Quảng Đức

Bình Thường Tâm Là Đạo

BÌNH THƯỜNG TÂM LÀ ĐẠO

Thích Nữ Hằng Như

 buddha-707

I. DẪN NHẬP

         Câu nói “Bình thường tâm là đạo phát sinh từ câu chuyện của ngài Triệu Châu đến hỏi đạo với ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Ngài Triệu Châu hỏi: “Thế nào là đạo”. Ngài Nam Tuyền trả lời: “Tâm bình thường là đạo”.

            Ngài Nam Tuyền (748-834) họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) là bậc đại tông sư lỗi lạc của Thiền tông Trung Hoa vào đời nhà Đường. Là đệ tử xuất gia với thiền sư Đại Huệ ở núi Đại Ngung. Đắc pháp nơi Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất,  vang danh với công án “Nam Tuyền Trảm miêu” (chém mèo) được ghi trong các thiền thư nổi tiếng “Bích Nham Lục” và “Vô Môn quan”...

          Thiền sử ghi, khoảng năm 795, Sư lên núi Nam Tuyền (Trì Châu, An Huy) dựng am ẩn tu suốt hơn 30 năm không rời khỏi núi.  Sau, có một vị quan lên tận nơi thỉnh Sư hoằng pháp. Sư đồng ý, đệ tử của Sư có tới hàng trăm vị, trong đó có nhiều vị lỗi lạc, đặc biệt là ngài Triệu Châu Tùng Thẩm là người tiếp nối làm rạng danh dòng thiền của Ngài.

           Thiền sư Nam Tuyền có phương pháp dạy học sắc bén, quyết liệt, thực tế và phá chấp triệt để, tiêu biểu qua giai thoại “Nam Tuyền trảm miêu” để giải quyết cuộc tranh chấp của hai chúng tăng Đông đường và Tây đường.

 

                                     II. CÔNG ÁN “NAM TUYỀN TRẢM MIÊU”

Công án “Nam Tuyền Trảm Miêu” (Nam Tuyền Chém Mèo) là một trong những công án nổi tiếng và gây tranh luận nhiều nhất trong lịch sử Thiền tông Phật giáo, được ghi lại trong thiền thư “Vô Môn Quan”  và “Bích Nham Lục”.   Giai thoại này diễn ra tại thiền viện của Tổ Nam Tuyền Phổ Nguyện.

 

A. Nội dung công án:

Tăng chúng Đông đường và Tây đường tranh chấp nhau sở hữu con mèo chung (có sách ghi là tranh cãi với nhau về việc con mèo có Phật tánh hay không?) Và không bên nào chịu nhường bên nào. Nhân đó thiền sư Nam Tuyền dùng con mèo như một dụng cụ giáo khoa để đặt vấn đề với tăng sinh. Ngài bắt con mèo giơ lên rồi nói: “Nếu nói được đạo lý thì cứu được, không nói được thì chém” (ý nói nếu các tăng sinh nói được câu nào chân thực để làm sáng tỏ ý nghĩa của thiền thì cứu được sinh mạng con mèo). Tăng chúng cả hai đường không ai đáp được. Nam Tuyền liền chém con mèo thành hai đoạn.  

Tối hôm đó, đại đệ tử của Nam Tuyền là Triệu Châu từ ngoài trở về. Nam Tuyền kể lại chuyện trên và hỏi Triệu Châu làm sao cứu được con mèo. Triệu Châu không nói một lời, lập tức tháo đôi dép cỏ mang dưới chân đội lên đầu, đi ra khỏi phòng. Nam Tuyền thấy thế mới bảo: “Nếu ông có mặt lúc đó thì đã cứu được con mèo!”.

 

B. Câu chuyện “Trảm Miêu” mang ý nghĩa gì?

         Hành động của thiền sư Nam Tuyền chém con mèo một cách không thương tiếc, khiến người sau nghe kể lại, rùng mình nổi da gà, liền kết luận thiền sư Nam Tuyền là một bậc thầy, nhưng có hành động quyết liệt, tàn nhẫn,  phạm giới sát, giết vật không gớm tay.

Theo chú giải trong thiền, thì hành động chém mèo của thiền sư Nam Tuyền chỉ là bất đắc dĩ, không phải do giận dữ hay oán thù đưa đến việc giết chết con mèo. Việc chém mèo không mang ý nghĩa sát sinh vật lý, mà là một biện pháp mạnh tương tự như nhát kiếm trí tuệ chặt đứt vọng tưởng.

Vọng tưởng ở đây là con mèo. Hành động giơ đao chém chết con mèo, là phương tiện để thức tỉnh các tăng sinh đang vướng vào sự tranh chấp phân biệt nhị nguyên (của ta-của người, đúng-sai, phải-trái).

        - Tăng chúng Đông đường và Tây đường đại diện cho cặp đôi phạm trù đối đãi. Ngay khi đó, đại chúng kẹt vào ý niệm nhị nguyên, phân biệt bên Đông-bên Tây, đúng-sai, của ta-của người đối với con mèo và đạo lý.

         - Tăng chúng không trả lời đúng chân lý, là vì họ đang ở trong ý thức phân biệt nhị nguyên, nên không thể thấy được tự tính chân thật tuyệt đối của vạn vật, và do đó không có đáp án đúng với chân lý.

        - Con mèo đại diện cho “vật sở hữu” hoặc “vọng tưởng” khiến tâm trí con người phát sinh lòng tham lam, tranh giành và bám chấp.

       - Nhát chém của Nam Tuyền tượng trưng cho việc dùng trí tuệ tuyệt đối chặt đứt dòng suy nghĩ, sự phán đoán thông thường của tăng chúng.  Ngay khi con mèo bị chém làm đôi, mọi người bị hành động quyết liệt của thiền sư Nam Tuyền và cái chết tang thương của con mèo tác động mạnh vào tâm thức không ai suy nghĩ được gì cả!

        Thấy, biết con mèo bị chém, mà trong tâm không một niệm khởi lên, thì cái thấy biết đó chính là cái biết của tánh giác, của chân tâm. Ai nhận ra điểm này thì ngộ đạo!

       - Chiếc dép trên đầu Triệu Châu là một biểu thị bình đẳng, không mang tính phân biệt, trên-dưới, dơ-sạch, tốt-xấu. - Nó cũng mang một ý nghĩa khác là toàn bộ sự tranh giành của tăng chúng cho thấy tâm của họ đang ở trong trạng thái ngã mạn, so đo, điên đảo của ý thức, giống như chiếc dép, đúng ra dùng để mang dưới chân mà lại tháo ra đội lên đầu vậy!

         - Hành động của Triều Châu: Hành động vô ngôn, không ý kiến, đội dép lên đầu đi ra ngoài của Triệu Châu biểu lộ trạng thái tâm tự do tự tại, vượt qua mọi khuôn khổ khái niệm, không kẹt vào hình tướng. Nghe như vậy. Biết như vậy. Tâm không khởi lên một ý niệm nào cả, thuật ngữ trong nhà thiền gọi là “Vô tâm” hay “Vô niệm”.          

          Tóm lại, qua công án “Nam Tuyền Chém Mèo”,  Thiền tông muốn nhắc nhở người học đạo rằng: Chừng nào còn khởi tâm phân biệt và tranh chấp hơn thua, chừng đó con người vẫn còn chìm đắm trong vô minh và xa rời bản thể chân thật của chính mình.

 

 III. BÌNH THƯỜNG TÂM LÀ ĐẠO

       Bình thường tâm của người đời khác với bình thường tâm trong đạo Phật.

        - BÌNH THƯỜNG TÂM CỦA NGƯỜI ĐỜI: Là một thứ tâm thức của những người không có vấn đề về bệnh lý thần kinh, chỉ trạng thái tinh thần của một người hiểu biết bình thường. Họ sống có vui có buồn, có thương có giận, biết suy nghĩ, phân biệt, chọn lựa đúng sai trong đời sống hằng ngày.

       - BÌNH THƯỜNG TÂM TRONG ĐẠO PHẬT: Trong triết lý Thiền tông Phật giáo, “bình thường tâm  là trạng thái tâm tự nhiên, phẳng lặng, không dính mắc, không xao động bởi cảm xúc vui hay buồn, được hay mất... phát xuất từ câu nói nổi tiếng “bình thường tâm là đạo” của thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện.

          Ở ngoài đời “tâm bất bình thường” là tâm của người mắc bệnh tâm thần. Nhưng “tâm bất bình thường trong đạo”, lại chính là “tâm bình thường ngoài đời” tức “tâm  ý thức phân biệt”,  nó do các vọng duyên lập thành, luôn bị trói buộc với khái niệm tương đối: có-không, thường-đoạn, bị chi phối bởi tham, sân, si. Tâm này luôn dao động, lao xao, lo lắng về quá khứ hoặc tương lai, dẫn đến phiền não. Vì luôn thay đổi nên tâm này còn bị gọi là Tâm Vô thường hay Tâm Sinh Diệt. Riêng “tâm bình thường trong đạo” thuật ngữ thiền tông gọi là Chân tâm, tức là tâm chân thật không sanh không diệt.       

          Tóm lại, câu nói “Tâm bình thường là Đạo” của thiền sư Nam Tuyền có nghĩa là trạng thái tâm thanh tịnh, tự nhiên, chân thật, không phân biệt, không so sánh.  Người tu tập đạt được trạng thái “Tâm bình thường tức người đó đang an trú trong sự bình an, tĩnh mặc, như mặt nước hồ thu, yên tịnh trong sáng, soi rọi tất cả những cảnh trí thông qua giác quan, mà hoàn toàn không bị dính mắc, đắm say, hay  xáo trộn lo âu phiền não.  Dưới đây là bài kệ nổi tiếng của thiền sư  Việt Nam là ngài Hương Hải (1628-1715) diễn tả đúng trạng thái tâm bình thường không dính mắc với cảnh trí thông qua giác quan như sau:

“Nhạn quá trường không / Ảnh trầm hàn thủy / Nhạn vô di tích chi ý /  Thủy vô lưu ảnh chi tâm” tạm hiểu nghĩa là: Con chim Nhạn bay trên không trung (ngang qua hồ nước). Hình bóng chim Nhạn chìm sâu dưới nước. Chim Nhạn không có ý để lại dấu tích. Mà nước cũng không có ý lưu giữ bóng hình chim Nhạn.

Chim Nhạn là cảnh trần. Nước yên lặng ví như “tâm bình thường” hay “tánh giác” hoặc “chân tâm”. Khi chim Nhạn bay ngang hồ nước, thì hình ảnh chim Nhạn xuất hiện trong nước. Khi chim bay đi, trong nước không còn dấu tích của chim Nhạn,  có nghĩa là nước không giữ lại cảnh trần là con chim Nhạn. Tâm bình thường cũng thế. Cảnh đến, cảnh đi như thế nào, tâm ghi nhận như thế ấy, nhưng không bám víu dính mắc. Đó là đặc tính của “tâm bình thường”. Còn “đạo” là gì? Tùy theo ngữ cảnh văn hóa, tôn giáo và triết học, khái niệm về “đạo” có thể hiểu theo nhiều cách.        

 

A. Ý NGHĨA “ĐẠO” THEO CÁI NHÌN THẾ GIAN

          1. Đạo là con đường: Phàm là con đường thì có tốt có xấu, có thiện có ác.

         Thí dụ: Thiên đạo, Atula đạo, Nhân đạo, Súc sinh dạo, Ngạ quỷ đạo, Địa ngục đạo,  Thần đạo, Ma đạo, Tiên đạo v.v... Mỗi đạo có đặc tính riêng biệt khác nhau.

         2. Đạo là bổn phận: Đạo cũng có nghĩa là bổn phận. Phàm là bổn phận thì thường chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán. Phong tục tập quán của quốc gia này khác với tập quán của quốc gia nọ, tập quán của làng này khác với tập quán của làng kia.

         Thí dụ như: Đạo vua-tôi, đạo cha-con, đạo vợ-chồng, đạo thầy-trò v.v... Đạo này có nghĩa là bổn phận. Bổn phận của ông vua đối với bề tôi như thế nào thì phải giữ lấy. Ngược lại bổn phận của bề tôi đối với quân vương như thế nào thì phải giữ tròn. Đạo cha-con, vợ-chồng, thầy-trò v.v... mỗi mỗi đều có bổn phận trách nhiệm riêng.  Đó là ý nghĩa bổn phận của chữ “đạo” ngoài đời sống thế gian.

        

B. Ý NGHĨA “ĐẠO” TRONG GIÁO LÝ NHÀ PHẬT

Trong Phật giáo chữ “Đạo” mang  ý nghĩa cốt lõi như sau:

           1-Đạo là con đường (đạo lộ), là chân lý (pháp), dẫn đến giác ngộ giải thoát: Tiêu biểu nhất là Bát chánh đạo, là tám cách sống trung đạo, hài hòa, tránh cực đoan,  giúp con người thoát khỏi khổ đau và luân hồi gồm: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

          - Đạo là bản thể tuyệt đối của vũ trụ: Chỉ chân lý thực tại tối hậu (Tánh Không, Tánh Huyễn, Chân Như...)  tự nhiên và tuyệt đối của hiện tượng thế gian. Đây là trạng thái chân thật, thanh tịnh, tự nhiên nơi vạn pháp.       

          - Đạo là sự giác ngộ: Là trạng thái tâm thức hoàn toàn sáng suốt, tỉnh thức, nhận ra sự thật của vạn pháp, hiểu rõ đạo lộ tu tập hướng đến Niết-bàn, là mục tiêu rốt ráo của đạo Phật. Thí dụ như câu chúc nguyện “Trọn thành Phật đạo” tức là tu tập đi tới chỗ giác ngộ giải thoát.

        - Đạo là phương pháp tu tập: Đạo cũng chỉ chung cho toàn bộ giáo pháp, giáo lý, mà Đức Phật đã truyền dạy để thực hành hằng ngày nhằm loại bỏ vô minh.         

           Gút lại, “Đạo” theo nghĩa Đức Phật dạy,  là những yếu tố giác ngộ Sự Thật, mà Sự thật thì luôn có mặt nơi thực tại ngay bây giờ và ở đây.  Thiền sư Viên Minh giảng rằng: “Chỉ cần xả ly, ly tham, đoạn diệt những nhận thức và hành vi sai lầm che lấp thực tại, thì Sự thật liền hiển bày ngay nơi thân, thọ, tâm, pháp, không cần phải tìm kiếm đâu xa hay phải nỗ lực rèn luyện mới đạt đến”.  

         Vậy Đạo không ở đâu xa mà hiện diện ngay trong từng giây phút đời thường.  Khi ta ăn, ngủ, làm việc với tâm an nhiên, không vụ lợi hay toan tính thì đó là đạo. Người sống với tâm bình thường là người tri túc, vô cầu và tự tại, Người ấy giữ được sự cân bằng bên trong tâm, không bị lôi cuốn hay quật ngã bởi những hoàn cảnh thăng trầm  trong cuộc sống.  

 

ĐỂ CÓ THỂ THÀNH TỰU “TÂM BÌNH THƯỜNG”

TRONG ĐẠO PHÁP.

            Muốn thành tựu “Tâm Bình Thường” (Bình thường tâm thị đạo) trong Thiền tông, hành giả cần sống tỉnh thức chánh niệm, đó là trạng thái tâm hoàn toàn tự nhiên, không cố gắng bám víu cũng không xua đuỗi, để mọi việc diễn ra đúng với bản chất của nó.

         Các bước thực hành cốt lõi là: - Sống trọn vẹn với hiện tại, nghĩa là tập trung làm tốt việc đang làm, mà không lo lắng về quá khứ, hay tưởng tượng mơ mộng về tương lai. Tập nhìn, quán sát sự vật bên ngoài cũng như những gì xảy ra trong tâm,  như chính nó đang là, đúng sai, đẹp xấu ... biết rõ, mà không khởi tâm khen chê hay bực dọc (thực hành Pháp Như Thật, giữ Chánh niệm) Tập buông bỏ cái “tôi” (bài học Vô ngã), nghĩa là an nhiên chấp nhận mọi đổi thay được-mất, buồn- vui của cuộc đời bằng tâm thể đón nhận nhẹ nhàng.

          Việc tu tập này cần được áp dụng trực tiếp vào đời sống thường nhật chứ không phải mong cầu ở một nơi xa xôi bí hiểm nào khác. Ngoài ra,  theo tư tưởng trung đạo, tâm bình thường có nghĩa là chúng ta không để mình bị lôi kéo hay vướng mắc vào một cực đoan nào cả. Nghĩa là không buông lung, lười biếng, xao lãng, cũng không quá ép buộc, đè nén, hay nỗ lực cố gắng quá sức. Vướng vào một trong hai cực đoan này, tâm sẽ rơi vào trạng thái không bình thường khiến con đường tu hành bị trở ngại không tiến bộ...

                                      

KẾT LUẬN

            Tóm lại, “Bình thường tâm là đạo” , theo giáo lý  Thiền tông thì “Tâm bình thường” chính là bản tâm thanh tịnh hồn nhiên vốn có của mỗi người, trước khi bị che mờ bởi “Tâm bất thường” bao gồm những toan tính, so sánh, phân biệt, thiên kiến, định kiến, tham, sân, si, chấp ngã (tôi, của tôi, tự ngã của tôi) ....

          Trên con đường tu tập, có lúc chúng ta đạt được trạng thái tâm bình thường, có khi ta lại rơi vào trạng thái tâm bất bình thường. Những trở ngại này, ai cũng gặp phải. Chúng ta không lấy đó làm nản chí, mà hằng ngày chúng ta áp dụng các phương pháp Đức Phật dạy, như thu thúc lục căn, không để tâm chạy theo lục trần, thấy biết như thật, giữ chánh niệm tỉnh giác v.v...

         Chúng ta hiểu rằng, nếu chúng ta trở về với trạng thái tâm bình thường có nghĩa là ngay khi đó trạng thái tâm hoàn toàn yên lặng trống rỗng, sát-na ý thức không còn hoạt động là lúc chúng ta đang sống trong Chánh niệm và tỉnh giác. Trạng thái này không phải buông xuôi, thờ ơ hay tầm thường, mà ngược lại đó là sự nhận biết rõ ràng mọi hành động và suy nghĩ trong từng phút giây.

         Đến lúc đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì ngủ... mọi hoạt động diễn ra với thái độ tự tại, không bị dính mắc vào kết quả. Khi đạt đến trạng thái này, chúng ta mới thực sự nhận ra giá trị câu “Tâm bình thường là đạo” của thiền Sư Nam Tuyền trong Thiền tông mang ý nghĩa cốt lõi là “sự giác ngộ không nằm ở những điều siêu hình, thần bí, mà hiện diện ngay trong trạng thái tâm hồn tự nhiên, vô cầu, thanh thản và tỉnh thức giữa đời thường”./.

 

THÍCH NỮ HẰNG NHƯ

                                            (Chân Tâm thiền thất 08/8/2026)