cũng kh� ti�u. Cho n�n người tu phải học đạo. B�y giờ đa số tu sĩ chịu học g�? Chịu học tuệ. L�u l�u thi l�n cấp n�y cấp nọ, giỏi nữa tới bằng Tiến sĩ, oai qu� chừng. Đ� l� học tuệ, kh�ng phải nh�n giải tho�t. Nh�n giải tho�t l� trở về ch�nh m�nh.

 

CH�NH VĂN:

 

Hỏi: Thế n�o được kh�ng rơi v�o giai cấp?

Đ�p: Chỉ hằng ng�y ăn cơm m� chưa từng nhai một hạt gạo trắng, trọn ng�y đi m� chưa từng đạp một c�n đất, c�ng khi ấy kh�ng c� tướng nh�n, tướng ng�, trọn ng�y kh�ng rời tất cả việc m� kh�ng bị c�c cảnh m� hoặc, mới gọi l� người tự tại.

 

GIẢNG:

 

Ăn cơm m� chưa từng nhai một hạt gạo trắng, nghĩa l� sao? C�u n�y mang � nghĩa ăn m� kh�ng d�nh vị ngon vị dở, v� vậy ăn cả ng�y m� kh�ng kẹt vị. Trọn ng�y đi m� chưa từng đạp một c�n đất l� sao? Nghĩa l� đi m� kh�ng d�nh với c�y cối, cỏ hoa, kh�ng d�nh với tất cả những g� tr�n đất. Khi ấy kh�ng thấy c� m�nh thật, c� người thật v.v�

Trọn ng�y kh�ng rời tất cả việc m� kh�ng bị c�c cảnh m� hoặc, ch�ng ta nghe n�i ăn m� kh�ng nhai n�t hạt gạo, đi m� chưa từng đạp c�n đất, kh�ng c� tướng nh�n, tướng ng� tưởng l� kh�ng l�m g� hết, nhưng ở đ�y Tổ dạy trọn ng�y kh�ng rời tất cả việc l� việc g� cũng l�m, nhưng đặc biệt kh�ng bị c�c cảnh m� hoặc. L�m tất cả m� kh�ng d�nh tất cả, d�nh l� bị m� hoặc. Như vậy m�nh n�n l�m hay kh�ng n�n l�m? Khi kh�ng việc th� nghỉ, c� việc th� l�m, l�m tất cả m� đừng bị việc k�o l�i, l�m cho m�nh mắc kẹt trong đ�. Mới gọi l� người tự tại, ai được vậy mới l� tự tại.

Ch�ng ta c� bệnh, khi kh�ng l�m th� ai k�u l�m n�i để t�i tu, kh�ng chịu l�m g� hết. Nghe cũng phải, để cho rảnh tu, chớ bắt l�m ho�i l�m sao tu. Như vậy l�m c� nghĩa l� kh�ng tu. Nếu ai cũng sợ l�m tu kh�ng được th� chắc tới giờ m�c nước lạnh uống cho rồi, l�m g� c� cơm ăn. Cho n�n phải hiểu rằng kh�ng phải ngồi kh�ng mới gọi l� tu. Ch�ng ta l�m tất cả việc m� kh�ng bị cảnh m� hoặc, l�i k�o mới l� người tự tại. L�m th� cứ l�m, m� kh�ng bị việc l�m cho kẹt l� đ�ng.

 

CH�NH VĂN:

 

Lại, l�c n�o mỗi niệm đều kh�ng thấy tất cả tướng, chớ nhận ba thời trước sau, qu� khứ kh�ng đi, hiện tại kh�ng dừng, vị lai kh�ng đến, ngồi ngay an ổn mặc t�nh kh�ng c�u chấp, mới gọi l� người giải tho�t.

 

GIẢNG:

 

Người giải tho�t l� kh�ng d�nh tất cả niệm, kh�ng kẹt ba thời, kh�ng bị tất cả t�nh chấp tr�i buộc.

 

CH�NH VĂN:

 

Cố gắng! Cố gắng! Trong m�n n�y ng�n người, mu�n người chỉ được ba người, năm người.

 

GIẢNG:

 

Ng�i n�i trong m�n học n�y, ng�n người mu�n người chỉ được năm ba người. Sao kh� lắm vậy. Kh� hay dễ? Kh�ng kh�, n� dễ nhưng người ta kh�ng chịu dễ, bảo bỏ niệm m� kh�ng chịu bỏ cứ giữ ho�i. Giữ c�i nghĩ lăng xăng lộn xộn đau đầu hay thảnh thơi? Than đau đầu m� k�u bỏ kh�ng chịu bỏ. Bảo l�m việc nhẹ nh�ng lại n�i kh�, c�n việc kh� khăn th� cho l� dễ, thật v� l�. Kh� l� v� ch�ng ta kh�ng can đảm, kh�ng dứt kho�t, bu�ng l� bu�ng, kh�ng cho n� t�i lại, như vậy lần lần mới hết. Qu� vị bu�ng m� tiếc ho�i. T�m d�nh kẹt sao dễ vướng qu�, chỉ nghe thoang tho�ng g� đ� l� thấy kh� chịu rồi. V� dụ m�nh kh�ng l�m việc ấy, bỗng ai đi ngang n�i nho nhỏ, nghe động tới t�n m�nh th� hơi kh� chịu rồi, muốn t�m hiểu xem họ n�i c�i g�? Họ khen hay ch� m�nh? Chưa k�u tận mặt chỉ n�i nho nhỏ c� t�n m�nh l� muốn điều tra rồi, như vậy d�nh hay kh�ng d�nh? Mới phớt qua th�i, chưa gắn v� m� m�nh đ� d�nh, huống nữa chỉ mặt ch� n�y hư xấu th� th�i ba bốn ng�y bỏ ăn bỏ ngủ. Đ� l� v� ch�ng ta dễ d�nh qu�, n�n gỡ kh�. Nếu kh�ng th�m d�nh th� bu�ng rất dễ, c� kh� g� đ�u. Như vậy lỗi bu�ng kh�ng được l� lỗi tại ai? Tại m�nh giữ kềm m�i n�n kh�ng mất.

 

CH�NH VĂN:

 

Nếu kh�ng l�m việc n�y, ắt c� ng�y thọ ương. Cho n�n n�i: �Cố gắng đời nay phải xong xu�i, c�n đ�u nhiều kiếp mang tai họa.�

 

GIẢNG:

 

Cố gắng đời nay giải quyết cho xong, th� khỏi nhiều kiếp mang tai họa. Nếu kh�ng chịu giải quyết ngay đời n�y th� những kiếp sau phải mang họa, bị l�i k�o trở lại sanh nơi n�y, nơi kia chịu nhiều khổ nhọc.

 

 

 

]

 

 

THIỀN T�NG VIỆT NAM