Câu hỏi: Nam mô A Di Đà Phật! Kính bạch Thầy, Gia đình con hiện đang gặp chuyện buồn liên tiếp nên ai cũng rất hoang mang và lo sợ. Bác con vừa mới qua đời, thì chỉ bốn ngày sau, bà Nội con cũng ra đi.
Có một người nói với gia đình rằng nhà con bị “trùng tang” hay “âm gì đó”, rồi đề nghị phải mời một vị thầy (không phải chư Tăng) về làm lễ, mặc áo pháp và viết bùa chú đặt vào áo quan của bà để tránh những chuyện không hay tiếp tục xảy ra. Người ấy còn nói vì bác con và bà Nội cùng tuổi Thân nên mới xảy ra như vậy, đồng thời những ai trong gia đình tuổi Thân cũng không được đến gần thi hài.
Bạch Thầy, vị Thầy chủ trì tang lễ cho bác và bà con đã giảng giải để giúp gia đình bớt lo lắng. Tuy nhiên, hiện nay nhiều người thân và hàng xóm vẫn tiếp tục bàn tán, khiến cả nhà con càng thêm bất an. Có người còn nói chuyện này được nhắc đến trong Kinh Địa Tạng. Con đã cố tìm đọc nhưng không thấy đoạn nào nói rõ về “trùng tang” như lời họ kể.
Con thật lòng không muốn tin những điều ấy, nhưng vì chuyện xảy ra liên tiếp nên trong lòng con vẫn rất sợ hãi và hoang mang. Nay gia đình con đang rối bời, không biết nên tin thế nào cho đúng với chánh pháp.
Kính mong Bạch Thầy từ bi chỉ dạy cho gia đình con hiểu rõ để vượt qua nỗi lo sợ này và có được sự bình an trong lúc tang gia bối rối.
Chúng con xin thành kính tri ân công đức của Thầy.
Nam mô A Di Đà Phật!
Con, Nguyễn Khánh Toàn (17/4/2004)
TT Thích Nguyên Tạng giải đáp:
Nam Mô A Di Đà Phật.
Kính anh Khánh Toàn,
Trước hết, Thầy xin chân thành chia buồn cùng anh và tang quyến trước sự mất mát quá lớn lao xảy ra liên tiếp trong gia đình. Bác anh vừa qua đời chưa bao lâu thì chỉ bốn ngày sau, bà Nội anh cũng ra đi. Những biến cố dồn dập như vậy khiến cả gia đình hoang mang, lo lắng là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Về chuyện “trùng tang” mà nhiều người đang bàn tán, Thầy xin chia sẻ với anh đôi điều dưới góc nhìn của Phật giáo để gia đình có thể bình tâm hơn.
Trong dân gian Việt Nam và Trung Hoa từ xưa vốn tồn tại quan niệm về “trùng tang”, tức là trong một thời gian ngắn, nhiều người trong cùng gia đình liên tiếp qua đời. Vì chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian và văn hóa Á Đông nên người ta thường lý giải hiện tượng này theo hướng huyền bí, bùa chú, âm phần hay “bắt theo”. Từ đó phát sinh rất nhiều hình thức cúng kiếng, trấn yểm, bùa phép mang màu sắc mê tín.
Tuy nhiên, Phật giáo không nhìn vấn đề theo hướng thần bí hay ma quái như vậy. Đạo Phật nhìn mọi sự việc xảy ra trong cuộc đời bằng luật nhân quả và nghiệp báo. Chữ “trùng” ở đây chỉ mang nghĩa “trùng hợp”, “liên tiếp”, “lặp lại”, chứ không có nghĩa là có một “vong” nào đó quay về bắt thêm người thân.
Thực tế trong cuộc sống, chuyện nhiều người trong cùng một gia đình mất liên tiếp vẫn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới, không riêng gì Việt Nam hay Trung Hoa. Có khi do tuổi già, bệnh tật, tai nạn, cú sốc tinh thần hoặc do cộng nghiệp của một gia đình vào đúng thời điểm nhân duyên hội tụ. Con người vì quá đau buồn nên thường muốn tìm một nguyên nhân huyền bí để giải thích, từ đó sinh ra tâm lý sợ hãi và hoang mang.
Anh nói anh không muốn tin nhưng trong lòng vẫn sợ, điều đó rất tự nhiên. Khi biến cố xảy ra liên tục, tâm con người khó tránh khỏi bất an. Nhưng người Phật tử cần quay về nương tựa nơi chánh kiến và nhân quả, chứ không nên để mình bị cuốn vào những lời đồn đoán làm tăng thêm sợ hãi.
Trong Kinh Địa Tạng không có đoạn nào dạy phải viết bùa chú bỏ vào áo quan hay cấm người cùng tuổi đến gần thi hài để tránh “bị bắt theo”. Trái lại, Kinh Địa Tạng nhấn mạnh đến hiếu đạo, tụng kinh, niệm Phật, bố thí, cúng dường, làm việc thiện và hồi hướng công đức cho người quá vãng để trợ duyên cho hương linh được nhẹ nghiệp và siêu thoát.
Cách đây khoảng một tháng tại Việt Nam, đã xảy ra một câu chuyện vô cùng thương tâm. Một gia đình đang trên đường đưa linh cữu người Mẹ ra nghĩa trang an táng thì chiếc xe tang vì chạy quá nhanh và bất cẩn đã bị lật trên đoạn đường thuộc tỉnh Long An, miền Tây Việt Nam. Trong lúc tai nạn xảy ra, cỗ quan tài bị hất văng lên rồi rơi xuống trúng đầu người con trai ngồi chung với quan tài, khiến anh tử vong ngay tại chỗ trong tình trạng vô cùng đau lòng. Ngoài ra còn có bảy người khác bị thương nặng. Tin tức này đã được SBS Radio tại Úc loan tin
Đây thật sự là một bi kịch quá lớn đối với gia đình ấy, nỗi đau chồng chất lên nỗi đau. Mẹ vừa mất chưa kịp an táng thì người con lại tử nạn ngay trên đường đưa tang. Trước những trường hợp như vậy, nhiều người thường vội vàng cho rằng đó là “chết trùng”, hoặc mê tín hơn nữa là nghĩ rằng người Mẹ “bắt con đi theo”. Mỗi người lý giải sự việc theo niềm tin và sự hiểu biết riêng của mình.
Tuy nhiên, người Phật tử không nhìn sự việc bằng tâm sợ hãi hay mê tín như vậy. Đạo Phật nhìn mọi hiện tượng xảy ra trong cuộc đời qua lăng kính của nhân quả và nghiệp báo. Có những nghiệp duyên sâu dày mà con người trong hiện tại không thể thấy hết được. Sự chia lìa liên tiếp trong một gia đình là một nỗi khổ lớn mà trong Phật giáo gọi là “ái biệt ly khổ”, thương yêu mà phải xa lìa; hoặc “oán tắng hội khổ”, những nghiệp duyên oan trái gặp nhau trong đau khổ.
Trong Kinh Thiện Ác Nhân Quả cũng từng nhắc đến rằng những cảnh ly tán, mất mát liên tục trong gia đình không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà đều có gốc rễ nhân duyên nghiệp báo từ nhiều đời nhiều kiếp. Nhưng hiểu nhân quả không phải để sợ hãi hay tuyệt vọng, mà để thức tỉnh chính mình, biết sống thiện lành hơn, biết thương người hơn, và biết tu tập chuyển hóa nghiệp lực ngay trong hiện tại.
Người học Phật nên hiểu rằng:
nếu còn sanh tử luân hồi thì chuyện mất mát và chia ly là điều không ai tránh khỏi. Điều quan trọng không phải là sợ “trùng tang”, mà là biết chuyển hóa đau thương thành sự tu tập và làm lành.
Gia đình anh hiện nay điều cần nhất không phải là hoảng loạn vì bùa chú hay kiêng cữ mê tín, mà là:
Đó mới chính là tinh thần hộ niệm đúng theo chánh pháp.
Người xưa có câu:
“Phước đức tại nhân tâm.”
Gia đình nào biết sống hiền lành, biết tu nhân tích đức thì dù gặp nghịch cảnh cũng sẽ dần chuyển hóa được nghiệp duyên nặng nề.
Thầy tin rằng bác anh và bà Nội anh lúc sinh thời sống nhân hậu, biết thương người và giúp đỡ mọi người, thì những thiện nghiệp ấy tuyệt đối không mất. Nhân lành ấy rồi sẽ tiếp tục trổ quả lành trong tương lai cho gia đình và con cháu.
Trong lúc tang gia bối rối, mong anh và gia đình đừng quá lo sợ bởi những lời bàn tán chung quanh. Càng sợ hãi thì tâm càng bất an. Người Phật tử phải lấy chánh kiến làm nền tảng, lấy nhân quả làm kim chỉ nam, lấy niệm Phật và tu tập làm nơi nương tựa.
Từ nay cho đến 49 ngày, gia đình nên phát tâm tụng Kinh Địa Tạng, Kinh A Di Đà, Kinh Dược Sư hoặc Lương Hoàng Sám, Thủy Sám; đồng thời làm các việc phước thiện để hồi hướng cho hương linh người mất. Đó mới là cách thiết thực nhất để đem lại lợi lạc cho cả người sống lẫn người đã khuất.
Vài lời chia sẻ chân thành cùng anh và tang quyến.
Nguyện cầu chư hương linh sớm được siêu sanh Tịnh cảnh, và cầu chúc gia đình anh sớm vượt qua giai đoạn khó khăn này để tìm lại sự bình an trong chánh pháp. Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Câu hỏi:
Bạch Thầy, chúng con là vợ chồng mới cưới và sống riêng. Nay viết thư xin hỏi Thầy như sau: Trong nhà chúng con có nên thờ cúng Thần Bếp, Thần Tài, Thần Hộ Mệnh cho mạng của hai vợ chồng con (Mẹ Sanh Mẹ Độ: Cữu Thiên Huyền Nữ, Trương Tử Vi, Ông Thiên (bàn thờ thiên ngoài trời trước nhà).
Con là chồng, chỉ mong thờ Đức Thích Ca và nguyện làm theo càng nhiều lời dạy của Phật là tốt.
Vậy rất mong quý Thầy khuyên bảo để chúng con làm điều hay lẽ phải.
Trân trọng cám ơn Thầy trước. Mô Phật. Hưng , 39 tuổi ở Saigon (12/10/2011)
TT Thích Nguyên Tạng giải đáp:
Nam Mô A Di Đà Phật,
Kính anh Hưng,
Cảm ơn anh đã gửi email chia sẻ và hỏi ý kiến Thầy về vấn đề thờ cúng trong gia đình.
Nếu anh đã là người Phật tử quy y Tam Bảo thì chắc anh cũng còn nhớ ba lời phát nguyện căn bản trong lễ Quy Y:
Quy y Phật, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y Thiên thần, quỷ vật.
Quy y Pháp, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y ngoại đạo tà giáo.
Quy y Tăng, nguyện đời đời kiếp kiếp không quy y tổn hữu ác đảng.
Ba lời phát nguyện ấy chính là nền tảng định hướng đời sống tâm linh của người đệ tử Phật. Người Phật tử nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng để học đạo, tu tập và chuyển hóa khổ đau, chứ không đặt niềm tin nơi các hình thức cầu xin thần linh hay tín ngưỡng mang tính mê tín dân gian.
Do đó, tất cả những hình thức thờ cúng như Thần Bếp, Thần Tài, Thần Hộ Mệnh, Cửu Thiên Huyền Nữ, Trương Tử Vi, bàn Ông Thiên (thờ chư thiên các cõi trời)… đều thuộc về tín ngưỡng dân gian và tín ngưỡng đa thần. Đây không phải là giáo lý căn bản của đạo Phật, nên người Phật tử cần hiểu rõ để tránh việc thờ cúng pha tạp dẫn đến mất đi chánh kiến.
Thầy rất hoan hỷ khi biết anh chỉ muốn thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật là bậc giác ngộ, là người khai sáng đạo Phật, và người Phật tử thờ Phật là để tưởng nhớ công hạnh giác ngộ của Ngài, đồng thời học theo giáo lý từ bi và trí tuệ của Ngài để tu tập chuyển hóa bản thân.
Chúng ta không thờ Phật theo nghĩa cầu xin ban phước hay gia hộ như một vị thần linh. Đức Phật chỉ là bậc Đạo Sư chỉ đường. Có an lạc hay đau khổ, có hạnh phúc hay bất hạnh là do chính nghiệp và sự tu tập của mỗi người. Nếu biết sống thiện lành, giữ giới, làm việc tốt và tu tập đúng chánh pháp thì tự nhiên đời sống sẽ dần an ổn và tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, nếu anh và gia đình chưa thật sự hiểu rõ các vấn đề tín ngưỡng và vẫn còn muốn tìm hiểu thêm về việc thờ cúng các vị thần dân gian như đã nêu trên, thì Thầy nghĩ trước hết nên tìm hiểu rõ nguồn gốc, lịch sử và ý nghĩa của từng hình thức tín ngưỡng ấy rồi hãy quyết định. Người Phật tử cần có trí tuệ và chánh kiến, không nên tin theo chỉ vì thói quen truyền thống hay vì tâm lý sợ hãi.
Anh có thể đọc thêm tài liệu về vấn đề thờ cúng và lễ bái tại đây để hiểu rõ hơn:
https://tuvienquangduc.com.au/Nghile/31thocung.html
Kính chúc anh và gia đình luôn được an lạc, hạnh phúc và vững tâm trên con đường học Phật.
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy, con tên Đức Lộc, con năm nay 21 tuổi con cũng có nghiên cứu chút ít về triết học giáo lý phật nhưng có nhiều điểm căn bản nhất con không hiểu là "thế giới niết bàn mà nơi phật sống nó ra sao THẦY nơi đó có màu xanh như ở trái đất không, phật họ có ăn có uống có làm kinh tế, có kết hôn sinh con không ạ,thưa THẦY tại sao mình không thể thấy được phật tiên thánh thần và cả ma nữa làm sao đễ thấy được họ hả thầy.họ có cấu tạo từ chất gì? con người họ có tiền kiếp hậu kiếp con làm sau biết được kiếp trước mà con là ai và sống ở đâu ? THẦY cho con hỏi nữa tại sao dân tộc mình trãi qua mấy nghìn năm bị đế quốc ngoại ban xâm lược hiếp đáp theo luật nhân quả của nhà phật đối với cả một dân tộc hay một con người điều phải công bằng chứ "gieo gì được nấy" mà sao Nước mình không cường thịnh mà các nước ác như MỸ,TRUNG QUỐC... mà họ vẫn phát triễn mà mình cứ nghèo và dịch bệnh thiên tại nặng nề vô cùng cứ tiếp diễn hoài.
những câu hỏi này thật sự là con không biết hỏi ai trong trường nó không có dạy, nhiều khi con hỏi bạn bè câu hỏi này và các câu hỏi khác họ nói con bị điên chứ thiệt là hết hỏi luôn.
con xin THẦY trả lời cho con những câu hỏi trên, con xin cám ơn thầy nhiều ạ, con kính chúc THẦY thành công trên con đường tu học trả về nguồn cội hiệp cùng chư phật. Con, Nguyễn Đức Lộc (16/1/2011)
TT Thích Nguyên Tạng giải đáp:
Trước hết, con nên hiểu rằng Niết Bàn không phải là một “thế giới” theo nghĩa vật chất như trái đất hay các hành tinh mà con đang hình dung. “Niết Bàn” là phiên âm từ chữ Phạn Nirvāṇa. Chữ “Niết” nghĩa là dứt sạch, chữ “Bàn” nghĩa là phiền não. Nói cách khác, Niết Bàn là trạng thái tâm hoàn toàn thanh tịnh và giải thoát, không còn tham lam, sân hận, si mê, đau khổ và chấp ngã nữa.
Cho nên, Niết Bàn không phải là một nơi chốn có nhà cửa, phố xá hay đời sống sinh hoạt giống nhân gian. Khi một người đạt đến Niết Bàn tức là nội tâm đã hoàn toàn giải thoát khỏi mọi khổ đau sinh tử luân hồi. Chỉ cần không còn tham sân si thôi, con người đã vượt thoát biết bao đau khổ của thế gian này rồi.
Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về cảnh giới an lạc của chư Phật và chư vị Bồ Tát, con có thể đọc thêm Kinh A Di Đà nói về cõi Cực Lạc. Trong kinh có mô tả những ao thất bảo, chim hót pháp âm, cây báu, đất vàng… nhưng tất cả đều mang tính biểu tượng cho cảnh giới thanh tịnh và an lạc vượt ngoài sự tưởng tượng của con người.
Con có thể đọc thêm:
-Kinh A Di Đà: https://tuvienquangduc.com.au/kinhdien/262kinhadida.html
- Bài viết về Niết Bàn https://tuvienquangduc.com.au/coban/130vonga.html
2/ Tại sao mình không thấy được Phật, Tiên, Thánh, Thần hay ma? Làm sao để thấy được họ? Họ được cấu tạo từ chất gì?
Con thử nhìn ngọn lửa của cây nến xem. Khi cây nến cháy, con thấy ngọn lửa rất rõ. Nhưng khi cây nến tắt rồi, ngọn lửa đi đâu? Nó được cấu tạo từ chất gì? Có nhiều thứ hiện hữu mà mắt thường không thể nhìn thấy hết được.
Ví dụ:
Loài chim cú có thể nhìn trong đêm tối, còn mắt người thì không. Có những loại kính hồng ngoại giúp con thấy vật thể trong bóng tối mà mắt thường bất lực. Điều đó cho thấy khả năng nhận biết của con người rất giới hạn.
Đạo Phật cho rằng còn rất nhiều cảnh giới và dạng sống khác nhau tồn tại trong vũ trụ mà phàm phu chưa đủ khả năng nhận biết. Muốn mở rộng khả năng ấy, con phải tu tập chuyển hóa thân tâm, giữ giới, ăn chay, niệm Phật, thiền định và thanh lọc nội tâm. Khi tâm càng thanh tịnh thì trí tuệ càng mở ra. Người tu hành sâu có thể cảm nhận những điều mà người bình thường không thấy được.
Tuy nhiên, mục đích của đạo Phật không phải để “thấy ma” hay thấy thần thánh, mà là để thấy rõ chính mình, thấy rõ tham sân si và đạt đến an lạc giải thoát.
3/ Con người có tiền kiếp và hậu kiếp không? Làm sao biết được kiếp trước mình là ai và sống ở đâu?
Theo giáo lý nhân quả và luân hồi của Phật giáo, con người không chỉ có một đời sống này. Nếu chưa giác ngộ giải thoát thì sau khi chết sẽ tiếp tục tái sinh theo nghiệp lực của mình.
Con thử nhìn trong cuộc sống:
Tại sao lại có sự khác biệt như vậy? Đạo Phật giải thích rằng đó là kết quả của nghiệp nhân từ nhiều đời nhiều kiếp.
Muốn biết kiếp trước mình như thế nào, hãy nhìn hoàn cảnh và đời sống hiện tại. Muốn biết kiếp sau mình ra sao, hãy nhìn hành động mình đang làm trong hiện tại.
Nếu đời này:
Ngược lại, nếu sống ích kỷ, gây đau khổ cho người khác thì sẽ tạo nghiệp bất thiện cho tương lai.
Điều quan trọng không phải là tò mò kiếp trước mình là ai, mà là hiện tại mình đang sống như thế nào.
4/ Thầy cho con hỏi: nếu luật nhân quả là “gieo gì gặt nấy”, tại sao dân tộc Việt Nam trải qua nhiều đau khổ, chiến tranh, thiên tai, nghèo khó; còn những nước mạnh như Mỹ hay Trung Quốc nhiều khi làm điều xấu mà vẫn giàu mạnh và phát triển?
Con không nên nhìn vấn đề quá phiến diện. Không riêng gì Việt Nam chịu thiên tai và đau khổ. Cả thế giới này đều đang đối diện với:
Mỹ hay Trung Quốc tuy giàu mạnh về kinh tế, nhưng cũng có vô số vấn đề và khổ đau riêng. Có khi vật chất giàu mà tinh thần rất bất an.
Luật nhân quả không đơn giản là “hôm nay làm ác thì ngày mai bị quả báo ngay.” Có những nghiệp quả kéo dài nhiều đời nhiều kiếp, có nghiệp cá nhân, có nghiệp cộng đồng, có cộng nghiệp của cả một dân tộc.
Một dân tộc trải qua chiến tranh hay đau khổ không có nghĩa là dân tộc ấy hoàn toàn xấu ác. Trong đau khổ vẫn có rất nhiều con người hiền lành, đạo đức và biết vươn lên bằng nghị lực và lòng từ bi.
Người học Phật không nên chỉ nhìn hiện tượng bên ngoài để kết luận ai tốt ai xấu, quốc gia nào đáng bị quả báo hay không. Điều quan trọng là mỗi người phải tự tu sửa chính mình, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn bằng đạo đức, trí tuệ và lòng yêu thương.
Vắn tắt vài hàng chia sẻ cùng con.
Hy vọng giúp con hiểu thêm phần nào những điều còn thắc mắc.
Con có thể đọc thêm nhiều bài viết Phật pháp tại:
https://tuvienquangduc.com.au/coban/index.html
Chúc con luôn an lạc và tinh tấn trên con đường học Phật.
Câu hỏi: Nam Mô A Di Đà Phật, Kính bạch Sư Phụ, con kính xin Sư Phụ hoan hỷ giải thích giúp con ý nghĩa của các danh từ Vong Linh, Hương Linh, Chơn Linh và Giác Linh. Những từ này con thường nghe trong các lễ tang, nhưng con chưa thật sự thấu hiểu rõ nội dung sâu xa. Con mong được Sư Phụ từ bi giảng giải để con hiểu đúng tinh thần Phật giáo và ứng dụng cho đúng trong những dịp nghi lễ. Con thành kính tri ân Sư Phụ.
TT Thích Nguyên Tạng giải đáp:
Cảm ơn đệ tử đã gởi câu hỏi qua email. Trong nghi thức tang lễ và cầu siêu của Phật giáo Việt Nam, chư Tổ thường dùng nhiều danh xưng khác nhau để gọi người quá vãng. Những danh xưng ấy không chỉ mang tính nghi lễ, mà còn hàm chứa ý nghĩa tâm linh và đạo lý rất sâu sắc. Tùy theo căn lành, nhân duyên tu học và phẩm vị xuất gia hay tại gia mà có những cách xưng niệm khác nhau như: Vong Linh, Hương Linh, Chơn Linh và Giác Linh.
1/ Vong Linh (亡靈)
Danh xưng này thường dùng cho người chưa quy y Tam Bảo hoặc chưa có nhân duyên học Phật sâu dày khi còn sinh tiền. Chữ “Vong” nghĩa là mất, không phải chỉ là mất thân mạng, mà còn hàm ý đánh mất cơ hội nương tựa Tam Bảo và quay về con đường Chánh Pháp trong đời hiện tại. Vì chưa gieo trồng nhiều thiện căn Phật pháp nên sau khi qua đời, thần thức còn dễ bị mê mờ, lưu lạc theo nghiệp lực. Do đó, chữ “Vong Linh” nghe vừa thương xót vừa nhắc nhở người sống hãy sớm biết quay về nương tựa Tam Bảo khi còn đủ nhân duyên.
2/ Hương Linh (香靈)
Danh xưng này thường dùng cho người đã quy y Tam Bảo, biết kính tin Phật pháp, biết giữ gìn nhân quả và gieo trồng thiện nghiệp lúc sinh tiền. Chữ “Hương” nghĩa là hương thơm. Đây không phải hương thơm vật chất, mà là “giới hương, định hương, tuệ hương” phát xuất từ đời sống thiện lành và niềm tin nơi Tam Bảo. Người đã quy y tuy chưa giải thoát, nhưng đã biết rõ con đường thiện ác, nhân quả nghiệp báo, nên thần thức có ánh sáng Chánh Pháp dẫn đường. Vì vậy, danh xưng “Hương Linh” mang ý nghĩa trang trọng và thanh thoát hơn “Vong Linh.”
3/ Chơn Linh (真靈)
Danh xưng này thường dùng cho chư vị Sa Di, Sa Di Ni và Thức Xoa Ma Na, những người đã phát tâm xuất gia, rời bỏ đời sống thế tục để bước lên con đường phạm hạnh. Chữ “Chơn” nghĩa là chân thật, ngay thẳng, thanh tịnh. Người xuất gia tuy chưa thọ Cụ túc giới, nhưng đã chọn lý tưởng giải thoát làm con đường hướng thượng của đời mình. Vì vậy, gọi là “Chơn Linh” để biểu thị người ấy đã hướng tâm về chân lý, sống đời thanh tịnh và bước đi trên con đường chân chánh hướng đến Niết-bàn.
4/ Giác Linh (覺靈)
Danh xưng này được dùng cho chư Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni, từ hàng Đại Đức, Thượng Tọa đến Hòa Thượng, Ni Trưởng. Chữ “Giác” nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức. Đây không có nghĩa rằng vị ấy đã hoàn toàn thành Phật hay chứng Thánh quả, mà nhằm tôn xưng những người đã giác biết con đường sinh tử luân hồi, phát tâm xuất trần, tiếp nối mạng mạch Phật pháp và sống đời phạm hạnh để hướng dẫn chúng sanh. Người mang pháp phục Như Lai chính là người đang bước đi trên con đường giác ngộ và đem ánh sáng Chánh Pháp soi đường cho thế gian. Vì vậy, danh xưng “Giác Linh” thể hiện sự tôn kính đặc biệt đối với đời sống phạm hạnh và lý tưởng giải thoát cao quý của hàng xuất gia thọ Cụ túc giới.
Nhìn sâu hơn, bốn danh xưng ấy không nhằm phân biệt cao thấp theo thế gian, mà là lời nhắc nhở về nhân duyên tu học và mức độ quay về với Tam Bảo của mỗi người trong cuộc đời này. Đồng thời, đó cũng là lời sách tấn người còn sống hãy biết gieo trồng thiện căn, quy y Tam Bảo, tu học Chánh Pháp và hướng tâm đến đời sống tỉnh thức giác ngộ, để mai này thân hoại mạng chung không còn phải lưu lạc trong mê mờ sinh tử nữa.
Câu hỏi:
Kính bạch Sư Phụ, con thường nghe Sư Phụ dặn rằng nên gọi là “đi đám tang” chứ không dùng “đi đám ma.” Xin Sư Phụ hoan hỷ giải thích rõ vì sao sự khác biệt giữa hai cụm từ này lại rất quan trọng trong tinh thần Phật giáo?
TT Thích Nguyên Tạng giải đáp:
Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ “đám tang” và “đám ma” tuy đều dùng để chỉ lễ tiễn đưa người quá cố, nhưng thật ra ý nghĩa và sắc thái tinh thần của hai từ này rất khác nhau.
Chữ “tang” xuất phát từ “tang chế”, “tang lễ”, “tang khó”, mang ý nghĩa đau buồn, thương tiếc và trang trọng trong nghi lễ tiễn biệt người đã khuất. “Đám tang” vì vậy nhấn mạnh đến đạo nghĩa, lòng hiếu kính, sự tưởng niệm và nghi thức tiễn đưa đầy tôn trọng đối với người ra đi.
Trong khi đó, chữ “ma” là cách gọi dân gian chịu ảnh hưởng từ tín ngưỡng cổ của Trung Hoa và Á Đông. Người xưa quan niệm rằng sau khi chết, con người trở thành “ma”, tức một dạng linh hồn tồn tại nơi cõi âm. Vì vậy mới có các chữ như ma quỷ, ma đói, ma đói lang thang, cô hồn, vong hồn… Từ “đám ma” do đó mang sắc thái dân gian, pha lẫn màu sắc mê tín và nỗi sợ về cõi âm hơn là ý nghĩa siêu thoát tâm linh.
Trong tinh thần Phật giáo, người đệ tử Phật tu học là để chuyển hóa khổ đau, vượt thoát sanh tử luân hồi và hướng đến giác ngộ giải thoát. Phật giáo không chủ trương một linh hồn thường hằng bất biến theo kiểu dân gian hay Bà-la-môn giáo. Vì vậy, khi một người mất đi, nhất là người tu hành, chúng ta không nên gọi họ là “ma”.
Trong đời sống hằng ngày, đôi khi nghe Phật tử nói:
“Con mới đi đám ma của Hòa Thượng…”
nghe rất “dị ứng” và không phù hợp chút nào.
Tại sao vậy?
Bởi vì một vị Hòa Thượng hay một người xuất gia đã dành cả cuộc đời để tu hành thanh tịnh, trì giới, niệm Phật, tham thiền, hoằng pháp lợi sanh; cuối cùng khi viên tịch, lại bị gọi là “ma” thì thật không hợp đạo lý và thiếu sự tôn kính. Cách nói ấy vô tình làm giảm đi phẩm giá và ý nghĩa tâm linh của cả một đời tu tập giải thoát.
Do đó, trong Phật giáo, ta nên dùng chữ “đám tang”, “tang lễ”, “lễ tưởng niệm”, “lễ truy niệm”, hay “lễ cầu siêu” để thể hiện sự trang nghiêm, thanh tịnh và lòng tôn kính đối với người đã khuất.
Không chỉ riêng đối với chư Tăng Ni, mà ngay cả hàng Phật tử tại gia cũng vậy. Dù là cư sĩ hay xuất gia, người con Phật đều có nhân cách, phẩm giá và lý tưởng tu học của riêng mình. Khi một Phật tử qua đời, ta nên nói:
“Con mới đi đám tang bác cư sĩ…”
hay
“Con mới đi hộ niệm tang lễ…”
nghe nhẹ nhàng, trang nghiêm và đầy tình người hơn rất nhiều.
Ngược lại, nếu gọi “đi đám ma”, vô tình sẽ mang sắc thái mê tín, như thể người mất trở thành một “con ma” hay vong linh lang thang nơi cõi âm. Điều này không phù hợp với tinh thần từ bi và chánh kiến của đạo Phật.
Ngôn ngữ không chỉ là cách nói, mà còn phản ánh nhận thức và văn hóa tâm linh của con người. Người học Phật cần tập chuyển hóa từ lời nói đến suy nghĩ. Chỉ cần đổi từ “đám ma” thành “đám tang”, tự nhiên ý nghĩa đã trở nên nhẹ nhàng, thanh tịnh và đầy tôn kính hơn rất nhiều.
Cho nên, Sư Phụ thường nhắc quý Phật tử rằng: Người con Phật nên tập nói “đi đám tang” thay vì “đi đám ma”, vì đó không chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà còn là biểu hiện của chánh kiến, sự hiểu biết và lòng tôn trọng đối với người đã khuất theo đúng tinh thần Phật giáo. 