SỐNG TỐT ĐẸP HƠN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Sưu tập: Renuka Singh
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
Trong năm 1976, vị thầy quý báu của tôi là cố Lạt ma Thubten Yeshe (1935-84), người ân cần hơn chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai, quyết định thành lập một trung tâm Phật Giáo ở Dehli để giúp đền đáp sự tử tế của người Ấn Độ trong việc đã cung ứng Phật Pháp đến Tây Tạng.
Như mọi người biết, Đấng Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni, bậc khai sáng Phật Pháp mà chúng ta thụ hưởng ngày hôm nay, được sanh ra ở Bắc Ấn Độ (bây giờ là Lâm Tỳ Ni, Nepal) hơn hai mươi thế kỷ trước. Phụ vương của Ngài là vị vua của dòng Thích Ca hùng mạnh. Vào lúc 29 tuổi, Thái tử Sĩ Đạt Ta, bị thúc đẩy bởi nguyện ước thấu hiểu tại sao khổ não hiện hữu và vấn đề, nếu tất cả, là nó có thể chiến thắng được như thế nào, đã từ bỏ vương quốc và rời cung điện để tìm kiếm bản chất thật sự của mọi sự tồn tại. Sau khi học hỏi sáu năm với nhiều vị thầy Ấn Giáo và dấn thân trong nhiều thực tập khổ hạnh đã làm cho Ngài gần đến cái chết vì thiếu dinh dưỡng. Thái tử Sĩ Đạt Ta đã quyết định đi theo con đường Trung Đạo giữa những cực đoan của đời sống vương giả xa hoa trước đây và của việc tự hành xác gần đây. Vì thế, ở nơi bây giờ được biết như Đạo Tràng Giác Ngộ - Buddh Gaya, Bihar, Ngài đã ngồi dưới cội cây bồ đề và hành thiền trong tĩnh mịch cho đến khi Ngài chứng ngộ được mục tiêu của Ngài: Giác Ngộ hoàn toàn, trọn vẹn, vô song. Và thế là Ngài trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc hiền nhân Giác Ngộ của dòng Thích Ca.
Trong gần nửa thế kỷ Ngài sống như một người không nhà của đời sống viễn ly, đi từ nơi này đến nơi khác để thuyết giáo, và dành hầu hết mỗi mùa hạ trong an cư tu tập. Bài giảng đầu tiên của Ngài được ban bố tại Lộc Uyển, khoảng bảy tuần sau khi Giác Ngộ. Ở đây Ngài đã nói một bài giảng nổi tiếng của Ngài về Bốn Chân Lý Cao Quý, mà trong ấy Ngài đã giải thích rằng bản chất của cuộc sống trần gian là khổ não, rằng sự khổ não này có một nguyên nhân, rằng sự khổ não này có thể chấm dứt hoàn toàn và có một con đường cho sự chấm dứt này. Kết quả, bất cứ nơi nào Ngài đến, Ngài dạy đến những ai dễ tiếp thu bất cứ điều gì họ cần để biết, tùy theo trình độ tâm thức của họ. Thế nên, trong suốt phạm vi đời sống của Ngài, và không có thứ tự đặc thù nào, Đức Phật truyền đạt một sự sâu sắc không thể tưởng và tri thức bao la đến vô số con người. Cuối cùng tại Câu Thi Na, vào tuổi 80, Ngài đã nhập niết bàn. Những lời cuối cùng của Ngài là: vì tất cả mọi hiện tượng duyên sinh là vô thường, cho nên chúng ta không nên dính mắc với bất cứ thứ gì, mà thay vì thế nên áp dụng chính mình một cách cần mẫn để tránh những thứ xấu ác, chi làm những việc tốt lành và tịnh hóa tâm thức chúng ta. Điều này, trong căn bản, là lời dạy của Đức Phật.
Trong hàng nghìn năm sau đó, Phật Giáo - giáo pháp, lời dạy của Đức Phật - rộ nở ở Ấn Độ và lan truyền qua nhiều xứ sở khác như Tích Lan, Pakistan, A Phú Hản, Miến Điện, Nepal, Thái Lan và những quốc gia Đông Nam Á, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản, Việt Nam. Một cách rộng rãi, Phật Giáo phát triển thành hai trường phái chính; sự khác biệt chủ yếu giữa hai trường phái được xác định bởi động cơ của hành giả hơn là bởi bất cứ hình thức ngoại tại nào. Tuy nhiên, một cách tổng quát, Phật Giáo Nguyên Thủy thiết lập và thấy ở những quốc gia phương nam, trong khi Đại Thừa Phật Giáo lan truyền ở phương bắc.
Đầu thế kỷ thứ 7, quốc vương Tây Tạng, Songtsen Gampo (617- 50), kết hôn với hai công chúa, một từ Nepal, và một từ Trung Hoa. Qua sự ảnh hưởng của họ, ngài trở thành Phật tử, và gieo những hạt giống Phật Giáo vào Tây Tạng bằng việc xây dựng vài chùa viện và gởi một viên quan, Thönmi Sambhota, đến Ấn Độ để tạo ra chữ viết vì thế kinh luận Phật Giáo có thể được chuyển dịch từ Phạn ngữ ra Tạng ngữ. Khoảng 100 năm sau, một trong những người kế nghiệp của ngài, Trisong Detsen (742-97), đã mời những đại sưu của Ấn Độ Tịch Hộ (Shantaraksita) và Liên Hoa Sanh đến Tây Tạng. Vì thế, mặc cho nhiều sự thăng trầm, trong vài thế kỷ tiếp theo, Phật Pháp lan truyền khắp Tây Tạng. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 11, Đạo Phật Tây Tạng bị suy thoái nghiêm trọng, với những giáo lý sai lạc và hướng dẫn lầm lạc đến những sự thực tập trước đó và suy đồi trở nên phổ biến khắp Tây Tạng. Mất tinh thần bởi điều này, vua Lhalama Yeshe Ö của Guge, vùng viễn tây của Tây Tạng, đã mời đại thánh nhân học giả Ấn Độ Atisa (982-1054) đến Tây Tạng để giới thiệu lại Phật Pháp tinh khiết với Quê Hương Tuyết Sơn.
Giống như Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni, Atisa sinh ta từ một gia đình vương giả nhưng đã từ bỏ vương quốc ở Bengal để thuận lợi cho cuộc sống tâm linh. Trong tuổi thiếu niên và những năm hai mươi tuổi ngài đã tiếp nhận sự học hỏi và thực tập sâu xa kinh điển cũng như mật điển, và chi trước khi bước vào tuổi ba mươi, ngài đã thụ giới của tu sĩ và được ban cho tên là Dĩpankara (Nhiên Đăng). Trái tim của ngài đã gắn kết với việc đạt đến Giác Ngộ, và nhiều kinh nghiệm của ngài đã làm ngài ấn tượng với tầm quan trọng của việc phát triển tâm bồ đề như nhân chính yếu. Ngài đã khám phá ra rằng vị thầy vĩ đại nhất đương thời về tâm bồ đề là đạo sư nổi tiếng Suvarnadvipi[1], người sống ở nơi có thể bây giờ được biết là đảo Sumatra. Vì thế, Atisa, đã không ngại hành trình gian khổ và khó khăn trong mười ba tháng xuyên đại dương đến nơi để học hỏi với vị thầy vĩ đại này. Ngài đã ở lại với thầy 12 năm, học hỏi và thực hành cho đến khi ngài phát triển tâm bồ đề. Sau đó ngài đã trở lại Ấn Độ và cuối cùng cư trú tại đại tu viện đại học Vikramasila ở Magadha. Chính ở đấy mà viên quan của Lhalama Yeshe Ö của Guge đã thấy Atisa và cầu thỉnh ngài sang Tây Tạng.
Vì Atisa là một trong những học giả lớn nhất ở Ấn Độ, nên viện trưởng tu viện Vikramasila ngần ngại cho phép ngài đi Tây Tạng, nhưng cuối cùng ông đồng ý để ngài ra đi trong thời hạn ba năm. Vào lúc ấy, Vua Lhalama Yeshe Ö đã băng hà và cháu của ông là Jangchub Ö lên kế vị. Khi Atisa đến, Jangchub Ö đã giải thích vấn đề giáo pháp đã suy thoái nghiêm trọng như thế nào ở Tây Tạng. Ông khẩn cầu Atisa không giảng dạy về giáo huấn thậm thâm và vi diệu, mà tốt hơn là luật nhân quả và một giáo pháp không sai lạc nào đó dễ dàng để thực tập và chứa đựng toàn bộ giáo huấn của Đấng Giác Ngộ.
Cực kỳ hoan hỉ, Atisa vì thế đã sáng tác một luận điển ngắn gọn ba trang có tên là Ngọn Đèn cho Con Đường Giác Ngộ[2], làm sáng sủa dễ hiểu cả giáo huấn kinh điển lẫn mật điển của Đức Phật. Chẳng bao lâu sau tác phẩm này, những giáo lý sai lạc quá tiêm nhiễm ở Tây Tạng đã hoàn toàn bị biến mất, và giáo pháp tinh khiết được lan tỏa sâu rộng. Đây không phải là một may mắn chỉ cho đồng bào Tây Tạng mà cho toàn thế gian. Trong thời gian này, Đạo Phật ở Ấn Độ đang ở dưới sự vây hảm từ những thế lực tàn phá xâm lược đất nước từ phương Tây, đập đổ tu viện đến tận nền, giết hại tu sĩ, và đốt thiêu kinh điển. Phật Pháp không bao giờ được phục hồi sau nạn kiếp này đến hàng nghìn năm sau đó mà biến mất khỏi Ấn Độ nơi phát sinh Đạo Phật. Chính sự bảo tồn hoàn toàn hình thức Phật Giáo Đại Thừa đã từng được mang đến Tây Tạng và điều ấy đã bảo đảm cho Phật Pháp tiếp tục tồn tại cho toàn thể nhân loại.
Luận điển ngắn mà Atisa đã sáng tác là phần thứ nhất trong bộ phận giáo huấn đi đến được gọi trong tiếng Tây Tạng là "Lamrim" hay "Con Đường Tiệm Tiến Đến Giác Ngộ[3]". Giáo huấn Lamrim không chứa đựng điều gì không được Đức Phật giảng dạy. Đúng hơn, chúng chỉ đơn giản là sự xếp đặt mọi thứ Đức Phật đã dạy trong hơn 45 năm trong một tác phẩm mạch lạc và hợp lý cho phép bất cứ cá nhân nào có thể thấy một cách rõ ràng vấn đề người ấy nên tuân theo trên con đường tu tập như thế nào. Lamrim là một bản đồ thiết yếu đến Giác Ngộ tròn vẹn của Quả Phật. Những môn đồ sau này của Atisa đã phát triển xa hơn sự trình bày Phật Pháp đặc biệt này, và Lamrim đã trở thành nền tảng của hầu hết các trường phái Phật Giáo Tây Tạng rộ nở hàng thế kỷ sau đó. Trường phái của riêng họ được biết là truyền thống Kadam.
Atisa không chỉ giới thiệu cho những môn đệ của ngài giáo huấn Lamrim mà ngài cũng mang theo với ngài truyền thừa tuệ trí và phương pháp các giáo huấn của Đức Phật. Đức Phật Thích Ca trao truyền giáo huấn tuệ trí của Ngài đến Mạn Thù Thất Lợi, người đã truyền chúng cho học giả và hành giả du già Ấn Độ vô song là Long Thọ, rồi đến Nguyệt Xứng và nhiều đại học giả khác sau hàng thế kỷ đến Atisa. Những giáo huấn phương pháp được truyền cho Di Lặc, người truyền chúng qua nhiều bậc thầy chẳng hạng như Vô Trước, Thế Thân và Suvarnadvipi, từ những vị này chúng truyền thừa đến Atisa. Vì vậy, giáo huấn mà Atisa mang đến Tây Tạng không chỉ là giáo huấn thuần khiết của Đức Phật mà chúng cũng được truyền thừa qua một dòng truyền thừa có thể truy tầm đến chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Truyền thống truyền khẩu không tì vết này được duy trì ở Tây Tạng và vẫn tồn tại đến ngày nay trong tâm tư của những đại lạt ma như Đức Đạt Lai Lạt Ma, người mà chúng tôi có thể tiếp nhận sự trao truyền này.
Vào thế kỷ 15, Tây Tạng đã thấy một vị thầy lớn trong Lạt ma Tông Khách Ba (1357-1419). Đã ảnh hưởng sâu đậm với những vị Kadampa và đã học hỏi với những vị thầy nổi tiếng từ ba truyền thống chính lúc bấy giờ - Nyingma, Kagyu và Sakya - Lạt ma Tông Khách Ba khai sáng một truyền thống mới, dòng Gelugpa[4], sau đó đã nhanh chóng trở thành một trường phái Phật Giáo phổ biến ở Tây Tạng. Đây là trường phái mà Đức Đạt Lai Lạt Ma là thành viên và Trung Tâm Thiền Quán Đại Thừa Tushita thực hành.
Tôi đã đề cập phía trước rằng có hai trường phái chính của Phật Giáo một cách tổng quát: Phật Giáo Nguyên Thủy và Phật Giáo Đại Thừa. Phật Giáo Đại Thừa phân chia xa hơn thành Ba La Mật Thừa và Kim Cang Thừa, cũng được biết một cách tương ứng như Kinh Thừa và Mật Thừa. Tôi cũng đề cập rằng khác biệt chính giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa nằm ở động cơ của các hành giả. Điều này có thể được tóm tắt bởi một lời trích dẫn từ Đức Đạt Lai Lạt Ma "Nếu bạn không thể giúp người khác, tối thiểu đừng làm tổn hại họ". Điều này phản chiếu động cơ đã phân biệt hai trường phái chính của Phật Giáo với nhau. Một cách lý tưởng, các hành giả phải hồi hướng những hành vi của họ để giúp đở người khác trong một cung cách cao nhất như có thể, đó là, bằng việc hướng dẫn họ đến Giác Ngộ. Đây là động cơ của Đại Thừa: cố gắng Giác Ngộ vì lợi ích của toàn thể chúng sanh. Thuật ngữ cho tâm vị tha cứu kính này là "boddhicitta" hay tâm giác ngộ hay tâm bồ đề, và hành trình nguy hiểm và hàng năm thực hành của Atisa nhằm để tầm cầu sự thực chứng nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Những ai không thể phát sinh động cơ rộng rãi này được khuyến khích tối thiểu không làm tổn hại người khác, và đây là căn bản của Tiểu Thừa Phật Giáo: đi theo con đường bất bạo động (ahimsa) và cố gắng cho sự giải thoát cá nhân khỏi khổ não - moksha hay niết bàn. Tuy nhiên có lẻ nên nhấn mạnh rằng những thực tập nền tảng này cũng là nền tảng cho cả những sự phân chia của Đại Thừa.
Vì Kinh Thừa và Mật Thừa đều là những trường phái Đại Thừa, động cơ của các hành giả của cả hai rõ ràng là tâm giác ngộ: đạt được sự Giác Ngộ chỉ vì mục tiêu Giác Ngộ cho tất cả những người khác. Sự khác biệt giữa chúng là tốc độ mà với mục tiêu này có thể được hoàn thành. Những hành giả của Kinh Thừa có thể phải cần đến hàng a tăng kỳ kiếp hay nhiều vô số kiếp để trở thành Giác Ngộ; nhưng bằng việc thực hành những kỷ năng thậm thâm đặc biệt của Mật Thừa việc Giác Ngộ có thể được hoàn tất trong vài năm hay trong vài kiếp sống. Tất cả những truyền thống Phật Giáo này: Tiểu Thừa, Đại Thừa, Mật Thừa - phát xuất từ Ấn Độ và được truyền sang Tây Tạng, nơi mà chúng được bảo tồn, thực tập và phát triển trong một không gian cô lập và lợi lạc một cách đặc biệt ở Tây Tạng.
Dĩ nhiên mọi thứ đã thay đổi khi những người Trung Cộng bắt đầu chiếm đóng Tây Tạng ngay sau khi chiếm được chính quyền ở Trung Hoa năm 1949, và đạt đến cực điểm vào năm 1959, khi đồng bào Tây Tạng đồng khởi chống lại sự áp bức của họ nhưng bị dập tắt một cách dã man. Đức Đạt Lai Lạt Ma, gia đình ngài và nhiều vị thầy của ngài đã đào thoát khỏi cuộc giết chóc tàn bạo của Quân Giải Phóng Nhân Dân và đến Ấn Độ một cách an toàn, cùng với hàng trăm nghìn người Tây Tạng khác. Tôi mặc dù sanh ra ở Nepal và đã học hỏi ở một tu viện ở miền Nam Tây Tạng, là một bộ phận của cuộc ra đi này. Việc cho phép chúng tôi một nơi cư trú an toàn khỏi cuộc khủng bố và gần như chết chóc vào thời điểm nghiêm trọng ấy lại là một sự tử tế ân cần vĩ đại khác của Ấn Độ cho đồng bào Tây Tạng.
Vì thế mà Lạt ma Yeshe cảm thấy nhu cầu cố gắng để đền đáp cho sự ân cần tử tế này, và cách nào tốt hơn là cố gắng hổ trợ việc tái thiết lập giáo pháp quý giá trên mãnh đất đã sản sinh ra nó là Ấn Độ. Lạt ma Yeshe dự định tạo nên một trung tâm để học hỏi và thực tập Phật Giáo. Danh xưng mà ngài định là Trung Tâm Thiền Quán Đại Thừa Đâu Suất (Tushita). Lạt ma Yeshe đã có một trung tâm tu tập Tushita ở Dharamsala, nơi cư ngụ của Đức Đạt Lai Lạt Ma à chính quyền lưu vong Tây Tạng. Tushita là chữ Phạn cho một cõi Tịnh Độ của Di Lặc, vị Phật tương lai, bậc sẽ xuất hiện trên trái đất để tái lập Phật Pháp một khi kỷ nguyên của Đức Phật Thích Ca chấm dứt. Trong Tạng ngữ, chữ "Gaden", là tên của một trong những tu việc đầu tiên đã được Tổ sư Tông Khách Ba lập và các môn nhân của ngài thành lập ở Tây Tạng. Nó có nghĩa là Hoan Hỉ Địa (Land of Joy).
Sau hai năm tìm kiếm, trong năm 1979, với sự giúp đở của các môn đệ Ấn Độ, Lạt ma Yeshe đã tìm ra một căn nhà lý tưởng ở ngoại ô New Delhi thuộc Shantiniketan để làm trung tâm, sau đó đã bắt đầu có những buổi thiền tập buổi sáng và tối và những giảng dạy thường xuyên bởi một số đại lạt ma lưu vong như trưởng lão giáo thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, Kyabje Ling Rinpoche (1903-83), giáo thọ khác của ngài, Kyabje Trijang Ling Rinpoche (1901-81), Tsenshab Serkong Rinpoche (1914-83), Song Rinpoche (1905-83), Geshe Sopa Rinpche và Geshe Rabten Rinpoche . Lạt ma Gelek Rinpoche, lúc ấy thường trú tại New Delhi, cũng trở thành một vị thầy thường xuyên. Nhiều học giả Ấn Độ và hành giả Phật Giáo Tây phương cũng giảng dạy tại Tushita, và vài tài liệu giảng dạy này đã được trung tâm phát hành năm 1981 tựa đề là Giáo Huấn tại Tushita. Trung tâm cũng phục vụ như một nhà khách cho những khách hành hương Phật Giáo khắp nơi trên thế giới, và Lạt ma Yeshe cũng thế, ngài thích lưu trú tại đấy bất cứ khi nào ngài đi ngang qua New Delhi. Dĩ nhiên, chính Lạt ma Yeshe đã cống hiến nhiều bài học ở đấy.
Từ năm 1974, do lời thỉnh cầu của nhiều học nhân quốc tế, Lạt ma Yeshe, vốn thường trụ tại tu viện Kopan, Kathmandu, Nepal, đã du hành khắp thế giới mỗi năm, thuyết giảng, truyền pháp cho mọi người và thành lập những trung tâm Phật Pháp ở nhiều quốc gia khác nhau như Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Anh Quốc, Ý Đại Lợi và Pháp Quốc. Trong năm 1975, Lạt ma Yeshe thành lập một tổ chức, Hội Bảo Tồn Truyền Thống Đại Thừa (FPMT) nhằm để thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới Phật Pháp toàn cầu này và bảo đảm rằng chi giáo huấn thuần khiết của Đức Phật được giảng dạy tại các trung tâm của ngài. Tushita đã trở thành một bộ phận của mạng lưới những trung tâm, tu viện, nhà xuất bản giảng dạy và tu tập này và những hoạt động khác, mà bây giờ con số đã lên đến hơn 110 khắp thế giới. Được bao gồm trong những hoạt động này là vô số chương trình ở Đạo Tràng Giác Ngộ, nơi Đức Phật Giác Ngộ: một chương trình cho những kẻ phong hủi, một trường học và một ngôi nhà cho những người khốn khó bất hạnh và việc xây dựng một bức tượng Di Lặc cao 500 bộ.
Năm 1981, Lạt ma Yeshe đã thỉnh cầu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, giảng dạy tại Tushita. Dòng truyền thừa của Đức Đạt Lai Lạt Ma đi ngược lại thời kỳ của Tổ sư Tông Khách Ba, mà người cháu và học trò của ngài, Gendun Drub (1391-1474), trở thành Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất, người chưa được thừa nhận trong thời ngài trụ thế. Chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ năm vĩ đại, Gyalwa Ngawang Losang Gyatso (1617-82), người đã thống nhất Tây Tạng dưới sự lãnh đạo của Gelugpa và xây dựng một biểu tượng vĩnh cửu của Tây Tạng, điện Potala, cung điện mùa đông của Đức Đạt Lai Lạt Ma và đại bản doanh của chính quyển Tây Tạng từ thế kỷ 17 cho đến 1959. Vị tiền nhiệm của Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện tại, Gyalwa Thubten Gyatso (1876-1933), được biết như Đức Mười Ba vĩ đại vì sự thông tuệ và nhận thức lãnh đạo của ngài cho Tây Tạng trong những thay đổi sâu xa toàn cầu trong buổi đầu của thế kỷ 20.
Những Đức Đạt Lai Lạt Ma được nhìn nhận như tái sanh của Quán Thế Âm, Đức Phật Từ bi, và thật là một sự gia hộ lớn lao ngay cả ở trong sự hiện diện của các ngài, nói gì đến việc tiếp nhận những giáo huấn của các ngài. Do vậy, Lạt ma Yeshe đã nghĩ, sẽ là một sự kiện diệu kỳ cho mọi người ở New Delhi có cơ hội tiếp nhận sự giảng dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Theo đấy, Lạt ma Yeshe đã thỉnh cầu ngài đến giảng dạy tại một sự kiện được bảo trợ bởi Tushita trong mùa thu 1981, được Lạt ma Yeshe gọi là "Pháp Hội". Đức Đạt Lai Lạt Ma đã hoan hỉ nhận lời, và thế nên truyền thống những Pháp Hội của Tushita đã bắt đầu một sự kiện tại Khách sạn Ashoka New Delhi, đã được tham dự bởi hơn 400 người, hầu hết thường trú tại New Delhi. Bây giờ, mỗi lần giảng dạy tại những pháp hội ở New Delhi, ở một hội trường hay giảng đường với một đám đông đến hơn 2 hay 3 nghìn người.
Buồn thảm thay, trong năm 1983, Lạt ma Yeshe đã viên tịch. Một năm hay hơn thế sau đấy, hợp đồng của căn nhà tại Shantiniketan đã hết hạn và Tushita phải dời đến một chung cư ở vùng Đông Nizamuddin. Sau đấy mỗi hai năm một lần, trung tâm tiếp tục di chuyển và hiện tại tọa lạc ở Padmini Enclave, Hauz Khas, New Delhi.
Giáo huấn Lamrim, Con Đường Tiệm Tiến, là tinh hoa của Phật Giáo Tây Tạng, trái tim của Kim Cang Thừa, và cấu thành cốt lõi của giáo huấn mà chúng tôi cống hiến tại Tushita. Căn bản của chúng là sự thấu hiểu rằng tâm thức, hay mỗi dòng suối ý thức của mỗi người, không có bắt đầu, tâm thức của mỗi chúng sanh đã bị ô nhiễm bởi vô minh, luyến ái, và sân hận. Sự ảnh hưởng của những tư tưởng tiêu cực này làm cho chúng ta tạo nên những nghiệp chướng tiêu cực, kết quả mà mỗi kinh nghiệm khổ não, chẳng hạn như tái sanh những tình trạng bất hạnh, đau đớn, bệnh hoạn và những thứ khốn khó khác xảy ra cho chúng ta và những kẻ khác. Tuy thế, mặc dù chúng luôn luôn hiện diện ở đấy, những tư tưởng tiêu cực này không là một bộ phận thường trú của tâm thức. Qua những phương tiện thích đáng, chúng có thể được xóa bỏ một cách hoàn toàn, khai mở bản chất tự nhiên trong sáng của tâm, và giải thoát chúng sanh khỏi khổ não vĩnh viễn.
Những phương tiện thích đáng là gì? Chúng bao gồm việc chuyển hóa tâm thức chúng ta qua việc thực hành giáo huấn con đường tiệm tiến Lamrim. Một cách để thấu hiểu điều này là việc quán chiếu con người đầu tiên, giáo huấn chìa khóa của con đường Giác Ngộ trong dạng thức của một động cơ, như sau đây:
Vì từ thời vô thỉ, trong vô số kiếp sống quá khứ, tôi đã chết và tái sanh trong vòng luân hồi, sáu cõi khổ não. Lần này, cuối cùng, tôi đã nhận được một sự tái sanh toàn hảo của con người, với tám sự tự do và mười sự giàu có. Điều này cung ứng cho tôi một cơ hội vô song để cố gắng cho những mục tiêu đầy đủ ý nghĩa, chẳng hạn như đạt đến Giác Ngộ vì lợi ích của toàn thể chúng sanh, giải thoát khỏi vòng khổ não từ vô thỉ, hay tối thiểu, những kiếp sống tương lai tốt hơn trong vòng luân hồi. Nếu thay vì thế tôi lại lãng phí thời gian của tôi bởi việc tự luyến ái đến những thoải mái thích đáng này, tôi sẽ hoàn toàn tiêu hủy cơ hội vô giá này.
Cuộc sống quý giá này không dễ dàng để có. Nó đã là kết quả từ những thực hành Phật Pháp trong nhiều kiếp sống trước, thí dụ, giữ gìn những đạo đức thuần khiết, thực hành bố thí và dâng hiến những lời cầu nguyện chân thành vi lợi ích của những chúng sanh khác. Do thế, sẽ không dễ tiếp nhận một lần nữa. Vì vậy, tôi không được phung phí cơ hội hiếm hoi này để làm lợi ích cho chính tôi và những người khác.
Xa hơn thế, cuộc sống này cực kỳ ngắn ngủi. Tôi chắc chắn sẽ chết nhưng tôi không hề biết bao giờ nó xảy ra. Cuộc sống của tôi cạn kiệt một cách liên tục, nhanh hơn tôi tưởng tượng, không bao giờ dừng lại trong một khoảnh khắc. Và khi tôi chết, không có điều gì ngoài Phật Pháp mà tôi đã thực hành sẽ giúp đở tôi. Mọi thứ mà tôi đã làm ra - quyền lực, vị thế và sở hữu - chỉ gây trở ngại cho cơ hội có một sự tái sanh tốt đẹp hơn trong tương lai. Thế nên, tôi phải thực hành Phật Pháp và chỉ Phật Pháp, ngay bây giờ.
Nếu tôi không thực hành Phật Pháp mà chỉ tiếp tục tạo ra những nghiệp chướng tiêu cực và không tịnh hóa vô số nghiệp mà tôi đã tạo ra trong những kiếp sống quá khứ, tôi sẽ bị tái sanh trong một cảnh giới tệ hại hơn - trong địa ngục, hay quỷ đói hay một cõi súc sanh - từ những thứ mà hầu như không thể thoát khỏi và nơi mà tôi sẽ trải nghiệm những khổ não tiếp nối, không thể chịu nổi. Nếu tôi chết ngay giờ đây, và phải nói gì mà tôi sẽ không muốn nói, tôi chắc chắn sẽ thấy tự thân ở một trong những nơi kinh khủng ấy.
Ai có thể hướng dẫn tôi trong lần này trong nhu cầu cấp thiết nhất? Ba Ngôi Tôn Quý - Phật, Pháp và Tăng - là hy vọng duy nhất của tôi. Do vậy, khỏi sự sợ hãi khổ não của tam đồ và với niềm tin hoàn toàn vững chắc trong năng lực của tam bảo hướng dẫn tôi, tôi phải hướng về Ba Ngôi Tôn Quý để nương tựa. Tam bảo bảo vệ tôi như thế nào? Bằng việc chỉ cho tôi con đường đến giải thoát khỏi khổ não. Nhưng tùy tôi có đi theo con đường ấy hay không. Căn bản của việc này là việc quán chiếu luật nghiệp báo.
Nghiệp báo được xác định: nghiệp lành mang đến hạnh phúc; nghiệp xấu mang đến khổ não. Thế nên, tôi phải chỉ tạo ra những nghiệp lành và tránh những nghiệp xấu bằng bất cứ giá nào. Bằng việc thực hành trong cách này tôi tối thiểu có thể được tái sanh trong những cảnh giới tốt đẹp hơn.
Nhưng những cảnh giới tốt đẹp hơn chưa đủ. Như tôi biết từ những kinh nghiệm hiện tại như một con người, ngay cả những cảnh giới tốt đẹp hơn cũng có những khổ não vô cùng - bệnh hoạn, thương tật, tuổi già và sự chết; không có những gì tôi muốn; mất mát những gì tôi có; gặp gở những người không muốn. Ở nơi nào trong vòng luân hồi cũng là khổ, bởi vì tôi luôn luôn khổ sở với một nỗi khốn khó này hay khác và không biết bao giờ hay thứ nào sẽ giáng xuống. Do vậy, tôi phải giải thoát mình ra khỏi vòng không chế của sanh tử một cách hoàn toàn, và vì thế đạt đến hòa bình và hạnh phúc trường cửu của niết bàn.
Nhưng thứ nào trong ấy cũng không đủ. Việc luyến ái với niềm hòa bình cá nhân và cố gắng đơn thuần cho điều này là rất ích kỷ và tàn nhẫn. Tất cả mọi chúng sanh muốn tìm hạnh phúc và tránh khổ đau. Trong điều này, tôi bình đẳng với tất cả mọi người khác. Xa hơn thế, tôi chỉ là một và những người khác là vô số; vì vậy, niềm hạnh phúc của họ phải quan trọng hơn nhiều so với riêng tôi. Cũng thế, tất cả những niềm hạnh phúc của quá khứ, hiện tại và tương lai của tôi - từ việc thụ hưởng nhỏ nhoi nhất, chẳng hạng như một làn gió mát trong một ngày nóng bức, đến niềm diệu lạc bất tận của Giác Ngộ - tùy thuộc vào những chúng sanh khác. Không chỉ thế, mà mỗi một chúng sanh đã từng là bà mẹ của tôi trong vô số trường hợp, đã biểu lộ sự ân cần của mẹ hiền đối với tôi mỗi lần như thế. Do vậy, vì điều này và nhiều lý do khác, tôi phải đền đáp tất cả những sự tử tế này trong cách tuyệt diệu nhất mà tôi có thể; bằng việc hướng dẫn tất cả chúng sanh đến Giác Ngộ vô thượng của Quả Phật.
Tuy nhiên, vào những thời khắc tôi chật vật để xa tránh khổ não, thì thật đủ khó khăn để hướng dẫn người khác đến hạnh phúc thông thường, nói gì đến Giác Ngộ. Chỉ một bậc Giác Ngộ mới có thể hướng dẫn người khác đến Quả Phật; do vậy, nhằm để đền đáp lòng ân cần tử tế của người khác, trước nhất tôi phải đạt đến Giác Ngộ cho chính mình. Nhằm để làm điều này, tôi phải tìm ra một vị thầy đầy đủ phẩm chất và học hỏi, quán chiếu, và hành thiền trong giáo huấn của Đức Phật. Đây là cách đầy đủ ý nghĩa nhất của việc dành cuộc sống này của tôi, thế nên, đây là những gì tôi phải làm.
Đức Đạt Lai Lạt Ma là một vị thầy toàn hảo, là kho trân châu của lòng từ bi vô hạn ôm ấp tất cả mọi chúng sanh, cội nguồn duy nhất của lợi lạc và hạnh phúc, nơi nương tựa duy nhất của chúng ta. Đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần tử tế hơn cả ba đời chư Phật. Do vậy, nếu chỉ đơn thuần cầm quyển sách này của Đức Đạt Lai Lạt Ma trên tay chúng ta cũng là một sự gia hộ lớn lao, điều gì hơn có thể nói khi đọc, quán chiếu ý nghĩa và hành thiền trên những lời dạy của ngài để thể nhận chân lý cứu kính của chúng?
Nguyện cho giáo huấn này làm lợi lạc tất cả chúng sanh và tạo ra nguyên nhân làm cho họ đạt đến Giác Ngộ; một cách đặc biệt, nguyện điều này làm lợi lạc cho tất cả mọi người Ấn Độ. Nguyện cho bất cứ người nào thấy, chạm, nhớ hay nghĩ về quyển sách này sẽ không bao giờ sanh vào những cảnh giới khổ đau. Nguyện cho những nhận thức sai lầm về giáo lý lập tức được dẹp yên. Nguyện cho tất cả mọi người Ấn Độ có niềm tin không lay chuyển trong quy y và nghiệp báo; nguyện cho tất cả họ có sự hy hiến mạnh mẽ đối với Phật Giáo và hiện thực toàn bộ con đường Giác Ngộ, đặc biệt là tâm giác ngộ hay tâm bồ đề, ngay trong kiếp sống này. Nguyện cho mọi người được trao truyền cảm hứng để quảng bá và học hỏi Phật Pháp. Nhưng một cách đặc biệt, nguyện cho tất cả những quan điểm sai lầm tà kiến lập tức được bình lặng. Nguyện cho người Ấn Độ muốn học hỏi Phật Pháp và đạt đến Giác Ngộ, và nguyện cho họ hiện thực toàn bộ con đường tu tập.
Kinh nghiệm của tôi về con người ở Ấn Độ, đặc biệt ở Delhi, gợi hứng cho tôi nghĩ về tầm quan trọng của câu hỏi nghiêm chỉnh thật sự về phẩm chất cuộc sống của một người như thế nào, để thẩm tra cuộc sống nội tại của một người và để kiểm tra thể trạng của tâm thức một người. Bạn có vui vẻ với cách mà bạn đang sống hiện nay không? Có hài lòng và đầy đủ không? Thật quan trọng là bạn nên tự hướng dẫn chính bạn, đấy là bạn phải tự giải thoát chính bạn.
Chúng ta có thể nói về triết lý Đông - Tây, tất cả những tôn giáo khác nhau và nhiều thứ phối hợp với chúng. Kinh Gita của Ấn Giáo, Thánh Kinh của Ki Tô Giáo, Kinh Koran của Hồi Giáo, … chúng ta có thể đọc tất cả những kinh điển của tôn giáo. Chúng ta có thể nói và nói và nói về tất cả những triết lý này cả đời chúng ta và tuy thế không có điều gì phát triển trong trái tim của chúng ta. Trái tim của chúng ta vẫn trống rỗng, chúng ta không đạt được tinh hoa trong kiếp sống này. Chúng ta trở nên tệ hại hơn, não bộ chúng ta đầy ắp những ngôn từ như máy điện toán nhưng đời sống nội tại của chúng ta tiếp tục trống rỗng và vô nghĩa. Không có sự phát triển tâm linh trong trái tim của chúng ta và chúng ta không xa rời ba loại thuốc độc trong tâm thức là vô minh, luyến ái và thù hận. Điều này tạo nên tất cả mọi rắc rối trong cuộc sống của chúng ta, bây giờ và trong tương lai, đặc biệt những vấn nạn tạo nên bởi tâm ích kỷ và tư tưởng tự ái luyến đã làm hại tất cả chúng sanh. Không có gì phát triển trong con đường tâm linh nền tảng của từ ái và bi mẫn đối với người khác. Cuộc sống nội tại thật sự của chúng ta tiếp tục khô cằn vô vị mặc dù não bộ chúng ta đầy ấp những từ ngữ.
Điều mà mỗi người, một người học thức, một giáo sư, triết gia, một hành khất hay một triệu phú, một đứa con nít, một người già, tự bạn và những người khác, đang tìm kiếm là hạnh phúc; không ai muốn rắc rối và khổ não. Chỗ mà hạnh phúc được quan tâm, chúng ta có thể tập trung hoặc là hạnh phúc của thời khắc, hay về hạnh phúc của những kiếp sống siêu việt. Có những niềm hạnh phúc chỉ tồn tại trong một phút, một giờ, 12 giờ, 24 giờ; hạnh phúc nào chúng ta muốn? Hạnh phúc nào ta nghĩ là quan trọng nhất để đạt đến? Tương tự thế, có một niềm hạnh phúc có thể tồn tại trong một tuần, một tháng, hay hàng năm. Thế thì, ta thích thứ nào? Thứ nào quan trọng nhất?
Vào lúc này, dường như rằng tuổi thọ của ta là dài. Chúng ta mang tư tưởng vô thường trong tâm thức ảo giác của chúng ta và những hiện tượng quan trọng, chẳng hạn như đời sống, là được thấu hiểu một cách sai lầm như thường còn. Chúng ta tin rằng chúng ta sẽ sống trong một thời gian dài. Điều này xảy ra một cách tự nhiên. Ngày mà cái chết đến, sự sống này sẽ không còn nữa, hiện tướng biến đi; sự sống xảy ra và bây giờ không còn nữa. Cảm tưởng như là đời sống con người của chúng ta ngắn ngủi như một tia chớp. Nếu lằn chớp xảy ra bên ngoài khi trời tối, không có mặt trăng và trong môi trường dày đặc sương mù, tia chớp lóe lên soi sáng thân thể ta và mọi thứ chung quanh ta thật sống động. Đấy là hiện tướng bất ngờ trong một khoảnh khắc, và giây phút tiếp theo thì biến mất.
Sự chết giống như thế này đối với một chúng sanh bình thường, người chưa đạt đến trình độ của con đường nơi chúng ta chưa được giải thoát khỏi khổ đau của vòng chết và tái sanh. Cho đến khi ta đạt đến trình độ ấy, sự chết là chắc chắn và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Do thế, chúng ta phải xem hạnh phúc của những đời sống tương lai là quan trọng hơn hạnh phúc chỉ trong kiếp sống này. Cho đến khi chúng ta tự do khỏi vòng chết và tái sanh, chúng ta sẽ tiếp tục có nhiều kiếp sống. Phải bao lâu thì sẽ được giải thoát khỏi vòng lẩn quẩn này tùy thuộc vào có thể hiện thực con đường không sai lạc, đáng tin cậy, và đã được chứng minh là đúng đắn. Ngay cả con đường này không được chứng minh bởi chính ta, thì nó đã từng được chứng minh bởi những người khác, những người đã thẩm tra, thể nghiệm và hiện thực giải thoát khỏi vòng chết và tái sanh. Vì vậy, vì chúng ta mong ước hạnh phúc, chúng ta phải làm cho tất cả những đời sống tương lai sắp đến hạnh phúc, không phải vô nghĩa và đầy rẩy khổ não. Và rồi thì, ngay cả quan trọng hơn niềm hạnh phúc trong tương lai là hạnh phúc trường cửu, sự chấm dứt của khổ đau.
Đối với con người, có khổ não của tái sanh, tuổi già, bệnh tật cũng như sự chết; cũng có những rắc rối sanh khởi từ đối tượng không mong muốn, trong những thói quen lo lắng từ những đối tượng mong cầu và bất lực tìm kiếm những đối tượng khao khát. Ngay cả khi ta cuối cùng tìm ra những gì trông đợi, thì ta lại không thể tìm thấy hài lòng với đối tượng này. Đấy là những gì làm con người rối rắm và làm cho sinh ra đủ thứ rắc rối trong thế gian. Trái cây có thể trong xinh đẹp bên ngoài nhưng bên trong hư thối bởi sâu trùng - trong cùng cách ấy, đời sống của chúng ta có thể trông đáng yêu bên ngoài, mọi thứ có thể trông tốt lành, trong khi bên trong có thể là địa ngục. Đã nhiều lần khi ta đi đến biết rằng một người ta khao khát, khi ta đến gần người ấy, trong vài ngày, sau một vài giờ, có thể chỉ trong một phút, những gì ta tìm thấy con người bên ngoài hấp dẫn ấy mà bên trong người ấy không dễ thương cho lắm.
Tất cả những khổ não thật đau đớn, nhưng không phải là khổ đau duy nhất trong vòng luân hồi. Có loại khổ não thứ hai - vui thú tạm thời - đấy thật sự là khổ não. Tại sao? Bởi vì cảm giác này dường như vui sướng đối với tâm thức vọng tưởng của ta, nhưng khi chúng ta phân tích cảm giác với tuệ trí, chúng ta nhận ra rằng đấy chỉ là khổ đau. Những niềm vui tạm thời của luân hồi kể cả có một danh tiếng tốt, được ca ngợi, vui thú giác quan của con người và thức ăn, thức uống, hút sách, ăn, ngủ, nhận quà, giàu sang, v.v…
Rồi lại có một loại khổ đau thứ ba, đây là điều quan trọng nhất để nhận ra. Điều này sinh khởi từ năm uẩn của thân tâm ô nhiễm của chúng ta là ở trong bản chất của khổ não, hạt giống của năm uẩn ô nhiễm sản sinh bởi vọng tưởng và nghiệp chướng. Thân/tâm chúng ta là sản phẩm của một nguyên nhân không sạch. Chúng lớn lên từ những hạt giống nhiễm ô của những tư tưởng phiền não và đấy là tại sao nó ở trong bản chất của khổ não. Một tư tưởng phiền não chỉ có thể sản sinh ra một tư tưởng phiền não mà thôi. Tâm thức đầy sự chán chường và cô độc; tâm thức luôn cảm thấy không hài lòng, trống rỗng, sợ hãi bởi vì có quá nhiều dự tưởng và dính mắc với điều này hay điều nọ. Có quá nhiều lo lắng, sự bất lực trong việc đạt được những gì ta muốn và sợ hãi rằng ta sẽ không đạt được những gì ta muốn. Sau đó, một cách đặc biệt, có một sự khổ não xảy đến khi ta không có được những gì ta muốn. Cũng thế, có tất cả loại rắc rối thân thể, đủ thứ bệnh tật không thể chịu nổi. Có đủ thứ rắc rối của tuổi già, tất cả những thứ khó khăn của việc hiện hữu quá mong manh, dễ đổ vở.
Cho nên câu hỏi lớn để thẩm tra là, Tại sao không trải nghiệm đại an lạc thay vì khổ não? Vì điều này, chúng ta trước nhất phải tìm ra ai đã có thể làm điều này. Bằng việc biết ai đã tạo ra nguyên nhân của an lạc thay vì khổ não, chúng ta có thể học hỏi giải pháp ấy. Sau đó, ta có thể đi đến biết giải thoát là gì để đạt đến.
Rồi thì ta sẽ đi đến con đường không sai lạc, phương pháp thật sự chấm dứt nguyên nhân của khổ não, và qua con đường ấy ta có thể dừng lại việc sản xuất khổ đau. Điều này bao gồm việc chấm dứt khổ đau sinh khởi từ sự tương tục của năm uẩn ô nhiễm vần xoay hết kiếp này đến kiếp khác. Sự chấm dứt nổi khổ não phức hợp cùng khắp này là giải thoát thật sự. Nếu ta không trải nghiệm hai loại khổ não kia (trải nghiệm đau đớn và niềm vui ngắn ngủi) chúng ta không thể giải thoát được. Những thứ khổ não này có thể chấm dứt được một cách tạm thời cho đến khi ta chấm dứt vòng luân hồi một cách hoàn toàn qua việc chấm dứt sự tương tục của năm uẩn ô nhiễm.
Sự chấm dứt này (diệt đế) bảo đảm chúng ta khỏi khổ não của địa ngục, quỷ đói, và súc sanh. Chúng ta được giải thoát khổ não vĩnh viễn. Một niềm hạnh phúc hơn là sự chấm dứt của ngay cả những dấu vết tiêu cực vi tế sinh ra bởi khái niệm tồn tại cố hữu - sự tồn tại bản chất của cái "tôi", hay tự ngã. Ta đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn, tình trạng hoàn hảo của tâm thức, thể trạng của Giác Ngộ tròn vẹn, niềm hạnh phúc vô song, hoàn toàn an lạc; không có gì hơn để đạt nữa. Thành tựu này là quan trọng nhất bởi vì nó lợi lạc tất cả mọi loài chúng sanh bằng việc giải thoát họ khổ não và đưa họ đến Giác Ngộ. Với tất cả những điều này trong tâm, chúng ta phải quyết định ta muốn hướng dẫn đời sống của ta như thế nào.
Giác Ngộ - sự chấm dứt hoàn toàn khổ não và khả năng để hướng dẫn mọi loài chúng sanh đến thể trạng ấy - là lý do quan trọng nhất của tại sao mf chúng ta không nên phí phạm đời sống có thể mang đến lợi lạc nhất không chỉ cho cá nhân ta mà cũng cho tất cả chúng sanh. Để bắt đầu với tiến trình Giác Ngộ, chúng ta phải khám phá bản chất của tâm thức chúng ta. Tâm thức chúng ta giống như sự phản chiếu trong một tấm gương sạch. Tâm thức, giống như một chiếc gương, không có hinh thức nào của chướng ngại. Những đối tượng hiện hữu và tâm nhận thức chúng, nhưng tâm thức tự nó không hình tướng và màu sắc. Nó không chấm dứt sự tồn tại vào thời điểm của cái chết ngay cả khi nó mất phương tiện, là thân thể. Nó tồn tại miên viễn. Để thấu hiểu sự tái sanh, chúng ta cần có một sự thấu hiểu về tâm thức.
Tâm thức không có sự tồn tại một cách độc lập, không có nguyên nhân và điều kiện. Tất cả mọi vọng tưởng - tự hào, ganh tỵ, vô minh, v.v… là đang thay đổi không ngừng qua nguyên nhân và điều kiện. Vì tâm thức là hiện tượng nhân quả cho nên nó vô thường. Nó tồn tại dưới sự khống chế của nguyên nhân và điều kiện. Nó thay đổi qua các nguyên nhân và điều kiện. Thí dụ, sân hận sinh khởi qua các nguyên nhân và điều kiện. Thêm nữa, có dấu vết tồn tại trong tâm thức bởi sân hận từ quá khứ. Khi ta không điều khiển được tâm thức, hay bảo vệ nó với sự thiền tập hay tâm lý học thích đáng, sân hận sanh khởi do bởi những dấu vết để lại bởi sân hận quá khứ và những điều kiện bên ngoài của những đối tượng chạm trán không mong muốn. Tâm thức chịu trách nhiệm cho vấn đề ta chạm trán với đối tượng không mong muốn như thế nào; chính là tâm thức đã cho ra sự diễn dịch tiêu cực đối với một đối tượng, với lý do tiêu cực. Chúng ta tin những lý do này và sự gán ghép một nhãn hiệu không vui đến đối tượng; sân hận sinh khởi. Vì vậy, tâm thức ta cũng tạo ra đối tượng của sân hận. Thế nên, kẻ thù của ta và những gì chúng ta trả thù thật sự là sản phẩm từ tâm thức của chính ta.
Nguyên nhân chính cho sân hận là dấu vết tiêu cực từ nổi sân hận quá khứ tồn tại trong tâm thức chúng ta. Sân hận sinh khởi nếu chúng ta không có sự kiên nhẫn nào cho đối tượng hay kẻ thù. Chỉ có một cách suy nghĩ khác về một con người, không giống như con người đã dính mắc với ta và giống như ta. Kiên nhẫn là điều làm cho chúng ta mệnh danh cho một kinh nghiệm tiêu cực một cách tích cực. Kiên nhẫn sản sinh một tâm thức tích cực, hòa bình và lành mạnh.
Một con người bất mãn đầy dẫy thù oán hay sân hận trở thành tích cực nếu người ấy phát sinh kiên nhẫn hay nhẫn nhục. Nhẫn nhục cống hiến cho ta những thuận lợi và lợi lạc lớn nhất trong cuộc sống, sự phát triển tâm linh hoàn hảo nhất. Nó chuyển hóa tâm thức chúng ta, dạy cho chúng ta thậm chí nhẫn nhục hơn làm dịu sân hận. Chúng ta chấm dứt việc có kẻ thù trong kiếp sống này và tất cả những kiếp sống tương lai.
Mục tiêu này trong cuộc sống là không làm tổn hại người khác, mà để làm lợi lạc cho người khác, làm cho đời sống của họ hữu dụng, giải thoát họ khỏi rắc rối, phát triển lòng từ bi và tuệ trí và tạo hạnh phúc lớn hơn cho người khác. Bằng việc thấu hiểu khổ não và tâm thức chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy động cơ để đạt đến những mục tiêu này và làm trọn vẹn ý nghĩa của cuộc sống. Hành động quan trọng nhất là để sống 24 giờ trong ngày với thái độ ấy. Từ bi và tuệ trí làm đầy trái tim với hoan hỉ.
Lama Thupten Zopa Rinpoche