Quảng Đức

48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà

00 Bia sach TT Thích Nguyen Tang-2026

48 dai nguyen duc Phat A Di Da_TT Nguyen Tang


pdf-2

🌹🥀🌷🍀🌷🌸🏵️🌻🌼🙏🙏🙏🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️
 
48 ĐẠI NGUYỆN
CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
THÍCH NGUYÊN TẠNG
QUẢNG ĐỨC TÙNG THƯ
Ấn hành Mùa Vu Lan 2026
00-Loi Gioi Thieu cua HT Thich Nhu Dien

LỜI GIỚI THIỆU

Tác phẩm 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà


Tác phẩm 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà do Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng giảng giải, được các Phật tử phiên tả và biên tập thành sách để ấn tống trong mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2026.

Người tu theo pháp môn Tịnh Độ đều biết ba bộ kinh căn bản, do chính Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng khi Ngài còn tại thế.

Thứ nhất là Kinh A Di Đà, còn gọi là Tiểu Bản A Di Đà. Đức Phật giảng kinh này tại Tịnh Xá Kỳ Viên, nước Xá Vệ, cho Ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Trưởng lão Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát.

Thứ hai là Kinh Vô Lượng Thọ, còn gọi là Đại Kinh hay Đại Bản A Di Đà. Đức Phật giảng kinh này tại núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá, cho Ngài A Nan cùng đại chúng. Vào khoảng thế kỷ XII–XIII, Tiến sĩ Vương Nhật Hưu ở Trung Hoa đã hội tập thành Đại Kinh A Di Đà. Về sau, kinh này được lưu truyền qua nhiều bản khác nhau tại Trung Hoa và Nhật Bản. Bốn mươi tám đại nguyện của Đức Phật A Di Đà được trình bày trong phần quyển thượng của kinh.

Thứ ba là Kinh Quán Vô Lượng Thọ, còn gọi là Quán Kinh. Đức Phật giảng kinh này cho Hoàng hậu Vy Đề Hy tại núi Linh Thứu, thuộc thành Vương Xá.

Nhân đại dịch COVID-19 lan rộng khắp thế giới, từ ngày 4 tháng 5 năm 2020, Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng, Trụ trì Tu Viện Quảng Đức tại Melbourne, Úc Châu, đã tổ chức những thời pháp thoại trực tuyến mỗi ngày kéo dài nhiều tháng, cho hơn một trăm Phật tử cùng tham dự. Đây là nhân duyên để Thượng Tọa lần lượt triển khai và giảng giải 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà qua Nghi Lạy Tam Bảo do cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ biên soạn.

Về lịch sử tư tưởng Tịnh Độ, Ngài Long Thọ, Nāgārjuna, sống vào khoảng thế kỷ II–III Tây lịch, đã dựa vào phẩm Dị Hành Đạo trong Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận để phân biệt hai con đường tu tập: nan hành đạo và dị hành đạo. Tuy Ngài không chính thức thành lập Tịnh Độ Tông, người đời sau vẫn tôn xưng Ngài là Sơ Tổ Tịnh Độ Tông Ấn Độ.

Tiếp theo là Ngài Thế Thân, Vasubandhu, sống vào khoảng thế kỷ IV–V, tác giả của Vãng Sanh Luận. Nguyên bản bằng Phạn văn tuy rất ngắn, nhưng sau khi được Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hán văn, đã tạo nên ảnh hưởng vô cùng sâu rộng. Trong luận này, Ngài Thế Thân trình bày những nội dung chính như năm niệm môn, năm công đức môn, hồi hướng và phát nguyện vãng sanh Cực Lạc.

Khi tư tưởng Tịnh Độ truyền sang Trung Hoa, Ngài Đàm Loan (476–542) đã trước tác Vãng Sanh Luận Chú, trực tiếp chú giải tác phẩm của Ngài Thế Thân. Ngài đặc biệt nhấn mạnh đến tha lực, bản nguyện, danh hiệu Phật và tư tưởng nan hành – dị hành của Ngài Long Thọ.

Tiếp đến, Ngài Đạo Xước (562–645) trước tác An Lạc Tập, kế thừa tư tưởng của các Ngài Long Thọ, Thế Thân và Đàm Loan; đồng thời phân định rõ Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn.

Vị Tổ thứ năm là Ngài Thiện Đạo (613–681). Những tác phẩm quan trọng của Ngài gồm có Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, Quán Niệm Pháp MônPháp Sự TánVãng Sanh Lễ Tán Ban Châu Tán. Tư tưởng Tịnh Độ của Ngài được xây dựng trên nền tảng giáo nghĩa của các Ngài Long Thọ, Thế Thân và Đàm Loan. Vì vậy, Ngài Thân Loan tôn xưng Ngài Thiện Đạo là vị Tổ có vai trò quyết định đối với sự hình thành tư tưởng Tịnh Độ.

Tại Nhật Bản, Ngài Nguyên Tín, Genshin (942–1017), trước tác bộ Vãng Sanh Yếu Tập, một tác phẩm có ảnh hưởng rất lớn đối với Ngài Pháp Nhiên – Nguyên Không.

Ngài Pháp Nhiên - Nguyên Không, Hōnen - Genkū (1133–1212), trước tác Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật Tập. Trong tác phẩm này, Ngài dẫn dụng tư tưởng của các vị Tổ từ Ngài Long Thọ đến Ngài Thiện Đạo làm nền tảng cho giáo nghĩa Tịnh Độ của mình.

Ngài Thân Loan, Shinran (1173–1263), trước tác bộ Giáo, Hạnh, Tín, Chứng, một công trình tiêu biểu của Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản. Tư tưởng niệm Phật tha lực của Ngài được xây dựng trên Ba Kinh Tịnh Độ và giáo nghĩa của bảy vị Tổ Tịnh Độ, đặc biệt là giáo lý về Chân Phật độ và Hóa Thân độ.

Theo Ngài Thân Loan, người niệm Phật cầu vãng sanh cần có ba tâm: chí tâm, tín nhạo và dục sanh. Giảng rộng ra, đó là tâm chí thành, thâm tâm hay tâm tin sâu, và tâm phát nguyện hồi hướng. Trong khi người tu Tịnh Độ tại Việt Nam thường hành trì theo ba yếu tố Tín, Nguyện và Hạnh, quan niệm của Ngài Thân Loan có nhiều điểm khác biệt.

Chẳng hạn, trong lời nguyện thứ mười tám, khi còn là Tỳ-kheo Pháp Tạng, Ngài phát nguyện:

“Giả sử khi ta thành Phật, nếu có chúng sanh nào trong mười phương vô biên quốc độ, niệm đến danh hiệu ta từ một đến mười niệm trước khi lâm chung mà ta không tiếp dẫn về thế giới của ta thì ta sẽ không ở ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác; ngoại trừ những kẻ phạm tội ngũ nghịch và nhất-xiển-đề.”

Ngài Thân Loan cho rằng chữ “giả sử” không còn cần thiết, bởi Tỳ-kheo Pháp Tạng nay đã thành Phật A Di Đà. Việc niệm Phật cũng không nhất thiết phải đạt đến nhất tâm, vì ngay khi chúng sanh khởi niệm, Đức Phật đã thấu rõ tâm nguyện của họ. Những người phạm tội ngũ nghịch và nhất-xiển-đề vẫn có thể được vãng sanh, nhưng phải ở nơi thai cung, biên địa hay nghi thành; đồng thời phải biết sám hối và có Thiện Hữu Tri Thức hướng dẫn.

Điều này cũng phù hợp với lời dạy trong quyển thứ hai của Kinh Đại Bát Niết Bàn: “Tất cả các pháp đều bất định, cho nên nhất-xiển-đề cũng bất định.” Vì vậy, những người phạm tội ngũ nghịch và nhất-xiển-đề, nếu phát khởi hai tâm tàm và quý, đồng thời được Thiện Hữu Tri Thức dìu dắt, cuối cùng cũng có thể thành Phật, như Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã chỉ dạy.

Công đức của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng thật không nhỏ. Từ tháng 5 năm 2020 đến cuối năm 2021, giữa lúc đại dịch COVID-19 khiến mọi sinh hoạt bị đình trệ, Thượng Tọa vẫn kiên trì giảng pháp trực tuyến mỗi ngày, đem lại niềm tin và sự an ổn cho Phật tử khắp năm châu. Những thời pháp ấy nay đã được các Phật tử ghi chép lại thành hơn bảy trăm trang bản thảo, trình bày rộng rãi và sâu sắc về 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà. Đây là một công trình đòi hỏi rất nhiều tâm lực, trí lực và sự kiên trì, không phải vị Pháp sư nào cũng có thể thực hiện liên tục mỗi ngày.

Nguyện cầu tất cả chúng sanh trong pháp giới đều được bước vào cảnh giới Chánh Định Tụ của Tây Phương Cực Lạc, nơi Đức Phật A Di Đà đang thuyết pháp và hội chúng khắp mười phương đang lắng nghe.

Quý Phật tử muốn ôn lại những lời giảng của Thượng Tọa nên mở từng trang sách, đọc lớn từng lời đại nguyện, suy ngẫm ý nghĩa và ứng dụng vào đời sống tu hành. Công đức ấy thật vô cùng quý báu.

 


Viết xong lời giới thiệu này vào lúc 16 giờ,

ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại Phương Trượng Đường,

Tổ Đình Viên Giác, Hannover, Đức Quốc.

Hòa Thượng Thích Như Điển

 



1- 48 dai nguyen phat a di da-thich nguyen tang
LỜI NÓI ĐẦU


Tập sách 48 Đại Nguyện Của Đức Phật A Di Đà này được hình thành từ loạt bài giảng của chúng tôi trong thời gian đại dịch COVID-19, bắt đầu từ tháng 5 năm 2020  tại Melbourne, Úc Châu.

Trong mùa đại dịch COVID-19, đặc biệt tại Melbourne, thành phố nơi chúng tôi đang sinh sống và hành đạo, đời sống cộng đồng đã trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn. Melbourne đã nhiều lần bị phong tỏa nghiêm ngặt, cộng lại khoảng 262 ngày, và được xem là một trong những thành phố bị lockdown lâu nhất trên thế giới.

Các đợt phong tỏa chính tại Melbourne gồm:

Đợt 1: từ ngày 30/03/2020 đến ngày 12/05/2020.

Đợt 2: từ ngày 08/07/2020 đến ngày 27/10/2020.

Đợt 3: từ ngày 12/02/2021 đến ngày 17/02/2021.

Đợt 4: từ ngày 27/05/2021 đến ngày 10/06/2021.

Đợt 5: từ ngày 15/07/2021 đến ngày 27/07/2021.

Đợt 6: từ ngày 05/08/2021 đến ngày 21/10/2021.

Chính trong bối cảnh cách ly, đóng cửa đạo tràng, hạn chế sinh hoạt cộng đồng và đầy bất an ấy, loạt bài giảng 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà đã được khởi giảng từ tháng 5 năm 2020 như một phương tiện giúp đại chúng nương tựa Tam Bảo, nuôi dưỡng tín tâm, giữ vững chánh niệm và an trú nơi hồng danh Đức Phật A Di Đà.

Tại Tu Viện Quảng Đức, chư Tăng và Phật tử cũng không thể hội họp tu học như thường lệ. Trong hoàn cảnh ấy, chúng tôi phát tâm thực hiện các thời pháp thoại trực tuyến, mỗi ngày sau thời thỉnh đại hồng chung khuya cùng đại chúng nương tựa nơi giáo pháp của Đức Phật, giữ vững chánh niệm, chuyển hóa lo âu, nuôi dưỡng niềm tin và nhất tâm cầu nguyện cho dịch bệnh sớm tiêu trừ, thế giới được bình an.

Giữa mùa đại dịch, khi con người đối diện sâu sắc hơn với vô thường, bệnh khổ, cách ly, mất mát và bất an, chúng tôi chọn đề tài 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà để giảng giải. Bởi vì mỗi đại nguyện của Đức Phật A Di Đà là một nguồn ánh sáng, một cánh cửa hy vọng, một lời nhắc nhở tha thiết giúp người con Phật quay về với tín tâm, nguyện lực và công phu niệm Phật.

Nhân duyên sâu xa của loạt bài giảng này bắt nguồn từ Nghi Lạy Tam Bảo do Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ biên soạn tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, Sài Gòn. Trong nghi thức ấy có phần lễ lạy Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà. Mỗi thời công phu khuya, khi xướng lễ từng đại nguyện, chúng tôi cảm nhận rất rõ bản hoài cứu độ rộng lớn của Đức Phật A Di Đà, đồng thời thấy rằng nếu chỉ lễ lạy mà chưa học hiểu sâu xa ý nghĩa từng lời nguyện thì thật là điều đáng tiếc.

Khi giảng 48 Đại Nguyện, chúng tôi cố gắng trình bày mỗi đại nguyện theo cả hai mặt Lý và Sự. Về mặt Sự, thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là một cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm ở phương Tây, nơi người đầy đủ tín, nguyện, hạnh có thể vãng sanh sau khi xả bỏ báo thân này. Về mặt Lý, Cực Lạc cũng chính là cảnh giới thanh tịnh nơi tự tâm, được hiển lộ khi người tu biết chuyển hóa tham, sân, si, biết niệm Phật, giữ giới, tu phước, tu huệ, sống trong chánh niệm và từ bi.

Tịnh Độ không chỉ là điểm đến sau khi chết, mà còn là con đường tu tập ngay trong đời sống hiện tại. Một gia đình biết thương yêu, lắng nghe, tha thứ, đó là một phần Tịnh Độ. Một đạo tràng biết hòa hợp, khiêm cung, phụng sự, đó là một phần Tịnh Độ. Một tâm hồn biết niệm Phật, biết buông xả, biết không tranh, biết không sân, đó là một phần Tịnh Độ. Và chính những phần Tịnh Độ nhân gian ấy sẽ làm nền tảng cho hành giả tiến về Tây Phương Cực Lạc.

Trong suốt hành trình giảng giải 48 Đại Nguyện, chúng tôi luôn muốn nhấn mạnh rằng mỗi đại nguyện không phải chỉ là lời nguyện xa xưa của Đức Phật A Di Đà, mà còn là bài học tu tập rất gần gũi cho mỗi người chúng ta hôm nay.

Đại nguyện Quốc Vô Ác Đạo nhắc chúng ta phải đoạn trừ ba đường ác trong tự tâm.

Đại nguyện Bất Đọa Ác Đạo nhắc chúng ta giữ gìn nhân lành, tránh xa nghiệp dữ.

Các đại nguyện về quang minh, thọ mạng, thân tướng, trí tuệ, thần thông, nghe pháp, cúng dường, bất thối chuyển, pháp nhẫn… đều là những cánh cửa giúp người tu thấy rõ con đường đi từ phàm phu đến Thánh quả, từ khổ đau đến an lạc, từ Ta-bà đến Cực Lạc.

Mỗi đại nguyện là một phần thưởng cho hành giả vãng sanh. Nhưng nếu chỉ hiểu là phần thưởng sau khi về Cực Lạc thì chưa đủ. Ngay trong đời này, khi ta biết sống theo tinh thần của từng đại nguyện, ta đã bắt đầu gieo trồng hạt giống Cực Lạc trong tâm mình.

Khi ta bớt sân, bớt tham, bớt si, đó là đang xa lìa ác đạo.

Khi ta biết niệm Phật trong từng hơi thở, đó là đang sống trong ánh sáng Vô Lượng Quang.

Khi ta biết tu phước mà không chấp phước, tu đức mà không kiêu mạn, đó là đang vun bồi công đức.

Khi ta biết giữ sơ tâm, không thối chuyển trước nghịch duyên, đó là đang thực tập Văn Danh Bất Thối.

Khi ta biết nhẫn với người, nhẫn với cảnh, và quán các pháp duyên sinh vô ngã, đó là đang gieo nhân Tam Pháp Nhẫn.

Đặc biệt, lời nguyện cuối cùng Đắc Tam Pháp Nhẫn là một lời kết rất sâu sắc. Người nghe danh hiệu Đức Phật A Di Đà, người có nhân duyên vãng sanh về Cực Lạc, sẽ chứng được Sanh Nhẫn, Pháp Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Sanh Nhẫn giúp ta không bị con người làm mất tâm. Pháp Nhẫn giúp ta không bị hoàn cảnh làm loạn tâm. Vô Sanh Pháp Nhẫn giúp ta thấy các pháp duyên sinh, không thật có, nên không còn chấp trước và sân hận. Đó là con đường từ nhẫn nhục đời thường đến trí tuệ Bát-nhã sâu xa.

Nhìn lại loạt bài giảng này, chúng tôi thấy tất cả đều do nhân duyên Tam Bảo gia hộ, do tâm thành của đại chúng và do hoàn cảnh đặc biệt của đại dịch mà thành. Nếu không có mùa dịch COVID-19, có lẽ chúng tôi chưa đủ duyên ngồi xuống mỗi ngày để cùng đại chúng học từng đại nguyện một cách liên tục như vậy. Trong cái khổ của đại dịch, chúng ta lại có duyên quay về sâu hơn với Phật pháp. Trong sự cách ly của thân thể, chúng ta lại có cơ hội nối kết nhau bằng giáo pháp, bằng niềm tin và bằng câu Phật hiệu.

Vì vậy, tập sách này xin được xem như một kỷ niệm tâm linh của mùa đại dịch. Nó ghi lại một giai đoạn mà giữa bao nhiêu bất an của thế giới, người con Phật vẫn cùng nhau quay về nương tựa nơi Tam Bảo, cùng nhau học pháp, niệm Phật, phát nguyện và nuôi lớn niềm tin vào bản nguyện tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà.

Chúng con thành kính tri ân Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ, bậc đã biên soạn Nghi Lạy Tam Bảo, làm nền tảng cho nhân duyên học tập và giảng giải 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà trong tập sách này.

Thành kính tri ân Hòa Thượng Thích Thái Siêu, bậc đã trân quý lưu giữ và ấn hành bản nghi nơi hải ngoại, giúp cho pháp bảo này được tiếp tục lưu truyền trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam xa quê hương.

Thành kính tri ân cư sĩ Hạnh Cơ, người đã phát tâm dịch nghĩa, hiệu đính và cộng tác trong nhiều Phật sự văn hóa, dịch thuật với trang nhà Quảng Đức suốt nhiều năm qua.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn đệ tử Helen và cô Viên Giác, đã nhiều năm âm thầm phát tâm đánh máy, dò lỗi, sửa chính tả, góp phần đưa kinh sách, nghi thức và tài liệu Phật học đến với đại chúng gần xa qua trang nhà Quảng Đức.

Chúng con xin thành kính tri ân Hòa Thượng Viện Chủ Thích Tâm Phương, Đại Đức Tri Sự Thích Đăng Từ, Ni Sư Thích Nữ Tâm Vân, cùng quý Phật tử đạo tràng Tu Viện Quảng Đức và đại chúng gần xa đã lắng nghe, khích lệ, hộ trì và cùng tu học trong suốt thời gian hình thành loạt bài giảng này.

Con xin đặc biệt thành kính đảnh lễ và tri ân Hòa Thượng Thích Như Điển – Đệ Nhị Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tăng Già Thế Giới, Chủ Tịch Ủy Ban Phiên Dịch Trung Ương, Chánh Thư Ký Hội Đồng Hoằng Pháp, Phương Trượng Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc – đã từ bi dành nhiều thời gian đọc bản thảo, nghiên cứu và viết lời giới thiệu hết sức đầy đủ, sâu sắc và giá trị cho tập sách của con.

Trong lời giới thiệu, Hòa Thượng không chỉ khái quát nội dung tác phẩm mà còn trình bày rõ nguồn gốc của Ba Kinh Tịnh Độ, sự hình thành và truyền thừa tư tưởng Tịnh Độ từ Ấn Độ sang Trung Hoa, Nhật Bản; đồng thời khai mở giáo nghĩa của các bậc Tổ sư tiêu biểu như Ngài Long Thọ, Thế Thân, Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, Nguyên Tín, Pháp Nhiên và Thân Loan.

Những lời chỉ dạy tổng quan, uyên thâm và hệ thống của Hòa Thượng đã làm cho tập sách được tăng thêm giá trị về phương diện lịch sử, học thuật và hành trì; đồng thời giúp người đọc có được một cái nhìn sâu rộng hơn về nguồn mạch tư tưởng, giáo nghĩa căn bản cũng như ý nghĩa thực tiễn của pháp môn Tịnh Độ trong đời sống tu học.

Con vô cùng xúc động trước những lời tán thán và sự khích lệ của Hòa Thượng đối với các thời pháp trực tuyến mà con đã thực hiện trong giai đoạn đại dịch COVID-19. Đó không chỉ là sự nâng đỡ đối với riêng con, mà còn là nguồn động viên lớn lao giúp con có thêm nghị lực tiếp tục chỉnh lý, biên tập, dàn trang và hoàn thành việc ấn tống tác phẩm trong mùa Vu Lan Báo Hiếu năm 2026.

Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhóm hỗ trợ   kỹ thuật đã âm thầm góp phần duy trì các buổi pháp thoại  trực tuyến trong mùa đại dịch COVID-19, gồm quý Phật tử: Quảng Đại Tâm, Quảng Thiện Duyên, Hòa Ngọc, Nguyên Nhật Khánh.

Chúng tôi cũng xin thành tâm ghi nhận và tán dương công đức của hai Phật tử học viên Quảng Tịnh Tâm Trang Thị Hạnh tại Toronto, Canada, và Huệ Hương Huỳnh Ngọc Phượng tại Sydney, Úc Châu, đã phát tâm tinh tấn lắng nghe các thời pháp thoại, rồi chịu khó ghi lại phần trình pháp ngay sau mỗi buổi giảng. Những lời trình pháp ấy không chỉ thể hiện sự tiếp nhận giáo pháp bằng tất cả tâm thành, mà còn góp phần làm sáng tỏ thêm ý nghĩa bài giảng, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt, suy nghiệm và ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống tu học hằng ngày. Đồng thời, chúng tôi xin chân thành cảm niệm công đức của vợ chồng đệ tử Lệ Trinh Diệu Tuyết và Nguyên Quảng Tánh, đã phát tâm bền bỉ phiên tả các bài giảng mỗi ngày thành văn bản; đồng thời tri ân Phật tử Thanh Phi đã tận tình hỗ trợ đọc lại, sửa lỗi chính tả và góp phần hoàn chỉnh bản đánh máy. Chúng tôi xin chân thành cảm niệm công đức của hai Phật tử Diệu Danh và Diệu Trí tại Đức Quốc, đã phát tâm diễn đọc tập sách này thành sách nói, nhằm cung ứng cho quý thính giả gần xa trên trang nhà Quảng Đức, giúp pháp âm của Tịnh Độ Tông được lan tỏa rộng rãi, nuôi dưỡng tín tâm và đem lại lợi lạc cho nhiều người hữu duyên. Sau cùng, chúng tôi xin thành tâm tri ân Phật tử Quảng Duy Minh (Mẫn), Phật tử Hữu Phú Quảng Pháp Ân, đã tận tụy kết tập, dàn trang và phụ trách ấn loát, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tập sách này như một phẩm vật pháp bảo kính dâng lên Tam Bảo và trao gửi đến đại chúng.

Nếu tập sách này có chút công đức nào, xin hồi hướng đến pháp giới chúng sanh, cầu nguyện dịch bệnh tiêu trừ, chiến tranh chấm dứt, thiên tai giảm thiểu, nhân loại biết thương yêu nhau hơn, mọi người biết quay về nương tựa Tam Bảo, sống trong chánh niệm, từ bi và trí tuệ.

Dù đã cố gắng biên tập, chỉnh lý và trình bày lại cho mạch lạc, nhưng vì trí lực và phước duyên còn giới hạn, chắc chắn tập sách này không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong chư Tôn Đức, các bậc thiện tri thức, quý học giả và quý Phật tử từ bi chỉ giáo, để những lần tái bản sau được hoàn chỉnh hơn.

Nguyện cho những ai hữu duyên đọc tập sách này đều tăng trưởng tín tâm đối với Đức Phật A Di Đà, hiểu sâu hơn bản nguyện của Ngài, phát tâm niệm Phật chuyên cần, giữ vững tín, nguyện, hạnh, sống an lành giữa vô thường, và khi xả bỏ báo thân này được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.
 

Melbourne, Úc Châu
Mùa An Cư Kiết Hạ, Phật lịch 2570 – Dương lịch 2026

Tỳ-kheo Thích Nguyên Tạng
Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức
Chủ Biên Trang Nhà Quảng Đức


MỤC LỤC

 

  • Lời giới thiệu của HT. Thích Như Điển........................................    9
  • Lời nói đầu .............................................................................14
  • Duyên Khởi về loạt bài giảng trong Mùa dịch Covid-19............ 22
  • Tổng Quan về 48 Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà................ 30
  • Đại Nguyện Thứ 01: Quốc Vô Ác Đạo.......................................... 56
  • Đại Nguyện Thứ 02: Bất Đọa Ác Đạo........................................... 71
  • Đại Nguyện Thứ 03: Thân Chơn Kim Sắc.................................... 78
  • Đại Nguyện Thứ 04: Hình Sắc Tương Đồng ............................... 80
  • Đại Nguyện Thứ 05: Túc Mạng Trí Thông................................... 89
  • Đại Nguyện Thứ 06: Thiên Nhãn Phổ Kiến................................. 90
  • Đại Nguyện Thứ 07: Thiên Nhĩ Phổ Căn...................................... 91
  • Đại Nguyện Thứ 08: Tha Tâm Tất Tri ......................................... 91
  • Đại Nguyện Thứ 09: Thần Túc Vô Ngại....................................... 92
  • Đại Nguyện Thứ 10: Bất Tham Kế Thân................................. 105
  • Đại Nguyện Thứ 11: Chứng Định Trú Diệt............................ 119
  • Đại Nguyện Thứ 12: Quang Minh Vô Lượng......................... 138
  • Đại Nguyện Thứ 13: Thọ Mạng Vô Lượng............................. 152
  • Đại Nguyện Thứ 14: Thanh Văn Vô Số................................... 166
  • Đại Nguyện Thứ 15: Tùy Nguyện Tu Đoản............................ 181
  • Đại Nguyện Thứ 16: Bất Văn Ác Danh.................................... 196
  • Đại Nguyện Thứ 17: Chư Phật Xưng Tán............................... 207
  • Đại Nguyện Thứ 18: Thập Niệm Tất Sanh.............................. 226
  • Đại Nguyện Thứ 19: Lâm Chung Tiếp Dẫn............................ 251
  • Đại Nguyện Thứ 20: Dục Sanh Quả Toại................................ 267
  • Đại Nguyện Thứ 21: Tam Thập Nhị Tướng........................... 286
  • Đại Nguyện Thứ 22: Nhất Xanh Bổ Xứ.................................... 301
  • Đại Nguyện Thứ 23: Cúng Dường Chư Phật.......................... 320
  • Đại Nguyện Thứ 24: Cung Cụ Tùy Ý........................................ 335
  • Đại Nguyện Thứ 25: Diễn Thuyết Diệu Trí............................ 351
  • Đại Nguyện Thứ 26: Na La Diên Thân..................................... 366
  • Đại Nguyện Thứ 27: Nhất Thiết Nghiêm Tịnh...................... 379
  • Đại Nguyện Thứ 28: Đạo Thọ Cao Hiển................................. 398
  • Đại Nguyện Thứ 29: Tụng Kinh Đắc Huệ............................... 410
  • Đại Nguyện Thứ 30: Tuệ Biện Vô Hạn.................................... 428
  • Đại Nguyện Thứ 31: Chiếu Kiến Thập Phương..................... 444
  • Đại Nguyện Thứ 32: Bửu Hương Diệu Nghiêm.................... 458
  • Đại Nguyện Thứ 33: Mông Quang Nhu Nhuyến.................. 475
  • Đại Nguyện Thứ 34: Văn Danh Đắc Nhẫn.............................. 491
  • Đại Nguyện Thứ 35: Thoát Ly Nữ Thân.................................. 509
  • Đại Nguyện Thứ 36: Thường Tu Phạm Hạnh........................ 527
  • Đại Nguyện Thứ 37: Thiên Nhơn Trí Kính............................ 538
  • Đại Nguyện Thứ 38: Y Phục Tùy Niệm................................... 549
  • Đại Nguyện Thứ 39: Lạc Như Lậu Tận.................................... 563
  • Đại Nguyện Thứ 40: Thọ Trung Hiện Sát............................... 574
  • Đại Nguyện Thứ 41: Chư Căn Vô Khuyết.............................. 592
  • Đại Nguyện Thứ 42: Thanh Tịnh Giải Thoát......................... 609
  • Đại Nguyện Thứ 43: Văn Danh Đắc Phước............................ 625
  • Đại Nguyện Thứ 44: Tu Hành Túc Đức................................... 640
  • Đại Nguyện Thứ 45: Phổ Đẳng Tam Muội............................. 659
  • Đại Nguyện Thứ 46: Tùy Nguyện Văn Pháp.......................... 673
  • Đại Nguyện Thứ 47: Văn Danh Bất Thối................................ 692
  • Đại Nguyện Thứ 48: Đắc Tam Pháp Nhẫn.............................. 70
  • Nhìn lại sinh hoạt tu học trong mùa dịch ................................719

xem tiep