Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Tình tự văn học ấy dần dà được gạn lọc lại, phát huy thêm để trở thành những đề tài Giáo khoa dạy dỗ cho hậu sinh. Là một phân khoa rất quan trọng dùng để duy trì nề nếp, bảo vệ kỷ cương trong gia đình và góp phần vào công cuộc xây dựng sự an sinh và trật tự trong sinh hoạt của xã hội xưa nay.
Đến khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam, thì lại được người Việt chúng ta đón nhận một cách tích cực. Sở dĩ đạo Phật có những yếu tố thuận lợi và nhanh chóng được nhiều người yêu chuộng, bởi đạo Phật có nhiều điểm tương hợp với tình tự văn học và tín ngưỡng dân gian. Và dần dà phát triển theo một chiều hướng vừa dựa vào tâm tư tình cảm của người dân quê; đồng thời bắt chước theo những nét đa dạng của phong tục tập quán các nước văn minh trên thế giới. Từ đó, càng làm giàu có thêm cho nhan sắc cuộc đời, cho những cảm quan đã và đang đón nhận những tình cảm thiêng liêng, làm thăng hoa cho tâm hồn, làm đẹp thêm cuộc sống.
Nhận dịp mùa Vu Lan Báo Hiếu, xin tìm hiểu về Lễ Bông Hồng Cài Áo, một nghi thức hết sức đặc biệt bởi rất ít người Phật tử biết đến nguồn gốc. Thêm nữa là nguồn gốc của nghi thức nầy được giới Phật tử trẻ tuổi tại miền Nam Việt Nam sáng tạo và đưa vào nghi lễ về “Tín Ngưỡng Phật Giáo” cách đây không lâu so với chiều dài sinh hoạt Tôn giáo. Cũng như sáng tạo nầy đã được nhiều vị Học giả Tiền bối trong Phật giáo tại Sài gòn hoan hỷ chấp nhận.
Sự kiện ấy bắt nguồn từ... Vào đầu thập niên sáu mươi, khi Thầy Nhất Hạnh qua du học ở Mỹ rồi thầy qua Nhật thăm viếng. Gặp một ngày đặc biệt nhân “Ngày Mẹ” Thầy ra phố với Thầy Thiện Ân, được một cô sinh viên xin phép cài lên áo thầy một bông hoa. Sau đó thầy viết một đoản văn có tựa đề là: “Bông Hồng Cài Áo”. Nội dung Thầy giới thiệu về tục lệ cài bông hoa trên áo trong “Ngày Mẹ” của người Nhật. Và ca ngợi tình mẹ, cũng mang ý nghĩa như tấm lòng hiếu hạnh của người con.
Thầy kể:
Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ (Mother´s Day) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với thầy Thiên Ân tới nhà sách trong khu Ginza ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục lệ Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bổng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào ; chúng tôi không có cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được cài hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa.“Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan”. (trích Bông Hồng Cài Áo của Thầy Nhất Hạnh).
Đoản văn nầy gởi về Sài gòn và được giới Sinh viên và Học sinh đón nhận một cách nồng nhiệt. Họ sao chép và phổ biến rộng rãi trong nội bộ. Được nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất năm 1964, Thầy Nhất Hạnh không giữ bản quyền nên mỗi năm nhà xuất bản đều in thêm và phát hành liên tiếp. Trong khi tiếp nhận được đoản văn, thì đoàn Sinh viên Phật tử Sài gòn đáp lời đề nghị của thầy, họ thực hiện ngay nghi thức Lễ “Bông Hồng Cài Áo” lần đầu tiên trong dịp Lễ Vu Lan tại chùa Xá Lợi Sài gòn. Họ mời tất cả những người tham dự được cài lên áo một bông hoa. Người còn mẹ thì được cài một hoa màu hồng và người mất mẹ thì được cài một bông hoa màu trắng. Đến khoảng giữa thập niên sáu mươi, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ dựa theo ý văn của Thầy Nhất Hạnh, phổ nên một ca khúc cùng với tựa đề Bông Hồng Cài Áo. Được các Gia đình Phật tử tại miền Nam đón nhận và đưa vào nghi thức Bông Hồng Cài Áo trong các dịp lễ Vu Lan. (Cuộc thí nghiệm đầu tiên nầy được kết quả ngoài ý muốn của mọi người. Do đó mà giới trẻ cảm thấy rất hảnh diện và tự hào; người lớn cũng cảm thấy an ủi khi được đón nhận Tấm Lòng Hiếu Hạnh).
Có lẽ nét độc đáo đầy sáng tạo của Thầy Nhất Hạnh khi giải thích:Ý niệm về mẹ và tình yêu thương mẹ không phải là một “bổn phận” mà là một “nhu cầu”... (như đói ăn, khát uống).
Mở đầu đoản văn Thầy viết:
-Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không “lớn” lên được (...)
Mẹ là một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam họ thường ví von mẹ là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức: Mẹ già như chuối ba hương. Như xôi nếp một, như đường mía lau (...)
Vì mẹ là nguồn gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý niệm thương yêu của Tôn giáo vốn cũng dạy về tình thương. Đạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt Nam có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ mẹ, ta đã thấy lòng đầy tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương đi tới tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước (...)
Thương mẹ không phải là một “bổn phận” mà thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như đói thì ăn khát thì uống nước (...)
Và tôi muốn nhắc anh: mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương. Để anh đừng quên. Để chị đừng quên. Để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn: Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, vô tình mà thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ được sống trong ý thức tình thương bất diệt. Và ngày mai mẹ mất, anh sẽ không hối hận, đau lòng, tiếc rằng anh không có mẹ (...)
Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hảy ca, chị hảy ca, em hảy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm và quên lãng. Đóa hoa màu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hảy sung sướng đi. (trích nhiều đoạn trong bài văn đã dẫn).
Tại hải ngoại, sau khi làn sóng người Việt tỵ nạn được ổn định, thì chùa chiền cũng được xây dựng. Sự phát triển của Phật Giáo cùng khắp, có thể kể đến cấp tỉnh thành đều có chùa dựng lên. Phật giáo sinh hoạt với những buổi lễ chính như lễ Phật đản, lễ Vu lan tại những nơi có chùa. Những nơi chưa có chùa nhưng có đông đảo Phật tử họ cũng thuê mướn phòng ốc, trang trí thành một đạo tràng thanh tịnh và mời một vị thầy gần đó về chủ lễ. Và Gia đình Phật tử Việt nam cũng vẫn tiếp tục duy trì và phát huy những nghi lễ Phật giáo trong sinh hoạt, như Lễ Bông Hồng Cài Áo trong những dịp lễ Vu Lan. Người Tây phương cũng có cảm nhận rằng: Tấm lòng hiếu hạnh của dân gian mà được nâng lên thành một nghi lễ của Tôn giáo là một “nét tinh hoa của tư tưởng”. Như đây là một nghi lễ đầy sáng tạo đã đáp ứng cho tình cảm và tín ngưỡng của nhân gian Phật giáo Việt Nam.
Đến đây thì chúng ta đã thấy rõ được “Nguồn Gốc của Lễ Bông Hồng Cài Áo”. Theo từng bước: Trước tiên Thầy Nhất Hạnh đã “bắt chước cái tục lệ cài hoa của người Nhật trong “Ngày Mẹ“ để áp dụng vào ngày báo hiếu Vu Lan”. Thầy viết nên đoản văn tựa là Bông Hồng Cài Áo và gởi về Sài gòn. Được giới trẻ Sài gòn (nói chung là Sinh Viên và Học Sinh) đón nhận một cách tích cực, và họ đã sáng tạo ra một buổi lễ Bông Hồng Cài Áo. Giờ đây được truyền tụng từ Phật giáo trong nước ra đến hải ngoại.
Vì bổn phận của người Phật tử, thì cần phải chu toàn hai trọng trách Đạo và Đời (Đạo thì người Phật tử tôn thờ ba ngôi : Phật, Pháp, Tăng. Đời thì người Phật tử tôn thờ Công Đức Sinh Thành và Giáo Dưỡng của Cha Mẹ). Theo tình tự dân gian thì tưởng niệm đến công ơn sanh thành dưỡng dục, thường đi đôi giữa “Công Cha và Nghĩa Mẹ”. (Một lòng thờ Mẹ kính Cha. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Ca dao). Cũng như Tây phương có Ngày Mẹ (Mother´s Day) thì cũng có Ngày Cha (Father´s Day). Thường trong mùa Vu Lan báo hiếu, người ta chỉ vinh danh có Mẹ. Nhưng khí nhắc đến Mẹ thì đương nhiên đã có đề cập đến Cha rồi như lời cổ nhân đã xác nhận trong ca dao: “Công Cha như núi Thái Sơn. Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Tình tự nầy luôn theo nhau như hình với bóng .|.
Trần Đan Hà