


Phỏng vấn đặc biệt
SOẠN GIẢ GIÁC ĐẠO
DƯƠNG KINH THÀNH
Người giữ kỷ lục sáng tác cổ nhạc Phật giáo nhiều nhất Việt Nam
Người thực hiện: TT Thích Nguyên Tạng
Chủ biên Trang Nhà Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu.
LỜI GIỚI THIỆU
Hôm nay, trong niềm hân hoan của mùa Phật Đản Phật lịch 2570 – Dương lịch 2026, chúng tôi vô cùng hoan hỷ được giới thiệu và có cuộc trò chuyện đặc biệt với Cư sĩ Giác Đạo Dương Kinh Thành – một gương mặt quen thuộc và đáng trân trọng trong sinh hoạt văn hóa, âm nhạc và nghệ thuật Phật giáo Việt Nam; một nhà nghiên cứu văn hóa Phật giáo, soạn giả cổ nhạc, cải lương Phật giáo, đồng thời là người bạn đạo, người cộng tác thân thiết với Trang Nhà Quảng Đức từ năm 1999 cho đến hôm nay.
Hơn một phần tư thế kỷ đồng hành cùng Quảng Đức là một chặng đường dài của nghĩa tình và phụng sự. Trong suốt thời gian ấy, Cư sĩ Dương Kinh Thành đã âm thầm đóng góp hàng trăm bài viết về văn hóa, lịch sử, tư tưởng và nghệ thuật Phật giáo, cùng nhiều tác phẩm cổ nhạc và cải lương thấm đượm tinh thần từ bi, nhân quả, hiếu đạo và giác ngộ. Những đóng góp bền bỉ ấy không chỉ làm phong phú thêm nội dung của Trang Nhà Quảng Đức, mà còn góp một phần đáng quý vào kho tàng văn học nghệ thuật Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới.
Cư sĩ Dương Kinh Thành sinh ngày 29 tháng 11 năm 1959 tại Thủ Thiêm, Sài Gòn. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã có nhân duyên gần gũi với mái chùa, với sinh hoạt Gia Đình Phật Tử và Học sinh Phật tử vụ, để rồi hạt giống Phật pháp được gieo vào tâm hồn từ những năm tháng đầu đời ấy đã âm thầm nuôi lớn một chí nguyện: đem lời Phật dạy đi vào cuộc đời bằng ngôn ngữ của văn hóa và nghệ thuật dân tộc.
Cư sĩ Dương Kinh Thành là người được đào tạo bài bản trong một môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp, có nền tảng vững chắc về cổ nhạc, kỹ thuật âm nhạc truyền thống và nghệ thuật sân khấu. Chính sự đào luyện căn bản ấy đã giúp ông không chỉ am hiểu sâu sắc cấu trúc, làn điệu và tinh thần của cổ nhạc, cải lương Nam Bộ, mà còn có đủ khả năng chuyên môn để sáng tác một cách nghiêm túc, chuẩn mực và có chiều sâu. Trên nền tảng học thuật và nghệ thuật vững chắc đó, ông đã dành phần lớn cuộc đời mình cho việc nghiên cứu, sáng tác và gìn giữ những giá trị đẹp của âm nhạc truyền thống dân tộc. Điều đặc biệt hơn cả là ông đã chọn Phật pháp làm nguồn cảm hứng lớn cho nghệ thuật, đưa giáo lý Đức Phật vào tiếng đàn, câu vọng cổ và sân khấu cải lương, biến nghệ thuật truyền thống thành một phương tiện hoằng pháp gần gũi, sinh động và dễ đi vào lòng quần chúng.
Đó là một con đường không ồn ào, nhưng rất đáng quý. Bởi đem giáo pháp vào nghệ thuật không đơn thuần là kể lại một câu chuyện Phật giáo; người nghệ sĩ phải có sự hiểu biết giáo lý, có cảm xúc chân thành, có khả năng chuyển những tư tưởng sâu xa thành ngôn ngữ bình dị để người nghe có thể cảm, có thể nhớ và từ đó tự soi lại chính mình.
Qua nhiều thập niên lao động nghệ thuật, Cư sĩ Dương Kinh Thành đã sáng tác hơn 60 bài cổ nhạc Phật giáo, hơn 50 tác phẩm cổ nhạc mang nội dung xã hội, thực hiện nhiều chương trình phát thanh, truyền hình và đặc biệt là 10 vở cải lương thuần túy Phật giáo. Đây là một thành quả đáng trân trọng đối với một người đã kiên trì dành phần lớn cuộc đời mình cho việc kết nối Đạo pháp với nghệ thuật truyền thống dân tộc.
Nhắc đến Soạn giả Dương Kinh Thành, người yêu mến nghệ thuật Phật giáo có thể nhớ đến những tác phẩm như Thái Tử A Xà Thế, Thoát Vòng Tục Lụy, Mục Liên Thanh Đề, Cặp Mắt Thái Tử Câu Na La, Cuộc Đời Liên Hoa Hòa Thượng… Qua từng nhân vật, từng lớp diễn, từng câu ca, người soạn giả đã khéo léo đưa những bài học về nhân quả, hiếu đạo, tình thương, sự tỉnh thức và con đường chuyển hóa khổ đau đến với người thưởng ngoạn bằng một hình thức nghệ thuật rất gần gũi với tâm hồn người Việt, đặc biệt là đồng bào miền Nam.
Có thể nói, trong sự nghiệp của Cư sĩ Dương Kinh Thành, cổ nhạc và cải lương không chỉ là nghệ thuật để thưởng thức, mà còn trở thành một phương tiện hoằng pháp. Tiếng đàn có thể mở cửa trái tim; câu vọng cổ có thể chuyên chở đạo tình; một vở cải lương nếu được viết bằng tâm thành và chánh kiến cũng có thể gieo vào lòng người một hạt giống thiện lành.
Chính từ một quá trình sáng tác lâu dài, nghiêm túc và đặc biệt ấy, vào ngày 5 tháng 5 năm 2008, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam (Vietnam Records Book Center) đã chính thức xác lập kỷ lục cho ông với danh hiệu: “Người Sáng Tác Cổ Nhạc Phật Giáo Nhiều Nhất Việt Nam.”
Đây không chỉ là một dấu mốc đáng tự hào trong cuộc đời sáng tác của Cư sĩ Dương Kinh Thành, mà còn là sự ghi nhận đối với một người nghệ sĩ đã nhiều năm bền bỉ đem tài năng của mình phụng sự Đạo pháp và văn hóa dân tộc.
Điều đáng quý hơn những con số hay danh hiệu chính là ở chỗ, sau nhiều thập niên cầm bút, Cư sĩ vẫn giữ được tình yêu đối với Phật pháp, lòng thiết tha với nghệ thuật cổ truyền và tâm nguyện dùng sáng tác của mình để góp phần làm cho đạo lý từ bi, hiếu nghĩa và nhân quả tiếp tục được lưu truyền trong lòng các thế hệ.
Chúng tôi xin được tán thán và trân trọng ghi nhận những đóng góp bền bỉ của Cư sĩ Giác Đạo – Soạn giả Dương Kinh Thành. Một đời người có thể đi qua nhiều thăng trầm, nhưng những gì được viết ra bằng tâm huyết, được trao truyền bằng văn hóa và được nuôi dưỡng bởi lòng hướng thiện thì vẫn có khả năng ở lại lâu dài trong lòng người.
Trong chương trình hôm nay, kính mời quý vị cùng chúng tôi lắng nghe những chia sẻ chân tình của Cư sĩ về tuổi thơ tại Thủ Thiêm, nhân duyên đến với Phật giáo, hành trình học cổ nhạc, bước đường sáng tác cải lương Phật giáo, cũng như những câu chuyện ít người biết phía sau các tác phẩm đã trở thành dấu ấn trong đời sáng tác của ông.
Qua cuộc trò chuyện này, chúng ta không chỉ tìm hiểu về một người soạn giả đang giữ một kỷ lục đặc biệt, mà còn có dịp nhìn lại một chặng đường mà Phật giáo và nghệ thuật dân tộc đã gặp nhau trong tiếng đàn, câu hát và sân khấu, để cùng phụng sự con người và làm đẹp cho cuộc đời.
Trước hết, thay mặt Trang Nhà Quảng Đức, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Cư sĩ Giác Đạo Dương Kinh Thành đã hoan hỷ nhận lời tham dự cuộc trò chuyện hôm nay.
1/ TT. Thích Nguyên Tạng: Thưa Cư sĩ, tuổi thơ của ông gắn liền với vùng đất Thủ Thiêm và những ngôi trường Công giáo như Thánh Anna. Cơ duyên nào đã đưa ông đến với Phật giáo và gắn bó với Gia Đình Phật Tử từ thuở thiếu thời?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Gia đình tôi thuộc tầng lớp lao động bình dân, là một trong những gia đình đầu tiên đến định cư và khai phá vùng đất Thủ Thiêm ven sông Sài Gòn cuối thập niên 40, đầu thập niên 50. Ba tôi làm nghề tài xế, Bà và má làm nghề đưa đò ngang ven sông. Khi đó, những gia đình đầu tiên này tuy đã cất nhà và rào chắn xong xuôi nhưng cứ mỗi chiều tất cả phải bồng bế cả gia đình chèo sang cầu quay (nay là cầu Khánh Hội) tá túc, sáng hôm sau mới trở về tiếp tục mưu sinh. Lý do khi đó vùng đất này còn cây cối rậm rạp, lắm lau sậy um tùm, là nơi lui tới của nhiều nhóm thổ phỉ khi về đêm.
Trong nhà, tôi là người con thứ năm, trên còn có hai người anh và một người chị. Má tôi chuyển dạ trong lúc ghe đậu dưới chân cầu quay, Ba tôi mượn xe đạp chở má tôi đến một nhà bảo sanh tư nhân ở chợ cũ, đường Võ Duy Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu), và tôi đã chào đời tại đây. Cũng từ đó về sau an ninh khá hơn, nhiều gia đình không còn phải cực nhọc chèo ghe lánh nạn mỗi đêm về. Nói theo Bà và Ba tôi là khi sanh tôi ra tất cả đã lên bờ ổn định.
Do gia đình đông anh em, việc học hành của tôi cũng rất chật vật và không liên tục. Từ lớp mẫu giáo đến hết lớp nhất, bậc tiểu học, tôi được ba má cho học tại trường tư thục Thánh Anna do các nữ tu dòng Mến Thánh Giá điều hành. Sau khi hoàn tất bậc tiểu học, mọi người phải ra đi tìm học tại các trường Trung học để bước lên cao. Từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Lục tôi phải lận đận chạy tìm học không thường xuyên ở các trường do gia đình hết khả năng cho học tiếp, nhường phần còn lại cho các em. Bản thân phải lén gia đình chạy vô chợ Cầu Muối xin đẩy xe rau mỗi đêm kiếm tiền đi học. Tôi đã đôi lần khai tuổi giả để được vô học các nơi mới. Vì vậy sau 2 năm, một lần nữa tôi phải dành thêm thời gian trở lại trường tiểu học Thánh Anna xin vô học lại lớp nhất để có bằng tiểu học nộp các nơi thi vào bậc trung học. Đây cũng chính là giai đoạn tôi vô tình trở thành hình ảnh khó chịu của các ma soeur mỗi khi giảng sách phần, loại sách theo dạng hỏi-thưa về kinh thánh, bắt các học sinh đọc mỗi đầu giờ học buổi chiều. Có lẽ do chủng từ được ươm mầm từ lúc 5 tuổi đã là một Oanh Vũ sinh hoạt Gia Đình Phật Tử (GĐPT) cho đến năm 10 tuổi; đã có dịp khơi dậy sự đáp trả sau những lời giảng không tốt về Phật giáo hay hình ảnh đức Phật. Cũng may mà đến giai đoạn căng thẳng thì cũng vừa đúng lúc kết thúc niên học, bãi trường, nhận bằng “chứng chỉ học trình”… lớp nhất. Thế là tôi được toại ý và nhanh nhảu đi nộp bổ túc cho nơi học lớp đệ lục mới. (Thời đó việc học hành, có tiền, mua bằng, khai lớn hoặc nhỏ tuổi, cộng vào đôi chút lanh lợi là có thể có bằng theo ý muốn).
2/TT. Thích Nguyên Tạng: Trong những năm sinh hoạt Gia Đình Phật Tử, những vị thầy, huynh trưởng hay những kỷ niệm nào đã để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong đời sống tâm linh của ông?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Nói thêm Bà của tôi quy y với Hòa Thượng Phó Tăng Thống Thích Thiện Hòa chùa Ấn Quang, và thường xuyên dẫn tôi và các em qua đến đấy tụng kinh, nghe giảng. Ngày Bà cho tôi quy y Tam Bảo là năm 1963, sau ngày Phật giáo thoát cơn Pháp Nạn chưa xa. Do tính hiếu động, bà cũng gởi tôi đến các chùa có các đơn vị GĐPT sinh hoạt, tiếc là sau này hỏi lại địa danh, chùa nào, bà tôi lại lúc nhớ lúc quên.
Khoảng nửa cuối thập niên 60, lúc này tôi đã hơn 15, 16 tuổi, đã đi tìm lại gốc gác Phật tử của mình. Nhờ bà tôi, qua các đạo hữu và những bạn bè cùng trang lứa tôi đã ghé và tham gia sinh hoạt nhiều đơn vị GĐPT trong Sài Gòn, đó là Chánh Đạo, Chánh Thọ… Nói chung hành trình tôi đến với GĐPT luôn ở tư thế tự nguyện, đi tìm chớ không bằng nguyên do nào khác.
Khi gia đình nhận thấy tôi cực nhọc đạp xe đi sinh hoạt xa quá trong khi ở nhà các em còn chưa có phương tiện đi học. Tôi quyết định tự mình dẫn thêm nhiều anh em khác đến tìm xin và gia nhập GĐPT Chánh An. Đã biết đọc kinh (vì từng theo các bác lớn tuổi đi hộ niệm), lại có giọng hát hay nên nhanh chóng được các anh chị huynh trưởng dang rộng tay đón chào. Tuy cũng phải theo quy định sau 3 tháng mới phát nguyện chính thức là một đoàn sinh trong đơn vị mới, nhưng tôi đã được giao trọng trách làm chủ lễ chiều chủ nhật theo chu kỳ sinh hoạt. Trong các buổi văn nghệ ngày lễ, cũng được các anh chị trưởng cho tôi lên trình diễn bài mình yêu thích. Một đoàn sinh chưa phát nguyện, chưa được đeo hoa sen mà nhanh chóng chiếm được lòng tin của tất cả khiến mình thêm phấn chấn.
Một trong số các anh chị trưởng khi ấy tôi luôn ấn tượng và hỗ trợ, khuyến khích tôi rất nhiều, đó chính là Chị Thoa (hiện giờ là Ni sư Thích Nữ Đồng Kính).
Ngoài H.T Thích Thiện Hòa, H.T Thích Thuyền Ấn (Tổng Vụ Hoằng Pháp), Đại Đức Thích Giác Đức (khi là Quyền Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên); sau này là H.T Thích Trí Thủ, luôn là hình ảnh phấn đấu, là kim chỉ nam cho tôi vững bước trên lộ trình phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Tôi luôn lấy hình ảnh của Ôn Già Lam làm tiêu chuẩn phấn đấu và cũng chính cuộc đời ngài đã giúp tôi luôn vững bước mỗi khi xiêu ngã. Cái bút danh Dương Như Tâm của tôi cũng bắt nguồn từ đây:
Một buổi trưa sau mấy tháng ngày đầu sau năm 1975, tôi được tháp tùng một vị thầy lên Già Lam vấn an Hòa Thượng Thích Trí Thủ. Khi đó chánh điện chưa xây mới, còn trên thư viện lục giác. Thấy H.T nằm trên ghế mây dựa (do vừa họp Hội Đồng Viện mới về). Tôi quỳ sau vị thầy thưa chuyện đúng 3 bước theo đúng nghi lễ.
Sau khi hai vị bàn chuyện xong H.T nhìn nghiêng nói với tôi, “Còn Mi Phật tử ở mô?” Tôi bạch và thưa lại đàng hoàng. H.T nghe xong khen và nói “Sau này con có muốn tiếp tục phụng sự Phật pháp không?” Tôi thưa “Dạ bạch Ôn, có ạ”. H.T lại hỏi “Mi muốn giống ai mô?” Tôi không ngần ngại thưa “Dạ muốn giống Ôn”. H.T cười nói “Ta là Tâm Như vậy mi là Như Tâm hỉ?”. Từ đó về sau tôi lấy tên Như Tâm làm bút hiệu Dương Như Tâm cho các tác phẩm của mình và tự xem đó như là lời “thọ ký” của H.T vậy.
Song song với GĐPT Chánh An khi đó, tôi còn rất nhiều mối liên hệ khác với nhiều anh chị huynh trưởng đoàn sinh trong Tổng Vụ Thanh Niên, và cũng thường xuyên tham gia tích cực với nhau. Do vậy, tôi còn được các anh chị ấy và lãnh đạo Tổng Vụ yêu cầu và khuyến khích, sau đó biệt phái tôi sang Học Sinh Phật Tử (HSPT) để hỗ trợ đoàn thể này đang trong lúc phát triển mạnh mẽ, nhất là trong các trường trung học thời đó. Mạnh dạn nhận lãnh trách nhiệm mới mà từ trong các ngôi trường trung học tôi đã được làm quen, nhất là trường Bồ Đề Sài Gòn.
3/TT. Thích Nguyên Tạng: Ông từng đồng hành với Hòa thượng Thích Trí Quảng từ thời Hòa thượng còn là Đại đức phụ trách Tổng vụ Thanh niên. Ông có thể chia sẻ những kỷ niệm và bài học quý báu học được từ Hòa thượng trong giai đoạn đó?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Sau năm 1975, trong một kỳ Đại Hội, H.T Thích Trí Quảng (lúc ấy còn là Đại Đức), được bầu làm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Thanh Niên. Đây là lần đầu tiên sau nhiều biến cố, từ những năm 60 đến giờ Tổng Vụ mới có một vị Tổng Vụ Trưởng chính danh. Trước năm 1975 Đại đức Thích Giác Đức là Quyền Tổng Vụ Trưởng cho đến ngày ra đi sau năm 75.
Khi vừa nhận chức, Thầy Tổng Vụ Trưởng quy tụ một số anh em trong 6 Vụ còn lại với vài hoạt động văn nghệ cầm chừng. Nhưng có lẽ ấn tượng nhất là Thầy chủ trương đi đặt vòng hoa tưởng niệm các tượng đài Phật Giáo trong thành phố như Quách Thị Trang (Bùng binh Sài Gòn), Tượng đài Thích Quảng Đức ngã tư Cách Mạng Tháng 8 và Nguyễn Đình Chiểu… với đầy đủ các sắc phục của mỗi Vụ trong Tổng Vụ Thanh Niên.
GĐPT thì có anh Lương Hoàng Chuẩn, TNPG thì có anh Huỳnh, anh Việt, HSPT thì có anh Tân, anh Thanh Thiên và tôi. Không ai trong anh em chúng tôi biết trước được rằng đó là kỷ niệm ấn tượng nhất, đáng nhớ nhất sẽ không bao giờ có lại lần thứ hai.
Ngày nay, mỗi khi hồi tưởng lại trong lòng vẫn còn bồi hồi, tự an ủi lấy đó làm niềm vui lớn nhất trong suốt quãng đời thanh xuân phụng sự đạo pháp, cho đến những ngày cuối đời.
4/ TT. Thích Nguyên Tạng: Quá trình học Phật của ông diễn ra như thế nào? Những bộ kinh hay tư tưởng Phật học nào đã ảnh hưởng mạnh nhất đến nhân sinh quan và sáng tác nghệ thuật của ông?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Thời kỳ tôi lớn lên, với nhiều khó khăn vây quanh, việc học Phật rất gian nan, ngoài những buổi trực tiếp nghe giảng từ các vị tôn túc kính quý.
Một quyển sách hay tài liệu với tôi là điều xa xỉ, còn trong mơ ước. Tất cả và trên hết chỉ dựa vào trực giác nhạy bén của mình, làm một vô sư trí dẫn lối.
Chỉ có thể tìm gặp một vài người thân thiết, mượn đọc và cố gắng hết khả năng ghi chép hết có thể, và đương nhiên tất cả cũng chỉ là một sự chắp vá đến tội nghiệp.
5/ TT. Thích Nguyên Tạng: Trong hoàn cảnh chiến tranh và nhiều lần gián đoạn việc học, ông vẫn theo đuổi con đường nghệ thuật. Điều gì đã thôi thúc ông theo học cổ nhạc tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Thời kỳ chiến tranh cũng là giai đoạn tôi trưởng thành, mang theo sức sống và những khát vọng tuổi thiếu niên bước vào những cung đường mơ ước của đời mình.
Việc học Phật của tôi phần lớn dựa vào sự tìm tòi và khả năng tự học. Không có thầy trực tiếp hướng dẫn, cũng hiếm có bạn đồng hành để chia sẻ và nâng đỡ trên con đường tu học. Việc học văn hóa cũng chỉ được tiếp cận một cách chắp vá, gián đoạn bởi những khó khăn khách quan của thời cuộc.
Đến với nghệ thuật cũng không khác. Dù luôn khát khao được tiếp cận môi trường đào tạo bài bản của Trường Quốc gia Âm nhạc, tôi chưa từng có cơ hội trở thành học viên chính thức. Những bài học tôi tiếp thu được chủ yếu qua sách vở, tài liệu và từ những người bạn thân cận từng theo học tại trường truyền đạt lại.
Không được học tập trong một môi trường chính quy, tôi cũng không có trong tay những văn bằng hay chứng nhận cho quá trình nỗ lực âm thầm ấy. Thế nhưng, chính sự kiên trì tự học, tự rèn luyện qua năm tháng đã trở thành hành trang quý giá, nuôi dưỡng niềm đam mê và định hình con đường nghệ thuật của tôi sau này.
6/ TT. Thích Nguyên Tạng: Thưa Cư sĩ, tuổi thơ của ông gắn liền với vùng đất Thủ Thiêm và những ngôi trường Công giáo như Thánh Anna. Cơ duyên nào đã đưa ông đến với Phật giáo và gắn bó với Gia Đình Phật Tử từ thuở thiếu thời?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Gia đình tôi thuộc tầng lớp lao động bình dân, là một trong những gia đình đầu tiên đến định cư và khai phá vùng đất Thủ Thiêm ven sông Sài Gòn cuối thập niên 40, đầu thập niên 50. Ba tôi làm nghề tài xế, Bà và má làm nghề đưa đò ngang ven sông. Khi đó, những gia đình đầu tiên này tuy đã cất nhà và rào chắn xong xuôi nhưng cứ mỗi chiều tất cả phải bồng bế cả gia đình chèo sang cầu quay (nay là cầu Khánh Hội) tá túc, sáng hôm sau mới trở về tiếp tục mưu sinh. Lý do khi đó vùng đất này còn cây cối rậm rạp, lắm lau sậy um tùm, là nơi lui tới của nhiều nhóm thổ phỉ khi về đêm.
Trong nhà, tôi là người con thứ năm, trên còn có hai người anh và một người chị. Má tôi chuyển dạ trong lúc ghe đậu dưới chân cầu quay, Ba tôi mượn xe đạp chở má tôi đến một nhà bảo sanh tư nhân ở chợ cũ, đường Võ Duy Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu), và tôi đã chào đời tại đây. Cũng từ đó về sau an ninh khá hơn, nhiều gia đình không còn phải cực nhọc chèo ghe lánh nạn mỗi đêm về. Nói theo Bà và Ba tôi là khi sanh tôi ra tất cả đã lên bờ ổn định.
Do gia đình đông anh em, việc học hành của tôi cũng rất chật vật và không liên tục. Từ lớp mẫu giáo đến hết lớp nhất, bậc tiểu học, tôi được ba má cho học tại trường tư thục Thánh Anna do các nữ tu dòng Mến Thánh Giá điều hành. Sau khi hoàn tất bậc tiểu học, mọi người phải ra đi tìm học tại các trường Trung học để bước lên cao. Từ lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Lục tôi phải lận đận chạy tìm học không thường xuyên ở các trường do gia đình hết khả năng cho học tiếp, nhường phần còn lại cho các em. Bản thân phải lén gia đình chạy vô chợ Cầu Muối xin đẩy xe rau mỗi đêm kiếm tiền đi học. Tôi đã đôi lần khai tuổi giả để được vô học các nơi mới. Vì vậy sau 2 năm, một lần nữa tôi phải dành thêm thời gian trở lại trường tiểu học Thánh Anna xin vô học lại lớp nhất để có bằng tiểu học nộp các nơi thi vào bậc trung học. Đây cũng chính là giai đoạn tôi vô tình trở thành hình ảnh khó chịu của các ma soeur mỗi khi giảng sách phần, loại sách theo dạng hỏi-thưa về kinh thánh, bắt các học sinh đọc mỗi đầu giờ học buổi chiều. Có lẽ do chủng tử được ươm mầm từ lúc 5 tuổi đã là một Oanh Vũ sinh hoạt Gia Đình Phật Tử (GĐPT) cho đến năm 10 tuổi; đã có dịp khơi dậy sự đáp trả sau những lời giảng không tốt về Phật giáo hay hình ảnh đức Phật. Cũng may mà đến giai đoạn căng thẳng thì cũng vừa đúng lúc kết thúc niên học, bãi trường, nhận bằng “chứng chỉ học trình”… lớp nhất. Thế là tôi được toại ý và nhanh nhảu đi nộp bổ túc cho nơi học lớp đệ lục mới. (Thời đó việc học hành, có tiền, mua bằng, khai lớn hoặc nhỏ tuổi, cộng vào đôi chút lanh lợi là có thể có bằng theo ý muốn).
III – HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỔ NHẠC PHẬT GIÁO
7/ TT. Thích Nguyên Tạng: Những tác phẩm đầu tay như Ni Liên Thuyền Đêm Đông, Mục Kiền Liên, 25 Thế Kỷ hay Đường Vào Đạo ra đời trong hoàn cảnh nào? Tác phẩm nào ông xem là bước ngoặt của đời mình?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Đó là những tác phẩm được viết trong môi trường sinh hoạt thời thiếu niên của mình dưới mái chùa cùng bạn hữu, trong màu áo GĐPT và HSPT. Chính các bạn là sự công chứng mạnh mẽ nhất cho tôi vững tin bước tiếp những bước quan trọng trong cuộc đời sáng tác nghệ thuật, trong tân nhạc và cả cổ nhạc.
8/ TT. Thích Nguyên Tạng: Khi bắt đầu viết cổ nhạc Phật giáo, ông có gặp sự hoài nghi hay phản đối nào từ giới nghệ thuật hoặc giới Phật giáo không?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Không. Dường như mọi người đều thấy và đã biết sự nỗ lực của bản thân tôi trong quá trình lớn lên ngoài và trong Phật giáo. Riêng ngoài xã hội thì đương nhiên phải qua các khâu kiểm duyệt của lãnh đạo chuyên môn. Nói chung là cũng không ai gây cản trở hay tạo phiền toái cho mình.
9/ TT. Thích Nguyên Tạng: Theo ông, đâu là sự khác biệt căn bản giữa một bài vọng cổ thông thường và một bài vọng cổ Phật giáo?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Nội dung một bài ca cổ Phật giáo tất nhiên phải khác hơn một bài ca cổ ngoài xã hội. Với Phật giáo, một bài ca cổ phải làm nhiệm vụ chuyển chở đạo lý Phật giáo, dẫn dắt thị hiếu quần chúng bên cạnh sự tu tập của mỗi người, tạo thêm nét tươi sáng trong sống tu học. Tuy vậy, những sáng tác của tôi tuy không nặng tính hàn lâm Phật học nhưng cũng không dễ dãi đi vào lối sáo mòn như làm lành lánh dữ, ăn chay niệm Phật, nhân quả thiện ác, v.v…
10/ TT. Thích Nguyên Tạng: Ông đã sáng tác hơn 60 bài cổ nhạc Phật giáo. Trong số đó, tác phẩm nào khiến ông tâm đắc nhất và vì sao?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Bao nhiêu sáng tác về nội dung Phật giáo của mình là bấy nhiêu đứa con tinh thần được viết lên và khai sinh từ trong sự cảm nhận ánh sáng Phật học. Vì vậy khó bề nhận xét được tác phẩm nào là ưng ý nhất. Nói thêm, nếu tính đến hôm nay thì con số bài hát đã vượt ngưỡng con số 100
IV- NHỮNG VỞ CẢI LƯƠNG PHẬT GIÁO DÀI TẬP
11/ TT. Thích Nguyên Tạng: Năm 1991, ông thực hiện vở cải lương Phật giáo đầu tiên Thái Tử A Xà Thế. Vì sao ông chọn nhân vật A Xà Thế, một con người nhiều tội lỗi và bi kịch, làm tác phẩm mở đầu cho sự nghiệp cải lương Phật giáo?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Cũng chưa hẳn là có chủ đích gì. Đó chỉ là lựa chọn cảm xúc của nhiều nghệ sĩ đang có mặt và vài chư tôn đức, đặc biệt H.T Thích Đồng Bổn, người đã tiên phong chủ xúy gây dựng và phục hồi lại nền nghệ thuật Phật giáo, trong đó có tân nhạc. Và chính H.T đã đích thân đứng ra thực hiện các công trình mang tính tiên phong này.
12/ TT. Thích Nguyên Tạng: Để viết vở Thái Tử A Xà Thế, ông đã nghiên cứu những nguồn kinh điển và tài liệu lịch sử nào? Quá trình chuyển tải giáo lý nhân quả, sám hối và giác ngộ lên sân khấu có những khó khăn gì?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Và dựa vào niềm tin trao gửi đó, tôi đã vận dụng hết vốn kiến thức Phật học mình được có và Thầy Đồng Bổn cung cấp thêm giai đoạn sau lúc A Xà Thế lâm bệnh và Kỳ Bà ra tay ứng nghiệm, mở lối cho A Xà Thế đến với Phật.
Còn lại, cũng đúng như câu hỏi vừa nêu. Xã hội thời nào cũng thấy có những điều trái ngang và cũng rất cần có những gương sáng hồi tâm đúng lúc. Ví như một câu Phật học mà tôi luôn ghi nhớ mãi:
"Trên đời này có hai hạng người quý nhất; thứ nhất người không mắc phải một lầm lỗi nào; thứ hai người mắc phải lầm lỗi biết ăn năn, sám hối sửa sai".
Chính vì vậy có nhiều người yêu cầu và hỏi rằng sao không viết tuồng cải lương về cuộc đời đức Phật đầu tiên. H.T Thích Đồng Bổn phát biểu rằng:
"Cuộc đời đức Thế Tôn quá lớn, quá rộng. Nếu có làm nghệ thuật thì trước hết phải làm bằng ngôn ngữ nghệ thuật điện ảnh mới xứng đáng".
Những người phía ngoài thì lại nghĩ rằng ê-kíp chúng tôi “không biết viết hay không biết cuộc đời đức Phật”, nên thi nhau viết, làm phim tràn lan và kết quả như chúng ta đã thấy có tác phẩm nào làm ra từ sự nôn nóng, thiếu tư duy mà tồn tại được.
13/ TT. Thích Nguyên Tạng: Vở Thoát Vòng Tục Lụy mang thông điệp gì đối với người Phật tử giữa đời sống hiện đại? Nhân vật nào trong vở phản ánh nhiều nhất những trải nghiệm cá nhân của chính ông?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Đó là nhân vật Ngọc Lam, sư huynh của Ngọc Lâm. Chính cung cách sống và tu hạnh của nhân vật này đã gợi mở cho tôi nhiều khúc uẩn đã từng va chạm trong cuộc đời đầy rẫy mấy đoạn nhấp nhô.
Nhân vật này làm việc không cần ai hiểu nhưng vẫn sẵn lòng chia sẻ đúng lúc khi người đó bình thường có lời nói và cách nhìn không tích cực về mình. Nếu tất cả sự việc đều thuận chiều theo thế thái nhân tình thì không có tác dụng giúp tỉnh ngộ.
14/ TT. Thích Nguyên Tạng: Câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ vốn đã rất quen thuộc với Phật tử Việt Nam. Ông đã làm mới đề tài này như thế nào để vừa giữ được tinh thần kinh điển vừa hấp dẫn khán giả sân khấu?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Vở cải lương Mục Liên Tìm Mẹ, còn gọi là “Mục Liên Thanh Đề” vốn đã rất quen thuộc với mọi người.
Ở đây, khi viết vở này, tôi đã vận dụng một phần dân gian, còn lại là Kinh Phật và nhất là có dựa vào phần lớn bản kinh “Mục Liên Sám Pháp” để đúc kết nên câu chuyện, phần nào đó vực dậy tính chính thống kinh điển mà lâu nay trong dân gian cứ ngỡ rằng việc tạo phước và tạo tội của bà Thanh Đề là một hệ quả trong một kiếp người, kỳ thật đó là câu chuyện đã trải qua nhiều tiền kiếp khác nhau, để có mối tương quan giữa hai mẹ con Bà Thanh Đề và Mục Liên.
15/ TT. Thích Nguyên Tạng: Điều gì khiến ông đặc biệt xúc động khi xây dựng hình tượng Thái tử Câu Na La? Theo ông, bài học lớn nhất từ nhân vật này đối với con người hôm nay là gì?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Vở Đôi Mắt Thái Tử Câu Na La, đó là câu chuyện gây xúc động mạnh khi tôi còn lứa tuổi thiếu niên, còn tung tăng trong màu áo GĐPT và HSPT, luôn có mơ ước sẽ nói lên cảm nhận của mình bằng góc độ nghệ thuật đặc biệt để nhắc nhở những người chung quanh mình có những nỗi oan khuất ngoài sức chịu đựng của một con người mà chỉ có lòng từ bi và ý chí nhẫn nại mới có thể hóa giải và cởi trói cho chính mình.
16/ TT. Thích Nguyên Tạng: Khi viết về cuộc đời một bậc cao tăng như Liên Hoa Hòa Thượng theo tập truyện của HT Thích Như Điển, ông làm thế nào để cân bằng giữa yếu tố lịch sử, tính nghệ thuật sân khấu và tinh thần tôn kính đối với bậc danh tăng?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Đó là khi tôi may mắn được sự tin tưởng và giới thiệu của TT. Thích Nguyên Tạng đến với HT. Thích Như Điển, được HT. trao cho quyền phổ tác “Chuyện Tình Liên Hoa Hòa Thượng” (khi trao đổi và xin ý kiến nhiều vị liên quan, tôi xin đổi tên thành “Cuộc Đời Liên Hoa Hòa Thượng” và được HT. tác giả hoan hỷ chấp nhận).
Một câu chuyện đã làm giật mình không ít người mến mộ Phật giáo, kể cả giới Phật tử thuần thành khi một khía cạnh nhỏ của cuộc đời tu hạnh của Ngài Liên Hoa gần như đang bước vào ngưỡng cửa của… truyền thuyết!
May mà có bàn tay tâm từ và sự cảm nhận tích cực của Hòa Thượng tác giả, giúp vực dậy một khía cạnh sự thật qua tác phẩm này. Và tôi muốn nương thừa vào công đức ấy để giúp khêu một ngọn đèn làm sáng tỏ một góc khuất chốn thiền môn tưởng đã rất thanh tịnh mà luôn ào ạt ngọn lửa xấu ác bủa vây.
V. TRIẾT LÝ NGHỆ THUẬT VÀ SỨ MỆNH HOẰNG PHÁP
17/ TT. Thích Nguyên Tạng: Ông từng nói rằng nghệ thuật cũng là một phương tiện hoằng pháp. Theo ông, cải lương Phật giáo có vai trò như thế nào trong việc đưa giáo lý đến với quần chúng?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Cải lương là một bộ môn nghệ thuật xuất hiện từ trong nhân gian, đặc biệt giới bình dân Miền Nam từ thời khai hoang mở đất. Chính những lưu dân miền ngoài, đến đây rất nhiều nguyên do rộng hẹp khác nhau, cũng đã góp phần tạo dựng nên cái phong cách hào sảng, bao la và phóng khoáng của người vùng đất này. Nỗi lòng xa xứ mỗi khi chiều về chỉ biết gởi gắm vào cung đàn điệu hát, man mác ít nhiều nỗi hoài hương. Bên cạnh đó họ còn chỉ biết dựa vào mái chùa hằng đêm để gởi gắm sự an lành và ngôi đình để gặp nhau sau mỗi mùa nông nhàn vào các dịp lễ kỳ yên.
Khi từ phong trào Ca Ra Bộ bước đến cải lương để rồi từ đó hình thành nên bộ môn nghệ thuật tuyệt vời này, đã ăn sâu vào thịt của biết bao thế hệ, thì đã gắn liền với nhau trong suốt chiều dài lịch sử của vùng đất này.
Vì vậy, đưa chân lý Phật Đà vào nội dung cải lương khác nào như đưa trở lại cái hồn cốt của cha ông mình thời mở đất, luôn nhịp nhàng và hoàn toàn không có bất kỳ một trở ngại nào, dù thời kỳ thực dân cải lương bị cho là buồn bã, không thích hợp với cái gọi là trào lưu văn minh của ngoại tộc.
Nói một cách hình tượng rằng chính các bài ca cải lương đã dẫn dắt, nắm tay các tầng lớp xã hội ngoài cổng chùa, trao cho quý Thầy, các nhà hoằng pháp, tiếp đưa họ đi vào tận chốn chánh điện lễ lạy và sống cuộc đời thư thái an lạc.
18/ TT. Thích Nguyên Tạng: Trong suốt hơn nửa thế kỷ hoạt động văn hóa Phật giáo, đâu là khó khăn lớn nhất mà ông gặp phải khi theo đuổi con đường sáng tác cải lương và cổ nhạc Phật giáo?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Rất nhiều và rất buồn. Nhất là bắt đầu từ cuối thập niên 80, tôi như một kẻ lữ hành cô độc, mà đôi khi mạn phép liên tưởng đến câu thơ của Huyền Giác Thiền Sư là:
"Thường độc hành, thường độc bộ/ Đạt giả đồng du Niết bàn lộ…"
Khi thì bị nghi ngờ, lúc lại dè bỉu không tiếc lời. Nhưng tất cả đã không qua được sự thản nhiên và bình tâm đã học được từ trong chánh pháp.
Chấp nhận để tiếp tục trưởng thành với những tấm lòng còn tốt hơn, đẹp hơn nhiều, đã ít nhiều dang tay dìu đỡ tôi bước tiếp chặng đường chưa có ai khai lối.
Chấp nhận buồn vui để sự nghiệp hanh thông, chấp nhận mình nghèo đi để cho lý tưởng được giàu sang. Đó là châm ngôn sống của tôi khi mang trên vai trách nhiệm phụng sự đạo pháp và dân tộc.
19/ TT. Thích Nguyên Tạng: Năm 2008, ông được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác nhận là người sáng tác cổ nhạc Phật giáo nhiều nhất Việt Nam. Danh hiệu ấy mang ý nghĩa gì đối với ông: niềm vui cá nhân hay trách nhiệm lớn hơn đối với văn hóa Phật giáo?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Chuyện này xin không được nói thêm nhiều, khi mà gian truân trắc trở vẫn còn hiện diện quanh quẩn cái thời điểm được trao danh hiệu đó.
Tuy vẫn trân trọng nhưng với lý tưởng phụng sự Phật pháp của mình thì đó không phải là mục đích hay điểm đến cuối cùng.
Trên tôi còn có hàng Tam Bảo chứng minh và chư Long Thần Hộ Pháp luôn hiện diện trong niềm tin của mình.
20/ TT. Thích Nguyên Tạng: Nhìn lại hành trình hơn 60 bài cổ nhạc và 10 vở cải lương Phật giáo, điều gì khiến ông hạnh phúc nhất? Nếu được chọn chỉ một tác phẩm duy nhất để lưu lại cho hậu thế sau này, Cư sĩ sẽ chọn tác phẩm nào, và muốn hậu thế nhớ đến mình như một nghệ sĩ, một nhà văn hóa Phật giáo hay một người con của Gia Đình Phật Tử? Ông muốn nhắn gửi điều gì đến thế hệ trẻ đang muốn tiếp nối con đường nghệ thuật Phật giáo hôm nay?
Soạn giả Dương Kinh Thành: Trước khi chính thức hoạt động cho văn nghệ Phật giáo, trước đó khá dài, tôi đã cộng tác, viết bài cho nhiều nơi ngoài xã hội, nhất là Đài TNNDTPHCM, các bài ca, chập cải lương hay bình luận cũng đều có gởi bài cộng tác. Cho nên chưa biết phải thống kê từ đâu.
Riêng Phật giáo thì cho đến thời điểm này thì ngoài 10 vở cải lương nêu trên còn có hơn 100 bài ca vọng cổ với nội dung Phật giáo chính thống được chấp nhận.
Tôi muốn mọi người biết đến mình là một người Phật tử như bao nhiêu người, vẫn còn đang miệt mài và âm thầm cống hiến cho văn hóa văn nghệ Phật giáo.
Đa năng không phải là đa tài mà chỉ là sự cống hiến hết sức mình trong điều kiện có thể; từ lúc không ai quan tâm cho đến khi mọi người hội tụ, tôi vẫn xin đứng ngoài lề để chiêm nghiệm lại chính cuộc đời mình mà cảm ơn thời thanh xuân đã sống và cống hiến hết mình cho đạo pháp.
Cảm ơn GĐPT, HSPT, hai tổ chức Thanh Thiếu Niên Phật giáo đã hun đúc tôi đến trưởng thành.
TT. Thích Nguyên Tạng: Xin chân thành cảm ơn Soạn giả Dương Kinh Thành đã dành thời gian quý báu cho cuộc trò chuyện hôm nay. Những chia sẻ chân tình của Cư sĩ không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về hành trình cuộc đời, nhân duyên học Phật và con đường sáng tác nghệ thuật Phật giáo, mà còn cho thấy tấm lòng son sắt của một người con Phật luôn tận tụy phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Kính chúc Soạn giả Dương Kinh Thành cùng quý quyến thân tâm thường an lạc, phước thọ tăng long và tục cống hiến cho nền văn học nghệ thuật Phật giáo Việt Nam với những sáng tác mới giàu giá trị tâm linh và nhân văn, góp phần truyền trao ánh sáng từ bi và trí tuệ của Đức Phật đến với nhiều thế hệ mai sau./.
Xem bài cùng chủ đề:
🌷Phỏng vấn Hòa Thượng Thích Như Điển
🌷Phỏng vấn Soạn giả Dương Kinh Thành
🌷Phỏng vấn Tiến Sĩ Lâm Như Tạng
🌷Phỏng vấn Tiến Sĩ Kunzang Chopel
🌷Phỏng Vấn Đại Đức Kusala,Thành viên Tăng đoàn Chùa Phật Giáo Quốc Tế, Darwin, Bắc Úc
🌷Phỏng vấn NCS Robert Topmiller về Luận Án Tiến Sĩ về Bồ Tát Quảng Đức (1996)
🌷Phỏng vấn Tiến Sĩ Robert Topmiller về Luận Án Tiến Sĩ về Bồ Tát Quảng Đức (2002)
🌷Phỏng vấn Giáo Viên Haavard Lorentzen, người đưa Phật giáo vào học đường Na Uy (1996)
🌷Phỏng vấn Harald Rosenløw Eeg, Với Luận Văn Cao Học Về Phật Giáo Việt Nam (1996)
🙏🙏🙏🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️🌼🍁🌺🍀🌹🥀🌷🌸🏵️