Thư Viện Hoa Sen

Bi mẫn và bất bạo động

SỐNG TỐT ĐẸP HƠN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Sưu tập: Renuka Singh
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

BI MẪN VÀ BẤT BẠO ĐỘNG

Tôi không có ý kiến gì về vấn đề giải quyết những khủng hoảng của địa cầu, vì thể tốt hơn là nói về một trình độ thực tiển. Ngày nay, thêm vào những thảm họa thiên nhiên, có nhiều vấn nạn do con người làm ra chẳng hạn như ở Bosnia. Trong tin tức hằng ngày và trên truyền hình, chúng ta có thể thấy những con người vô tội này khổ sở như thế nào. Trong những phần khác của thế giới cũng vậy, có vô số những sự giết chóc, ám sát, ngay cả những trường hợp trẻ con giết trẻ con. Đôi khi người ta hỏi tôi, "ngài có chỉ bảo hay đề xuất gì không?" tôi thường nói với họ tôi không có ý kiến gì. Những rắc rối này, tôi tin rằng, là kết quả của những phóng túng từ lâu đời. Những sự kiện này không phải được mang đến một cách bất ngờ. Chúng có nguyên nhânduyên cớ. Một nguyên nhânduyên cớ tạo nên một nguyên nhân khác, một duyên cớ khác và tiếp tục cho đến mọi sự cuối cùng vượt khỏi tầm tay. Hầu hết những sự kiện này là kết quả của những cảm xúc con người vượt khỏi sự kiểm soát. Khi những thảm họa xảy ra, thật khó để đối phó với chúng. Cảm xúc con người phải được phối hợp với sự thông minh thích đáng, có nghĩa là sự thông minh với tình cảm con người. Người ta không chắc liệu thông minh chỉ là tàn phá, hay tích cựcxây dựng. Sự thông minh với tình cảm, trái lại có thể phát sinh những kết quả kỳ diệu. Sự thông minh thường chấm dứt hoạt động khi cảm xúc vượt khỏi sự kiểm soát. Ngày nay nhiều hoàn cảnh đã đến mức độ ấy. Nếu chúng ta hỏi những người nào đấy, ngay cả những lãnh tụ, "Mục tiêu giết chóc nhau của quý vị là gì?" họ có thể không có một câu trả lời rõ ràng. Bằng việc giết chóc, họ đơn giản biểu lộ những cảm xúc tiêu cựcmù quáng của họ, gây ra những khổ đau nặng nề trên những người khác. Vì vậy điều gì chúng ta học được từ những sự kiện này?

Trong tương lai, nếu chúng ta muốn một loài người hạnh phúc hơn, một thế giới hạnh phúc, chúng ta phải đào tận gốc rể của rắc rối. Dĩ nhiên, kinh tế và chính trị cũng là nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân chủ yếu nằm trong tâm con người. Mỗi hành động của con người - lời nói hay hành động - ngay cả một hành động nhỏ nhiệm, có một động cơ nào đó. Một cách căn bản mọi thứ tùy thuộc trên động cơ của chúng ta. Động cơ thích đáng hay sự phát triển thích đáng một động cơ là một nhân tố quan trọng.

Do vậy, nếu óc thông minh đồng hành với tình cảm và từ bi của con người - những gì tôi gọi là cảm giác con người, thế thì nó rất lợi lạc. Hệ thống giáo dục hiện đại quá chú ý đến kiến thức và não bộ và không quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tâm linh. Người ta để nó cho những tổ chức tôn giáo và những gì khác chăm sóc nó. Tôi không nghĩ như vậy là đầy đủ. Mặc dù tất cả những tôn giáo trên thế giới có khả năng để thực hiện một sự cống hiến phi thường để phát triển một trái tim thánh thiện, ngay cả điều ấy cũng không đầy đủ. Hơn thế nữa, nhiều người cảm thấy rằng tôn giáo là điều gì đấy như một kiễu mẫu lỗi thời hay cũ kỷ và những con người tôn giáo chính họ đồng thời cũng hơi quá bảo thủ. Họ tiếp tục hơi cô lập với thế giới thật sự và những rắc rối hàng ngày. Đôi khi nhiều truyền thống tôn giáo, kể cả truyền thống Tây Tạng, nhấn mạnh quá nhiều trên nghi thức hay lễ lạc mà không có một sự thấu hiểu thích đáng về ý nghĩa của nó. Do thế, sự cống hiến và sự ảnh hưởng của tôn giáo cũng bị giới hạn. Thật không đủ khi chỉ để cộng đồng tôn giáo chịu trách nhiệm về những vấn đề đạo đức. Các vấn nạn thường quá lớn , và nhóm người quan tâm đến vấn đề là quá nhỏ và quá yếu.

Lấy trường hợp của Hoa Kỳ và một số quốc gia khác. Chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng rằng họ đang đối diện một loại khủng hoảng đạo đức nào đấy. Họ hoặc là gia tăng lực lượng cảnh sát hay tìm kiếm một giải pháp khác cho những rắc rối của họ. Ngoại trừ có một sự thay đổi phát triển tích cực nào đó xảy ra trong trái tim mỗi cá nhân, hay ngoại trừ có một sự chuyển biến nào đó ở đấy, thật khó khăn để kiểm soát những năng lực ngoại tại. Do thế mỗi chúng ta, như một bộ phận của cộng đồng nhân loại, có trách nhiệm để làm việc gì đó cho cộng đồng nhân loại vì nếu tương lai nhân loại tốt đẹp, sáng lạng, và hòa bình, tất cả chúng ta sẽ hưởng lợi ích. Nếu nhân loại suy thoái đạo đức, nhủng lạm, bóc lột, bắt nạt và lừa dối tất cả sẽ xảy ra; như một kết quả của điều này, xã hội sẽ khổ đau.

Mặc dù mỗi quốc gialuật lệ và những điều chỉnh, nhưng những người lém lĩnh luôn luôn tìm ra các khe hở chung quanh chúng. Nếu các giá trị đạo đức, và tiêu chuẩn thái độ xã hội trở nên tiêu cực, mỗi chúng ta sẽ đau khổ. Do thế, khuynh hướng của mỗi cá nhân liên hệ rất nhiều đến các quan tâm của xã hội. Có một sự tương quan rõ ràng.

Chúng ta không nên nghĩ rằng vấn đề là khổng lồ và mỗi cá nhân là quá nhỏ. ''Nổ lực của tôi sẽ không bao giờ có tác động trên vấn đề mênh mang như vậy" không phải là cách suy nghĩ như vậy. Vấn nạn có thể lớn, nhưng nếu mỗi cá nhân bắt tay vào, rồi thì sẽ có một cơ hội thật sự. Nếu mỗi cá nhân tiếp tục cô lập, trung lậpdửng dưng, và mong đợi những sự thay đổi ấn tượng từ những người khác hay từ bầu trời hay từ thiền quán, điều ấy là buồn cười. Dĩ nhiên, cầu nguyện có sự gia hộ của nó và một sự giới hạn. Nhưng nổ lực chính phải đến từ chính chúng ta. Đức PhậtThượng Đế chắc chắn có một loại ảnh hưởng nào đó, nhưng một cách căn bản mỗi cá nhân phải thực hiện một nổ lực với sự tin cậy hoàn toàn. Cho dù chúng ta đạt được những kết quả toại nguyện hay không, nhưng thật hợp lýđáng giá để thực hiện một nổ lực.

Tôi đã sống hầu hết thời gian của cuộc đời tôi bên ngoài quê hương tôi như một người tị nạn. Nhiều người Tây Tạng tin tưởng tôi; họ có những mong đợi lớn lao và phần vụ hay trách nhiệm của tôi là rất lớn. Đã đang có nhiều khó khăn. Qua thời điểm này, mặc dù nhiều khó khăn và rắc rối, dường như đối với tôi khi tôi so sánh những trải nghiệm của tôi với những người khác, tôi là một người khá hạnh phúc.

Dĩ nhiên, khi có những tin tức xấu hay thảm trạng gì đấy xảy ra, tôi trải nghiệm băn khoăn, buồn đau, và thất vọng, nhưng những cảm giác ấy hiện hữu không lâu. Mặc dù những hoàn cảnh như vậy, tâm tôi tương đối vững vàngan bình. Điều này giúp tôi rất nhiều và cho phép tuệ trí và sự thông minh của tôi thể hiện chức năng bình thường mà không bị quấy rầy quá lắm và vì thế tôi ngủ không có sự khó khăn nào. Và vì tâm tôi tương đối tĩnh lặng, sự tiêu hóasức khỏe của tôi là tốt đẹp. Như một kết quả, tôi được nhiều lợi ích. Nhiều người Tây Tạng, những người trải nghiệm sự tra tấn kinh khiếp và những khó khăn khác và mất mát gia đình họ có thể duy trì tinh thần ổn định và tĩnh lặng của họ. Trong bốn năm qua, thỉnh thoảng tôi có những cuộc gặp gở với các nhà khoa học, tâm lý học, thần kinh học và vật lý học. Khi chúng tôi thảo luận về những rắc rối tinh thầncố gắng để thấu hiểu cùng giải thích chúng, một số nhà khoa học này thật sự ngạc nhiên. Một số người Tây Tạng đã bị đau đớn kinh khiếp nhưng thể trạng tinh thần của họ duy trì tĩnh lặng và ổn định không ngờ.

Sức mạnh nội tại này là gì mà cho phép duy trì tĩnh lặng trong bộ mặt của những khó khăn? Không phải kết quả của những nhân tố ngoại tại, thuốc uống, thuốc chích, ma túy, hay rượu. Cũng không phải loại gia hộ ngoại tại nào đó. Sức mạnh nội tại xuất phát từ sự rèn luyện tâm đúng đắn.

Bất chấp chúng ta là người có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, qua sự rèn luyện tâm, chúng ta có thể xây dựng thái độ của chúng ta. Như một kết quả, chúng ta trở nên tĩnh lặng hơn và hòa bình hơn, và có thể đương đầu với những vấn đề khó khăn, cấp bách và ngay cả những vấn đề phức tạp nhất một cách tốt đẹp hơn. Kinh nghiệmthảo luận quá khứ với những người từng trải, cũng cống hiến đến sự đối phó nhuần nhuyển các vấn nạn. Thế rồi không nghi ngờ gì, rằng những vấn nạn ấy tại gia đình, cộng đồng và ngay cả trong những trình độ quốc tế có thể được giảm thiểu nếu chúng là do con người tạo nên.

Hệ thống giáo dụcđời sống gia đình là hai lãnh vực rất quan trọng. Trong lãnh vực giáo dục, chúng ta phải săn sóc không chỉ não bộ, nhưng cũng là sự phát triển tâm linh. Tôi nói ''sự phát triển tâm linh" không ở trong ý nghĩa tôn giáo mà chỉ đơn giản trong ý nghĩa của việc có một trái tim tốt lànhtừ bi. Nếu chúng ta có một trái tim từ bi, tự động nó đem đến một sức mạnh nội tại và cho phép ít sợ hãi hơn, ít nghi ngờ hơn. Kết quả, chúng ta trở nên hạnh phúc hơn và cởi mở hơn, vì vậy tạo thêm nhiều bạn bè hơn trong xã hội. Khi chúng ta quan tâm đến giáo dục từ quan điểm của giáo viên, rất rõ ràng rằng các giáo viên phải gây ấn tượng lên tâm thức học trò bằng giá trịảnh hưởng của tình cảm con người qua sự hướng dẫn và hành động của họ.

Trái lại, thật quan trong để giới hạn kích cở của gia đình qua kiểm soát sinh sản. Thật thiết yếu để có ít con cái hơn, chỉ có số lượng mà chúng ta có thể chăm sóc một cách đúng mức. Ngoài vấn đề giáo dục, chúng ta phải làm cho con trẻ thấm nhuần với giá trị của đời sống và tình cảm con người.

Truyền thông là một lãnh vực khác nữa. Trong thời kỳ hiện đại, truyền thông thường có nghĩa là rắc rối, nhưng thông thường nó rất hữu dụng. Đặc biệt, trong những quốc gia dân chủ, tự do báo chí là cực kỳ lợi ích. Tự do báo chí cho phép họ đưa ra những vụ bê bối và hạn chế nhủng lạm. Thật quan trọng để tiến tới một quan điểm cân bằng trong truyền thông - để miêu tả sinh động cả những khía cạnh tích cựctiêu cực. Những báo cáo của báo chí rất thường tập trung trên những thứ tiêu cực - ám sát, hãm hiếp, trộm cướp, v.v... - và không đem đến đầy đủ tin tức những vấn đề tích cực. Hiếm có bất cứ tin tức nào về vấn đề có bao nhiêu trẻ em hay bao nhiêu người bệnh tiếp nhận lợi lạc của lòng tử tế và tình cảm con người. Quá mức những thứ tiêu cực hướng dư luận công cộng tin tưởng rằng bản chất con người căn bảntiêu cực, và ý tưởng ấy căn bản đưa đến một bộ mặt thất vọng rộng lớn hơn. Chúng ta cũng đánh mất sự tự tin. Điều này là cả thảm họa và hiểm nguy. Do vậy, truyền thông đóng một vai trò quan trọng, và những con người tôn giáotrách nhiệm quan trọng của họ trong phạm vi này. Từ mỗi khía cạnh, và thông qua các nghề nghiệp khác nhau, chúng ta phải thúc đẩy giá trị của tâm từ bi. Mặc dù không dễ dàng, nhưng đấy là cách duy nhất đối với một nhân loại tốt đẹp hơn và một tương lai hạnh phúc hơn.

Bây giờ tôi sẽ giải thích điều gì đấy về phương pháp thực tập của Đạo Phật. Đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa hiệp trong các tôn giáo khác nhau. Mặc cho những triết lý khác biệt, tất cả các tôn giáo quan trọng có cùng thông điệp, và cùng sự chỉ bảo, cho con người. Có những người cực kỳ phi thường theo những tôn giáo khác nhau đã chuyển hóa thể trạng nội của họ một cách hoàn toàn. Như một kết quả họ thật sự từ bithông tuệ. Họ cho thấy rằng tất cả những tôn giáo khác nhau này có khả năng để sản sinh một sự chuyển hóa nội tại trong tâm con người. Do vậy, cho dù chúng ta thích hay không, những tôn giáo quan trọng này luôn luôn tồn tại. Trong quá khứ, nhiều người đã lợi lạc từ những truyền thống này, và cũng cùng gìn giữ chân lý như vậy cho hiện tại và tương lai. Do thế, thật cực kỳ quan trọng để có một sự hòa hiệp chân thành trong những truyền thống tôn giáo. Điều ấy là có thể vì có một nền tảng chung. Và một khi chúng ta biết hơn về những tôn giáo khác, chúng ta tự động phát triển sự tôn trọng hơn và cảm kích hơn về các tôn giáo ấy. Sự thấu hiểu hổ tương đưa đến sự tôn trọng tương hổ. Theo như sự quan tâm của Đạo Phật, nó liên hệ đến việc rèn luyện tâm thức.

Đạo Phật nhấn mạnh việc rèn luyệnchuyển hóa tâm bởi vì tất cả những sự kiện là kết quả từ những hành động của chúng ta. Chúng ta gọi là nghiệp. Tương lại chúng ta lệ thuộc trên những hành động hôm nay. Đấy là luật nghiệp báo, hay luật nhân quả. Về lời nói, tinh thần và hành động thân thể, hành động tinh thần là quan trọng nhất. Động cơ tinh thần là nhân tố chìa khóa.

Cùng lời nói và hành động có thể tại một thời điểm là tích cực và lúc khác là tiêu cực do bởi những động cơ tinh thần khác biệt. Trong vài trường hợp, với một động cơ nào đó, các hành động thông thường được xem là tiêu cực có thể thật sự trở thành tích cực. Hành động tinh thần do thế là vượt trội, và là nhân tố quyết định, và tất cả những sự kiện cuối cùng lệ thuộc trên tâm của chính chúng ta. Mục tiêu cứu kính là giải thoát hay moksha. Giải thoát là thể trạng tinh thần nơi mà tất những cảm xúc phiền não tinh thần thô là hoàn toàn được tiêu trừ. Moksha hay giải thoát, niết bàn là một phẩm chất tinh thần.

cuối cùng chúng ta có Quả Phật. Một khi tâm và sự tỉnh thức được phát triển hoàn toàn và được đánh thức mà không có bất cứ chướng ngại nào, thể trạng của tâm Phật được đạt đến: đấy là điều chúng ta gọi là Giác Ngộ. Đấy cũng là một phẩm chất tinh thần. Đối tượng được chuyển hóa là tâm, kẻ chuyển hóa cũng là tâm, và kết quả cũng là tâm. Một số người giải thích Đạo Phật là một môn khoa học về tâm. Dường như thích đáng để giải thích Đạo Phật như vậy.

Có nhiều sự giải thích trong Đạo Phật về bản chất của tâm ở trình độ quy ước và cứu kính, và một sự phân biệt được thực hiện giữa những loại khác biệt của tư tưởng tinh thần. Mật Thừa làm một sự phân biệt rất chính xác giữa những trình độ khác nhau của tâm: thô, vi tế hơn, và vi tế thậm thâm nhất. Vì phương pháp để chuyển hóa tâm trong tự nó là bản chất của tâm, thiền quán trở nên một bộ phận rất quan trọng của thực hành Phật Pháp.

Chúng ta không thể chuyển hóa tâm mà không có thiền quán. Có hai loại thiền quán - phân tích (quán) và định chỉ (chỉ). Vũ khí thật sự chống lại tiêu cực là thiền phân tích. Qua phân tích chúng ta có thể phát triển một sức thuyết phục mới hay sự tỉnh thức. Khi sự tỉnh thức này tăng trưởng, những năng lực đối kháng bị giảm thiểu. Thiền phân tích tiêu diệt tiêu cực. Vipassana, quán hay tuệ giác nội quán, là một loại thiền phân tích đặc thù. Nhằm để làm ổn định thiền phân tích ấy, một năng lực, thiền định chỉ là cần yếu. Tâm chúng ta thường rất phân tán nên khi chúng ta muốn phân tích điều gì đấy, chúng ta dùng chỉ một phần năng lượng của tâm chúng ta. Nhiều năng lượng bị lãng phí. Qua shamatha, chỉ hay định chỉ, chúng ta chuyển dụng tất cả năng lượng. Chúng ta hợp nhất tất cả năng lượng như năng lượng thủy điện. Khi nước bị rải rác, nó không thể chuyển động một cách mãnh liệt; khi cùng khối lượng của nước được tập trung, năng lượng hay sức mạnh của nó gia tăng. Tâm chúng ta bị phân tán, và tuy thế bởi tính tự nhiên nó có khả năng tri nhận. Nhưng gì nó bị phân tán quá, ảnh hưởng của nó rất giới hạn. Do thế, nhất thiết phải tập trung năng lượng của tâm qua thiền chỉ, shamatha.

Thiền phân tích tự nó là hai loại. Một giống như từ bi hay niềm tin. Tâm tự nó được chuyển hóa trong bản chất của bi mẫn hay karuna. Thiền phân tích khác là như sự thấu hiểu về tính vô thườngtính không như đối tượng được thực chứng. Có nhiều loại thiền quán, nhưng chỉ có hai khía cạnh quan trọng liên hệ trong sự thực hành của Đạo Phật.

Chúng ta cũng cần giữ trong tâm khía cạnh của động cơ. Trong Bồ Tát thừa, nhân tố chìa khóa thúc đẩy tất cả hành động, ngay cả những hành động thế tục, là động cơ để đạt được con đường đưa đến Quả Phật. Để được thế, nhân tố chìa khóa là tâm giác ngộ ,tâm bồ đề hay bodhicitta, tâm của lòng vị tha vô hạn. (Lòng vị tha ở đây liên hệ đến nguyện ước đạt đến Quả Phật vì lợi ích của tất cả chúng sinh). Cho nên với động cơ này có những loại thiền tập khác biệt thật sự đưa đến Quả Phật.

Thật không thể lao vào những bài tập thiền cao cấp, là những thứ rất khó khăn để đạt được hay thực thi. Như Thánh Thiên (Aryadeva) tuyên bố trong tác phẩm Bốn Trăm Kệ, mục tiêu của chúng ta, Quả Phật, có nghĩa hoàn tất việc tiêu trừ tất cả những nhiễm ô tiêu cực của tâm kể cả những dấu vết, chủng tử hay xu hướng được gọi "chướng ngại" đến Quả Phật. Sự thực hành phải được tiến hành từng bước một. Nhằm để tiêu trừ những dấu vết này của vọng tưởng, trước nhất chúng ta phải loại trừ tất cả những nhiễm ô tinh thần. Như bước đầu tiên, chúng ta cần shila, giới, nguyên tắc đạo đức dẫn đạo. Cho dù là một tu sĩ hay cư sĩ, không có gì khác biệt trong sự quan tâm này, nguyên tắc đầu tiên là giới. Việc chính yếu là để từ bỏ mười điều bất thiện: những thứ thuộc về thân - giết hại, trộm cướp và tà dâm; những thứ thuộc về miệng - nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời thô ác và nói lời vô ích; và những thứ thuộc về ý - tham lam, xu hướng tổn hạiquan điểm sai lạc (tham, sân, si).

Những quan điểm sai lạc có hai sự diễn dịch. Một là chủ nghĩa hư vô, không chấp sự tồn tại của bất cứ điều gì, và thứ hai là thổi phồng cực đoan chấp nhận mọi vật như có một sự tồn tại cố hữu. Nhằm để thực tập đạo đức luân lýtự giác, nhân tố chìa khóa là chánh niệm liên tục trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Khi chúng ta sắp nói về ai đấy, chúng ta nên liên tục kiểm soát xem chúng ta có sắp nói dối hay không. Và trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta phải liên tục kiểm soát những hành vi của thân, miệng và tinh thần của chúng ta.

Đôi khi, trong một trường hợp đặc thù, chúng ta có thể có một sự lừa dối nhẹ nhàng nào đấy. Nhằm để cứu mạng sống của nhiều người, chẳng hạn thế, có thể được phép nói dối nhẹ nhàng. Ngoại trừ trường hợp như vậy, chúng ta phải thật chân thậtlịch sự. Vào những lúc, chúng ta quá trung thực, và điều này tạo nên sự nghi ngờ. Nói năng chân thật, cởi mở và tốt đẹp luôn luôn mang theo một sức nặng nào đấy. Chúng ta phải nên tử tế và tránh làm tổn hại người khác. Trong phạm vi này, ăn chay là cực kỳ thánh thiện. Tự tôi đã cố gắng để trở thành một người ăn chay trong những năm đầu thập niên sáu mươi và duy trì việc ấy cẩn mật trong hai năm. Tuy nhiên, vì một số rắc rối thân thể nên đấy là tại sao tôi không ăn chay nữa. Ngày nay, tôi ăn chay trong những ngày thay đổi, vì thế, một cách hiệu quả, trong sáu tháng một năm tôi ăn chay. Mới đây, trong khi đi từ Dharamsala đến phi trường Jammu, tôi để ý thấy nhiều con gà trong những hộp nhỏ. Thật là một hình ảnh khủng khiếp. Những người sống ven biển sống còn nhờ cá - hàng nghìn con cá bị giết một ngày. Nhằm để thỏa mãn bao tử chúng ta, nhiều sự sống bị cướp đi. Chúng ta phải thúc đẩy việc ăn chay. Điều ấy thật là quan trọng. Tôi thật sự cảm thấy rằng dân số loài người nên được giảm thiểu. Chúng ta phải bảo vệ sự sống của những chủng loại khác. Những con số nhỏ hơn báo hiệu những con người thân thiện hơn và hạnh phúc hơn và vì điều làm ra xã hội bệnh hoạnnghèo đói, do vậy kinh tế thế giới là một nhân tố quyết định.

Tà dâm là một trong những nhân tố chịu trách nhiệm cho việc tàn phá không khí hòa bình của gia đìnhnhân loại phổ quát. Kỷ luật tự giác trong tình dục được đòi hỏi một cách rộng rãi. Đặc biệt, bây giờ, khi tất cả thế giới chúng ta có một cơn dịch kinh khủng được biết như AIDS.

Nếu đạo đức tự giác được thực hành, phẩm chất của đời sống trở nên tốt đẹp hơn và chúng ta là những người hạnh phúc hơn được người khác tôn trọng. Những sự thực hành này không chỉ đưa đến hạnh phúc căn bản, nhưng ngay trong tức thời lại tạo nên một không khí rất tích cực trong gia đìnhcộng đồng; và những cá nhân cũng thế, hạnh phúc hơn. Trên bề mặt, đời sống của một vị ni hay tăng dường như không hấp dẫn. Đời sống của một vị cưhiện hữu hấp dẫnphong phú hơn. Đời sống của chúng ta dường như ít màu sắc hơn, nhưng về lâu về dài tôi nghĩ thể trạng tinh thần của những vị ni và tăng là cân bằng hơn.

Những người không nguyên tắc có một đời sống sôi động hơn - đôi khi rất vui sướng, lúc khác lại rất chán nãn (giống như một con yo-yo). Điều này không tốt cho thân thể. Một thể trạng tĩnh lặng và điềm đạm là đáng mong ước hơn. Bằng việc thực tập tự kiềm chế, chúng ta cũng đóng góp vô hạn đối với việc kiểm soát sinh sản không tổn hại. Đây là đạo đức hạnh kiểm trong căn bản hàng ngày.

Kẻ thù thật sự là những cảm xúc tiêu cực của con người chẳng hạn như thù hận, ganh ghét, và kiêu căng - kẻ thật sự tàn phá tương lai và hạnh phúc của chúng ta. Thật khó khăn để chiến đấu với kẻ thù này mà không sử dụng biện pháp phòng thủ thích hợp.

Kỷ luật tự giác, mặc dù khó khăn, và không luôn luôn dễ dàng trong khi chiến đấu với những cảm xúc phiền não, nên là một biện pháp phòng thủ. Tối thiểu chúng ta sẽ có thể ngăn ngừa sự khởi đầu bị hướng dẫn bởi những cảm xúc phiền não. Đó là giới, shila, hay đạo đức luân lý. Một khi chúng ta phát triển điều này bằng việc tập quán hóa chính chúng ta với nó, cùng với chính niệmý thức, cuối cùng khuôn mẫu ấy và lối sống ấy sẽ trở thành một bộ phận của đời sống chúng ta.

Giới là căn bản mà trên ấy chúng ta dấn thân trực tiếp với những cảm xúc phiền não. Khi chúng ta có một thân thể cường tráng, tay chúng ta mạnh mẽ và vững vàng chúng ta có thể sử dụng cây búa một cách hiệu quả để đốn cây. Giới như năng lượng ấy và thân thể khỏe mạnh. Với cánh tay mạnh mẽ và vững vàng, chúng ta có thể đánh trúng mục tiêu liên tục ở cùng một vị trí. Định, samadhi, như cánh tay ấy. Và tuệ trí như cây búa thật sự đốn cây.

Thế thì quán - hay vipassana là gì? Có nhiều loại vipassana - thiền quán về sự chết, vô thường và nhiều loại thiền tập liên hệ khác. Theo Bồ Tát Thừa, thiền quán vipassana là tuệ trí sinh khởi từ thiền phân tích mà việc ấy là nhận rathiền tập trên bản chất cứu kính của tự thân, của người khác và tất cả mọi hiện tượng. Đấy là tánh không, shunya.

Nhằm để thực chứng tính không, chúng ta trước nhất phải lưu tâm đến những khác biệt giữa hiện tướngthực tại. Vấn đề chính ở đây là những mâu thuẩn, những sự vật xuất hiện trong một cách trong khi thực tại có thể hoàn toàn khác biệt. Khi chúng ta nói về tánh không - bản chất cứu kính mà chúng ta gọi là không, hư vô - nó là sự vắng mặt của sự tồn tại cố hữu. Nhưng đối với những giác quan của chúng ta, và đối với não bộ , mọi thứ xuất hiện giống như chúng tồn tại bởi chính chúng - tồn tại một cách cố hữu. Nếu mọi vật tồn tại thật sự như chúng xuất hiện, thế thì chúng phải rõ ràng hơn qua thiền phân tích. Nhưng nếu chúng ta khảo sát, chúng ta không thể tìm thấy chúng. Có một sự khác biệt giữa hiện tướngthực tại. Nhằm để làm điều rõ ràng, văn học Phật Giáo nói về hai chân lý, nhị đế: chân lý quy ước (tục đế), và chân lý cứu kính (chân đế).

Khả năng của bản chất cứu kính được làm rõ ràng khi chúng ta nghiên cứu hai chân lý. Việc thực chứng chân lý cứu kính hay bản chất cứu kính của tất cả mọi hiện tượng trực tiếp ảnh hưởng đến những cảm xúc phiền não, bởi vì một cách tổng quát tất cả mọi cảm xúc phiền não căn cứ trên cấu trúc rằng mọi vật tồn tại một cách độc lập. Một khái niệm như vậy hoạt động như căn bản cho tất cả mọi cảm xúc phiền não. Đấy là trình độ thứ hai - sự giao tranh trực tiếp, chiến đấu và kiểm soát kẻ thù nội tại là những cảm xúc phiền não.

Khi chúng ta đạt được chiến thắng đối với những cảm xúc này, đấy là giai tầng giải thoát, moksha hay niết bàn. Một khi chúng ta chiến thắng trong hành động công kích này, vẫn không có nghĩa là mọi thứ hoàn toàn ở dưới sự kiểm soát. Một vài kẻ bắn tỉa có thể vẫn còn tồn tại. Do thế, nhằm để loại trừ tất cả những dấu vết tiềm tàng của những cảm xúc phiền não, chúng ta đòi hỏi rất nhiều nổ lực. Tại giai tầng này, được động viên bởi tâm bồ đề, chúng ta dấn thân trong sáu hay mười ba la mật, hay những toàn thiện, và xa hơn thúc đẩy việc thực chứng tánh không, shunyata. Đây là sự thực hành của Bồ Tát.

Bây giờ, rõ ràng rằng sự thực tập phải được thực hành từng bước một. Ở đây, chúng ta cần kiên nhẫn hơn. Khi chúng ta giải thích Quả Phật hay giải thoát, đôi khi người ta cảm thấy rất hứng thú. Và khi chúng ta chi tiết hóa điều này nhằm để đạt đến mục tiêu ấy, chúng ta phải đi từng bước một, người ta đôi khi đánh mất kiên nhẫn. Việc ấy là không tích cực. Tôi nghĩ trong vài trường hợp, những người Tây Tạng chúng tôi thiếu nghiêm túc. Chúng tôi biết Đạo Phật rất tốt, nhưng trong dạng thức của thực hành, chúng tôi đôi khi lười biếng. Một số Phật tử mới của chúng tôi, đặc biệt từ phương Tây, là rất nghiêm túc - đôi khi quá nghiêm túc. Sau một vài năm, họ đánh mất say mê trong sự thực tập một cách hoàn toàn! Nghiêm túc là tốt, nhưng chỉ nếu được đồng hành với nhẫn nại. Không có nhẫn nại nó có khuynh hướng đưa đến thảm họa.

Việc tẩy sạch tất cả những dấu vết cảm xúc phiền não đúng hơn là khó khăn. Đây là chỗ mà tantra, đặc biệt là Đại Tantra Yoga Tối Thượng, liên hệ. Nhưng điều ấy hoàn toàn không dễ dàng, như một phẩm chất đặc biệt đòi hỏi tại trình độ ấy.

Cho dù tin tưởng hay không, trước tiên chúng ta là những con người. Và như những con người, chúng ta có khả năng kỳ diệu để biết những hậu quả tích cựctiêu cực về lâu về dài cũng như ngay trước mắt. Về phương diện đạo đức, chúng tatrách nhiệm lớn lao trong việc chăm nom không chỉ đồng loại con người chúng ta mà cả những chủng loại động vật khác, khác hơn loài người, cũng như môi trường của chúng ta. Do vậy, chúng ta phải cố gắng để hướng đạo một cuộc sống con người tốt đẹp, tương ứng, xứng đáng, và là những con người với trái tim nồng ấm, nhiệt tình. Điều này tự động sẽ mang đến một niềm hạnh phúc hơn cho cuộc sống con người chúng ta và đến gia đìnhcộng đồng chúng ta. Nó tự động làm lợi lạc cho tự thân cũng như cho những người khác.

Những người trong chúng ta cho mình là Phật tử phải thực hành Phật Pháp một cách chân thành và không chỉ toại nguyện với trình độ tri thức. Hãy bao hàm nó trong đời sống hàng ngày với nổ lực liên tục; thời gian là một nhân tố rất quan trọng và chính yếu. Nếu chúng ta dự liệu những gì lớn lao vào lúc khởi đầu, sự thay đổi tâm linh to tát trong tâm thức trong một thời điểm ngắn hạn, đấy không phải là một dấu hiệu lành mạnh. Chúng ta phải tính đến thời gian vô số kiếp. Nó thật sự sẽ cho chúng ta sức mạnh nội tại. Kinh điển của chúng ta nói rằng, trong ba năm chúng tathể đạt được Phật Quả. Tôi nghĩ điều này không thực tiển. Đôi khi hơi thổi phồng ở đây ở kia, nhưng ngay cả nếu chúng ta thật sự tin tưởng, tôi không tin chúng tathể đạt được Phật Quả trong ba năm thậm chí chúng ta như Milarepa là một bậc với quyết tâm mạnh mẽ với trái tim không thể hủy hoại được. Trong những bậc đại du già, thánh nhân, và hành giả, tôi chưa từng nghe ai có thể đạt đến Phật Quả trong ba năm.

Do thế, đòi hỏi ba năm là không đủ. Chúng ta phải dự tính thật tốt, không chỉ cho năm nay, không chỉ cho đời sống này, nhưng cho hết đời này đến đời khác, hàng thế kỷ và vô số kiếp. Khi tôi nghĩ về những a tăng kỳ kiếp, những đại vô tận kiếp, nó thật sự làm cho tôi tĩnh lặng chân thành, và tôi thật sự có được sức mạnh nội tại.

HỎI & ĐÁP

HỎI: Hạnh phúc là gì và cuộc sống là gì? Giác ngộ là gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Theo kinh nghiệm của riêng tôi, chúng ta cảm thấy toại nguyện, tĩnh lặng và hạnh phúc. Hạnh phúc là hạnh phúc! Mọi người đang cố gắng để đạt được hạnh phúc.

Cây cỏ có sự sống, nhưng tôi không chắc là chúng có cảm giác hay không. Chúng ta, trái lại, kinh nghiệm khổ đau và vui sướng. Khi chúng ta nói về chúng sinh, chúng ta liên hệ đến những tạo vật có sự sống cũng như những kinh nghiệm đớn đau và khoái lạc của chúng.

Giác ngộ, như tôi đã đề cập một cách vắn tắt trước đây, là sự hiểu biết hoàn toàn - không si mê và không chướng ngại. Tâm vi tế của chúng ta - điều mà chúng ta gọi là linh quang - có mọi khả năng để đạt đến giác ngộ và sự tỉnh thức tròn vẹn. Nhưng bây giờ, do bởi si mê, có nhiều chướng ngại trên bộ mặt của sự tỉnh thức hoàn toàn. Khi tất cả nhân tố tiêu cực biến mất, năng lực hay sức mạnh của tỉnh thức được phát triển hoàn toàn và đấy là những gì chúng ta gọi là Giác ngộ.

HỎI: Có thể gánh chịu nghiệp quả của người khác vì người ấy không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nói một cách tổng quát, theo giáo huấn nhà Phật, chúng ta sẽ không chạm trán với kết quả của một hành vichúng ta đã không phạm phải, và một khi chúng ta đã thực thi một hành động, hậu quả sẽ không bao giờ mất đi. Ở đây, tôi nghĩ thật quan trọng để có một sự phân biệt. Khi chúng ta đau khổ, chúng ta không chỉ cảm thấy đau đớn hay không thoải mái ngay thời điểm ấy, nhưng cũng là một loại bất lực và nản chí. Chúng ta hoàn toàn bị che phủ bởi nổi khổ ấy và như có một bóng đen tối. Từ bi là khi chúng ta có sự quan tâm đến khổ đau của kẻ khác và chia sẻ nổi khổ đau của họ trên căn bản là những người khác cũng có quyền bình đẳng như ta để hạnh phúc. Nổi khổ đau lúc ấy có thể làm cho chúng ta đau buồn hay làm hơi mất thoải mái, nhưng sự bức rức ấy được chấp nhận một cách tự nguyện với lý trí do bởi những nhận thức này và quyết định chia sẻ nổi khổ của họ. Vì thế sự buồn phiền và khó chịu ấy không để lại dấu vết đen tối trong tâm thức chúng ta. Chúng ta phải thật rõ ràng và thật cảnh giác nếu chúng ta tự nguyện lãnh lấy khổ đau của kẻ khác.

HỎI: Trong thiền quán vipassana, sự chuyển hóa nào xảy ra khi sự chú ý của hành giả di chuyển từ bộ phận này đến bộ phận khác của thân thể?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Có nhiều loại thiền quán khác nhau. Theo như tôi biết, có một loại thiền quán lưu tâm đến thân thể. Khi chúng ta có sự luyến ái, chúng ta có một nhận thức rõ ràng về "thân thể tôi" và vào lúc ấy chúng ta đồng nhất với nó. Chúng ta cảm thấy rằng có một thân thể độc lập tồn tại. Nếu chúng ta thiền tập trên những bộ phận khác nhau của thân thể, cuối cùng cảm giác về một thân thể chắc thật hay điều gì đấy rất quý giá biến mất. "Thân thể tôi" bắt đầu có nghĩa như bao hàm nhiều phần tử và những sự phối hợp khác nhau. Một khi chúng ta nhận ra điều ấy, cảm nhận của chúng ta về sự cụ thể, thống nhất và quý giá không còn tồn tại nữa.

Chính niệm về thân thể liên hệ đến thiền quán trên những bộ phận khác nhau của thân thể. Thiền tập quan trọng nhất và năng lực nhất của thiền quán vipassana là thiền quán về tánh không hay shunyata.

HỎI: Một câu hỏi cá nhân, tôi thất bại nhiều trong cuộc sống, nhưng cha tôi đã giúp tôi trong mỗi bước. Ông nói với tôi rằng tôi phải trở thành một người khá hơn từ những thất bại của tôi. Trong vài tháng, tôi trở nên rất tĩnh lặng, tôi không bị mất sự điềm tĩnh của tôi nhiều, nhưng bây giờ tôi đã có việc làmthành công trong đời sống, tôi đã bắt đầu đánh mất sự điềm tĩnh của tôi. Tôi muốn đạt được điều gì đấy trong đời. Có sai không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Việc này khó trả lời. Tôi không biết căn bản niềm tin của bạn là gì, hay thái độ của bạn đối với cuộc sống và đối với những đời sống quá khứ và tương lai ra sao, tôi không biết chắc về lối sống của bạn. Sẽ có những công thức khác nhau tùy thuộc vào thái độ của bạn đối với cuộc đời của chính bạn. Một cách tổng quát, bất cứ khi điều gì tiêu cực sinh khởi, tôi luôn luôn cố gắng để nhớ rằng những người khác cũng ít nhiều có những kinh nghiệm tương tự như thế. Suy nghĩ trong cách ấy thư thả một gánh nặng tinh thần nào đấy của tôi. Cũng thế, tôi luôn luôn cố gắng để tìm một khía cạnh tích cực nào đấy của trường hợp tiêu cực ấy. Đôi khi, nhận thức này cho phép chúng ta một kinh nghiệm tích cựcsáng tạo hơn. Vì vậy, bản chất của một sự kiệntương đối. Một sự kiện có thể có những khía cạnh khác nhau và nếu chúng ta nhìn một cách sâu sát hơn, chúng ta có thể tìm thấy điều gì tích cực. Nó có thể không tích cực trong tự nó, nhưng nó có thể giảm thiểu sự nản chí của chúng ta.

Tự tin là quan trọng. Con người có một bộ não và sự quyết tâm diệu kỳ. Phật tử gọi đấy là Phật tánh, hạt giống Phật. Thậm chí không thảo luận những việc này, chúng ta cũng có khả năng để đạt được chúng; nếu chúng ta sử dụng sự thông minh của chúng ta với sự nhẫn nại lớn hơn và nổ lực liên tục, ngay cả nếu chúng ta thất bại ba lần đầu tiên, thì vẫn có một khả năng căn bản để đạt đến mục tiêu.

HỎI: Có thể không phải trong ba năm, nhưng nhiều vị thầy nói việc thực chứng cứu kính có thể xảy ra ngay lập tức (đốn ngộ), như đối lập với việc phải qua lối tu đường dài (tiệm tu). Xin hãy bình giải.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Việc ấy thỉnh thoảng thật sự xảy ra, nhưng chỉ với nhiều nguyên nhânđiều kiện. Trong một số trường hợp, việc ấy xảy ra tại một trình độ vô hình. Khi những nguyên nhânđiều kiện chín muồi tròn đủ, thế thì nó xảy ra một cách tức thời. Những kinh nghiệm tâm linh phi thường nào đấy thật sự xảy ra.

HỎI: Khi tất cả các tôn giáo dạy về từ ái, bi mẫn, và tình huynh đệ, tại sao con người đang chiến đấu nhân danh tôn giáo, đặc biệt ở lục địa của chúng ta?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Hầu hết mọi trường hợp, các cá nhân đơn giản vui thích gán cho họ. Thí dụ, tôi có thể nói, "tôi là một Phật tử", và được bao hàm với danh xưng ấy. Người ta không phiền với sự thực tập, hướng đạo, hay tư duy hàng ngày; họ không buồn dấn thân sâu hơn trong ý nghĩa. Phật Giáo trong trường hợp của tôi coi như là hướng dẫn tôi và hạnh kiểm của tôi. Đấy là cả cung cách suy nghĩthái độ cũng như phương tiện để tái tạo những thứ này. Nhưng đôi khi người ta không quan tâm đến nó một cách nghiêm túc. Do thế, nếu tôi không có ý định thay đổi theo lý tưởng Phật Giáo, nhưng tiếp tục sử dụng Đạo Phật cho đấy là "tôn giáo của tôi", thế thì tôi đang lợi dụng Đạo Phật bởi vì tôi cần sức mạnh của tôn giáo.

Tương tự thế, khi bạn nói, "tôi là Ki Tô hữu", bạn nguyện ước Ki Tô Giáo như sự ủng hộ của bạn. Và bạn không bao giờ được tiếp xúc với truyền thống ấy và chẳng bao giờ được thay đổi. Khi một người hoàn toàn si mê, vở mộng hay thù hận lợi dụng tôn giáo, đấy là một thảm họa. Những gì chúng ta cần làm là tự kiểm soát lại mình, tự xem mình là một hành giả và một môn đồ chân thành của truyền thống ấy. Chỉ như thế, chúng ta mới trở thành một con người khác biệt.

Có những hành giả chân thật nào đấy, vì si mê và thiếu sự tiếp xúc, chỉ tin tưởng trong tôn giáo của họ và xem những truyền thống tôn giáo khác là sai. Trong một số trường hợp, đấy là kết quả của giáo lý hay sự giảng dạy, nhưng thường là qua sự thiếu tiếp xúc, thiếu sự tỉnh thức và sự thấu hiểu thật sự của giá trị của truyền thống khác. Một khi chúng ta nhận ra rằng có những người tuyệt vời trong Ki Tô Giáo, Hồi Giáo, chúng ta tự động phát triển một sự cảm kích đối với truyền thống của họ.

Tín đồ của mỗi tôn giáo nên kiểm tra lại chính mình, xem ta có là những môn đồ chân thật hay không, và truyền thống của mình có đang được thực hành một cách chân thành hay không. Sự giao tiếp hay trao đổi liên tục với những tôn giáo khác là một yêu cầu. Sáng nay tại Hội Nghị Tôn Giáo Thế Giới lần thứ bảy ở Delhi, tôi đã đề cập rằng nhằm để phát triển một sự hòa hiệp chân thành, phải liên tục có những cuộc gặp gở trước nhất trong những lãnh đạo, thứ hai là trong những học giả và thứ ba là trong những người nào có những kinh nghiệm sâu sắc. Các cuộc gặp gở giữa những người này là cần yếu. Một khi chúng ta biết những giá trị sâu sắc của nhau và khả năng của tiêu cực trong tâm thức con người, một khi chúng ta biết nhau, thì điều ấy rất lợi ích.

HỎI: Từ bi có thể được phát sinh hay phát triển như thế nào trong đời sống của chúng ta và nó có thể được thực hành như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Qua quán (thiền phân tích) cũng như chỉ (thiền tập trung). Thiền quán liên hệ đến việc thẩm tra liên tục giá trị của từ bi. Một khi chúng ta trở nên một con người từ bi hơn, chúng ta có một lòng tự tin thật sự. Chúng ta trở nên một con người tĩnh lặng hơn và hạnh phúc hơn, ít sợ hãi hơn và vững vàng hơn; chúng ta trở nên cởi mở hơn và giao tiếp tốt đẹp hơn với những người khác; chúng ta có nhiều bạn bè hơn và nhiều nụ mĩm cười hơn. Về mặt khác, hãy thẩm tra thù hận - giá trị của nó là gì?

Thù hận phá hủy hạnh phúc của chúng ta, hạnh phúc của gia đình chúng ta cũng như hạnh phúctrình độ quốc gia và quốc tế. Nếu chúng ta ở trong một cuộc ẩn tu ba năm và chúng ta thiền tập về thù hận, chúng ta sẽ không bao giờ trải nghiệm tĩnh lặng, chúng ta sẽ luôn luôn cẩm thấy không thoải máicuối cùng chúng ta sẽ đánh mất sự ngon miệng, mất ngủ, và đánh mất đời sống của chúng ta. Đấy là những gì thù hận tác động. Do vậy, bạn thấy, giống như một nhà khoa học, chúng ta phải cố gắng để thẩm tra những khía cạnh tích cựctiêu cực của những thứ này một cách liên tục. Hãy cố gắng để loại bỏ những khía cạnh tiêu cựcthúc đẩy hay sản sinh những phẩm chất tích cực qua phân tích.

Như trong những vấn đề vật chất chúng ta duy trì những khía cạnh tích cực nào đó và loại bỏ những thứ khác, việc ấy cũng vậy đối với tâm thức. Những tâm thức nào đem đến cho chúng ta hạnh phúc, tĩnh lặng và sức mạnh nội tại và nhiều bạn bè hơn là tích cực. Những tâm thức nào cuối cùng phá hoại những thứ này là tiêu cực. Vì vậy hãy phân tích những thứ này. Một khi chúng ta đạt được một loại tin tưởng nào đấy và hoàn toàn xác định, qua thiền phân tích, thận trọng về nó trong một thời gian ngắn. Nếu là một người tín ngưỡng, hãy trì chú hay niệm Phật. Đấy là phương pháp - một loại thiền phân tích nào đấy, rồi vào lúc cuối, thiền tập trung. Khi năng lực của sự vững vàng ấy bị giảm thiểu, hãy đi vào thực tập thiền phân tích lại một lần nữa.

HỎI: Nếu người ta ở trong một nổi thống khổ lớn và nhận ra nó như tác động của nghiệp quá khứ, nhưng không chịu nổi đớn đau, người ta phải làm thế nào? Cầu nguyện có giúp ích gì không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Theo một số truyền thống như Đạo Phật, sám hối những hành động tiêu cực là một phương pháp. Phật Giáo Mật Thừa Tây Tạng đề xuất việc trì niệm một số mật ngôn, làm một hình tượng nào đấy, và nhiều tôn giáo có sự thực hành bố thí. Bổ sung thêm thì người ta có thể cầu nguyện.

HỎI: Có thể hay thích hợp để biểu lộ lòng từ bi đến ai đấy người tiếp tục làm tổn hại hay làm tổn thương chúng ta không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Ô vâng! Điều ấy là quan trọng nhất! Kẻ thù hay những người khác đang cố gắng làm tổn hại hay đang làm tổn hại chúng ta - mặc dù thái độ người ấy đối với chúng tatiêu cực - rốt cuộc cũng là một con người và cũng có quyền để vượt thắng khổ đau và đạt đến hạnh phúc. Trên căn bản ấy, chúng ta phải trau dồi từ bi đối với con người ấy. Điều đó không có nghĩa là chúng ta chính đáng cúi lạy trước mặt kẻ thù. Có những lý do khác nhau - những lý do đủ để cảm nhận từ bi, và cũng như, trong một vài trường hợp, lý do đủ để đối mặt với kẻ thù. Đây là hai thứ khác biệt.

HỎI: Tại sao chúng ta phải cố gắng để loại trừ khổ đau? Không phải nó là một bộ phận căn bản của đời sống cũng như hạnh phúc chứ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nếu bạn thỏa mãn với đời sống hàng ngày với tất cả những khổ đau của nó, thế thì quá tốt. Bạn không phải lo lắng hay thực hiện nổ lực nào.

HỎI: Xin Đức Thánh Thiện hãy diễn tả cuộc viếng thăm của ngài đến chương trình Baba Amte? Chúng ta có thể học hỏi gì từ thực tế hình thức Baba về từ bi?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Từ bi thực tiển - tôi tin rằng đấy là một cung cách thích đáng để phát triển Ấn Độ. Chỉ có một ít công trình kỷ nghệ gần thành phố là không đủ. Dĩ nhiên, điều ấy tốt và cần thiết và là một bộ phận của sự phát triển nhưng sự chuyển hóa và thay đổi Ấn Độ phải đến qua những việc làm của mọi người như Baba Amte - việc làm được hoàn thành tại cấp độ của những người thường dân. Tôi đặc biệt ấn tượng với khu vực mới. Tôi nghe nói rằng trước đây nó chỉ là một trổng rỗng, không người ở. Bây giờ nó đã được chuyển hóa thành một ngôi làng nhỏ đầy tâm linhniềm tin con người. Khi tôi ở đấy, một bệnh nhân chỉ có hai ngón tay đang sử dụng búa rất năng động. Tôi nghĩ bởi vì tôi ở đấy, nên năng lực của ông có vẻ mạnh hơn. Tôi hơi lo ngại rằng cây búa của ông có thể đánh trúng tay ông. Nơi ấy đầy sinh khícon người không có cảm giác hạ liệt, chỉ có một cảm nhận bình đẳng. Chúng tôi đã bắt tay nhau mà không có chút do dự nào. Điều ấy hoàn toàn kỳ diệu, rất đẹp. Tôi thật sự rất ấn tượng.

HỎI: Tại sao chúng ta đến thế giới này?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tự nhiêntự nhiên. Không có câu trả lời.

HỎI: Ngài nói rằng sự phát triển động cơ thích đáng là nhân tố chìa khóa. Chúng ta phát triển động cơ ấy như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi nghĩ là tôi đã giải thích rồi - qua việc rèn luyện tâm thức, qua phân tích trên những kinh nghiệm quá khứ của chúng ta, thẩm tra những kinh nghiệm của chính mình cũng như của những người khác, như Thánh Gandhi, hay Baba Amte. Khi tôi gặp Baba Amte, mặc dù điều kiện thân thể của ông khó khăn, ông có nụ cười trên môi, ông có một đời sống trọn vẹn, tràn đầy tâm linh rực rở. Đấy là kết quả của từ bi và tự tin. Những người như Hitler hay Mao cũng có năng lực kỳ diệu như vậy, nhưng họ đầy nghi ngờ và thù hận. Tôi nghĩ Mao là một người khôn ngoan - đầy tự tin - nhưng nghi ngờ ngay cả những đồng chí thân cận của ông. Một khi có sự nghi ngờ và thù hận như vậy, người ấy không thể hạnh phúc. Do thế, từ bi là quan trọng bởi vì tất cả chúng ta muốn hạnh phúc trong cuộc sống.

HỎI: Phương pháp tốt nhất để giảm thiểu dân số là gì? Triết lý Phật Giáo có một vai trò nào không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Dĩ nhiên, là nhiều tăng ni hơn! Tôi gọi đấy là sự kiểm soát sinh sản bất bạo động. Điều ấy là cần thiết.

HỎI: Dưới cặp mắt của ngài trong lần đầu tiên viếng thăm Jerusalem, thông điệp của ngài trong mối quan hệ liên tôn là gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Một vài năm trước đây tôi đã bắt đầu một sự thực tập mà tôi xem là một bước để tiến tới việc thiết lập hòa hiệp giữa những tôn giáo: một người hành hương đến những thánh địa với một nhóm người từ những tôn giáo khác nhau. Tất cả chúng tôi tập họp lại và cầu nguyện với nhau trong im lặng, và đấy là một kinh nghiệm thật đẹp. Tôi đã bắt đầu với Sanarth - Lộc Uyển. Năm ngoái ở Trivandrum[1], ở Kerala, tôi đã có cơ hội để thăm viếng một đền thờ Hổi Giáo, một thánh đường, và một đền thờ Ganesh. Tôi đã thấy một bức tượng Ganesh bằng bạc. Tôi nghĩ Ganesh có một cái bụng rất dễ thương; sau lần thăm viếng ấy, tôi nghĩ tôi nên cúng một số tiền, nhưng tôi đã không làm thế. Thế nào đi nữa, tôi yêu mến Ganesh ấy. Tại đền thờ Hổi Giáo lần đầu tiên tôi có cơ hội cầu nguyện chung với những huynh đệ Hồi Giáo. Điều này tôi thật sự cảm thấy là một phương pháp đầy năng lực để giao tiếp với những người từ những tôn giáo khác nhau. Tôi đã thấy Jerusalem nhiều năm về trước, sau lần ấy tôi rất nhiệt tâm để đến những thánh địa như Jerusalem.

Mới đây tôi đã thăm Lourdes ở Pháp - nơi Đức Mẹ Mary đã xuất hiện. Thật là kỳ diệu. Tôi không phải là một Ki Tô hữu, tôi là một Phật tử. Và trong cách ấy tôi là một người không tín ngưỡng. Tôi không tin ở Thượng Đế. Những Phật tử chúng tôi không chấp nhận một đấng tạo hóa. Tuy nhiên, tôi tôn trọng sâu xa và cảm kích truyền thống Ki Tô Giáo và tất cả những tôn giáo khác. Do thế, khi tôi ở đấy, tôi cảm thấy toại nguyện sâu xa. Điều ấy hoàn toàn kỳ diệu. Nếu có thể, tôi cũng sẽ đến Mecca, nhưng tôi không biết khi nào. Tôi đang hướng đến việc đi tới Jerusalem với một nhóm người thuộc những tôn giáo khác nhau.

HỎI: Nếu tất cả chúng ta là những con người, điều gì khác biệt giữa tôi và ngài?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi nghĩ có một sự khác biệt lớn lao. Bạn là bạn và tôi là tôi!

Modern School, Barakhamba, 1994

Nguyên tác: Compassion and Nonviolence

Ẩn Tâm Lộ ngày 24/6/2012

SỐNG VÀ CHẾT MỘT CÁCH TỐT ĐẸP NHƯ THẾ NÀO

Tôi sẽ diễn giải ba trình độ làm thế nào để sống và chết một cách vui vẻ. Đầu tiên, đối với những người không tôn giáo, sau đó đối với những người có tôn giáo một cách tổng quát, và cuối cùng đối với những hành giả Phật tử.

Tôi tin rằng tất cả chúng ta sống còn trên dự đoánhy vọng của hạnh phúc. Không ai trong chúng ta muốn khổ đau. Mục tiêu của cuộc đời là việc đạt đến hạnh phúc. Chúng tathể đạt đến hạnh phúctrình độ vật lýtinh thần, cũng như ở trình độchúng ta có thể làm vơi bớt hay dịu đi khổ đau. Có thể có hai loại hạnh phúc; hạnh phúcchúng ta có được từ việc đạt đến hạnh phúc tinh thầnvật chất, và hạnh phúc chúng tathể đạt được qua việc giảm thiểu khổ đau.

Chết hàm ý khổ đau và được định nghĩa là điều gì đó chúng ta không mong ước đến. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể học hỏi để đối diện với cái chết như thế nà, sự chuẩn bị ấy bảo đảm rằng chúng ta không phải trải nghiệm sự đau khổ quá lắm. Việc có thể chạm trán với cái chết trong một cung cách thư thái và không khổ sầu tùy thuộc trên việc chúng ta sống như thế nào hằng ngày. Khi chúng ta đang sống, nếu chúng ta có thể kiềm chế tâm tư, sự tĩnh lặng trở thành thói quen; vì thế, khi chúng ta thật sự chạm trán với cái chết, chúng ta có thể đối diện nó trong một cung cách thư thái. Nếu đời sống hằng ngày là đầy đủ ý nghĩatích cực, vào thời điểm lâm chung, chúng ta có thể cảm nhận "Trong cả cuộc đời, tối thiểu tôi đã làm điều gì đấy có ý nghĩa. Mặc dù tôi mong ước để duy trì trong thế gian này hơi lâu dài hơn, tôi không có gì phải hối hận."

Bạn có thể hỏi hướng đến một đời sống đầy đủ ý nghĩa hàng ngày là nghĩa thế nào. Cho dù chúng ta là một người tín ngưỡng hay một người không tín ngưỡng, có một thực tế rằng tất cả chúng ta đang sống. Nếu chúng ta thẩm tra mục tiêu của cuộc đời, chúng ta sẽ có thể nhận ra rằng cuộc sống chúng ta không có nghĩa là để tạo nên sự quấy rầy mà để mang đến hòa hiệp và hạnh phúc. Chúng ta là những tạo vật xã hội. Cuộc đời chúng ta không phải lệ thuộc trên một nguyên nhânđiều kiện mà trên vài nguyên nhânđiều kiện. Nếu chúng ta có thể thấu hiểu rằng cuộc sống chúng ta là có nhiều khía cạnh và phụ thuộc trên nhiều nguyên nhânđiều kiện, việc nhận ra này sẽ cho phép chúng ta hướng đời sống của mình trong một thái độ đầy đủ ý nghĩa hơn. Bất kể một cá nhân là mạnh mẽ bao nhiêu đi nữa, chúng ta phải sống như một cộng đồng. Nếu ai đấy sống trong sự cô lập, người ấy cuối cùng sẽ trải nghiệm nhiều sự thất vọng tinh thần bởi vì bản chất con ngườixã hội. Nhiều nhu cầu của chúng ta, chẳng hạn như thức ăn và chỗ ở đầy đủ, được cung ứng bởi những nổ lực người khác. Vì thế hạnh phúc và sự thoải mái trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta lệ thuộc rất nhiều vào người khác. Đấy là thực tế, và cuộc sống hằng ngày của chúng ta hay cung cách suy nghĩ của chúng ta phải phù hợp với những điều kiện và nhân tố này. Sự thông minh của con người là rất phức tạp mà đôi khi tạo nên một hình ảnh che lấp thực tế. Đôi khi một người ở dưới ảo tưởng sai lầm rằng người ấy là độc lập và có thể đạt được bất cứ điều gì, và người ấy không nhận ra rằng đời sống của một người là lệ thuộc trên sự tồn tại, giúp đở và hổ trợ của những người khác. Điều này áp dụng không chỉ cho con người mà cũng cho môi trường và những chủng loại khác - trong thực tế, đến mọi thứ. Nhiều rắc rối và khổ đau được tạo ra bởi vì chúng ta không thể nhận ra sự giúp đở và hổ trợ mà chúng ta đón nhận từ môi trường chung quanh, và bởi vì chúng ta không chú ý và thấu hiểu thích đáng tầm quan trọng của nó.

Mặc dù sự tập trung của chúng ta có thể niềm hạnh phúc và sự cát tường cá nhân, một khi chúng ta có thể thấu hiểu cuộc sống cá nhân của chúng ta lệ thuộc trên môi trường chung quanh nhiều như thế nào, chúng ta sẽ có thể mở rộng nhận thức của mình và sự thực chứng của chúng ta về thực tại. Nhận thức mở rộng này sẽ có thể cho phép chúng ta tạo nên một đời sống hòa hiệp hơn, không chỉ cho chính chúng ta mà cũng cho những người khác.

Loại nhận thức hay quan điểm rộng mở này rồi thì tự động đưa đến kết quả trong một ý nghĩa cố gắngquan tâm cho người khác. Điều này không phải vì những lý do thánh thiện hay thiêng liêng, nhưng bởi vì tương lai của chính chúng ta phụ thuộc trên những nhân tố này. Quan điểm này không chỉ thực tiển nhưng cũng là căn bản của đạo đức luân lý thế tục. Chúng ta gian dối, lừa đảo và tiến hành nhiều hành vi tiêu cực khác đối với những thành viên khác của cộng đồng chúng ta trên điều mà tương lai chúng ta lệ thuộc. Qua sự thiển cậnsi mê, chúng ta lợi dụng chính những nhân tố này mà trên ấy tương lai chúng ta lệ thuộc. Việc nhận ra những kết quả này trong một thái độ từ bi và hữu ích hơn, sẽ giúp trong việc phát triển một thái độ tinh thần từ bi, và bất bạo động là cách tốt nhất để giải quyết những rắc rối đối diện với nhân loại. Sử dụng sức mạnh có nghĩa là phủ nhận những quyền của người khác. Bất bạo động, trái lại, là một sự tiếp cận nhân bản và một phương pháp đầy đủ ý nghĩa của sự đối thoại nhân bản. Một sự đối thoại nhân bản đầy đủ ý nghĩathể đạt được chỉ qua sự tôn trọng hổ tương hay thấu hiểu lẫn nhau trong một tâm linh hòa giải.

Một khi chúng ta có thể trau dồi nhận thứcthái độ này và có thể đối xử mỗi cá nhân như thế, chúng ta sẽ có thể làm cuộc sống hàng ngày chúng ta đầy đủ ý nghĩa.

Khi tôi tóm lược điều này, tôi nói với mọi người rằng chúng ta nên luôn luôn cố gắng để giúp đở người khác tối đa như có thể, và ngay cả nếu chúng ta không thể giúp đở họ, chúng ta phải tối thiểu nên tránh làm tổn hại họ. Đây là một tổng kết triết lý của Đạo Phật, là điều liên quan ngay cả những người không tín ngưỡng. Về lâu dài, nếu mọi người tiếp tục từ bi hơn, họ sẽ hạnh phúc hơn. Qua những hành vi vi tiêu cực, người ta có thể chiếm ưu thế tạm thời, nhưng trong sâu thẩm luôn luôn có một loại bất toại nào đấy.

Khi tôi nói về nhu cầu và tầm quan trọng của việc trau dồi từ bi, tôi không một lần nào chủ trương một vị thế thụ động. Trong xã hội cạnh tranh hiện đại hiện đại có nhiều trường hợp chúng ta cần lãnh lấy một vị thế cứng rắn, bất khuất. Bằng việc trau dồi động cơ và thái độ từ bi để làm lợi ích cho người khác, chúng ta tạo nên tư tưởngthái độ tích cực giúp chúng ta tiếp nhận vị thế cứng rắn là cần phải có.

Vào thời lúc thật sự của cái chết, một tâm thức tĩnh lặng là thiết yếu. Những người thân hữu hay những ai săn sóc người sắp chết cũng phải có một tâm tư tĩnh lặng. Mặc dù họ có một tâm hồn chân thành và muốn giúp đở, nhưng hành động của họ đôi khi tạo nên những sự náo động và rối rắm hơn trong tâm thức của người sắp chết.

Bây giờ đối với trình độ thứ hai- những người tín ngưỡng. Mặc dù tôi không đủ trình độ để giải thích những triết lý đa dạng, tôi cảm thấy thật tốt đẹp rằng con người tin tưởng trong đấng tạo hóa và ngoan đạo (hay sợ hãi Thượng Đế). Một người muốn những thứ gì đó, nhưng người ta biết rằng họ chống lại ý chí hay mong muốn của Thượng Đế; loại năng lực này là rất hữu dụng trong việc phát triển một thái độ tích cực. Rồi thì có một vấn đề về từ biyêu thương. Đôi khi cơ hội để làm những thứ tiêu cực hiện hữu, nhưng do bởi tôn trọng và khao khát là một tín hữu ngoan thuần nên người ta kiềm chế không làm những việc ấy. Đây là một phương thức rất tốt để tự cải tiến. Biểu lộ chân thành của việc yêu mến Thượng Đếyêu thương láng giềng của ta. Tôi nghĩ rằng một người biểu lộ lòng yêu thương, từ ái, và bi mẫn chân thật đến anh chị em của người ấy là yêu mến Thượng Đế một cách chân thành. Một số người nào đó quẹt nước mắt trước mặt hình tượng của Đức Ki Tô hay những Bổn Tôn khác, nhưng trong đời sống và những đối ứng hàng ngày, sự tín thành và bi mẫn chân thật ấy thiếu vắng. Lòng trắc ẩn và tín thành chân thật trong một Thượng Đế có thể làm giảm thiểu băn khoăn. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta đặt tất cả trách nhiệm lên Thượng Đế. Thượng Đế chỉ bạn con đường, nhưng bạn cũng có một trách nhiệm lớn lao để áp dụngtheo đuổi một cách thành tín.

Vào thời điểm lâm chung, bạn phải nhớ đến thánh Allah hay Thượng Đế hay một hình tượng nào khác hơn. Tôi nghĩ điều này là một cách để giảm thiểu căng thẳng tinh thần hay lo âu. Đó là tại sao tôi tin tất cả những tôn giáo quan trọng của thế giới có cùng khả năng bình đẳng lớn lao để giúp con người - giảm thiểu thất vọng tinh thần, thí dụ thế - và tất cả các tôn giáo quan trọng trên thế giới ban cho chúng ta niềm hy vọng. Khi chúng ta phải đối diện với sự chậm phát triển thân thể hay những rắc rối khác vào lúc khởi đầu cuộc đời của chúng ta, dường như không có nhiều hy vọng. Tuy nhiên, thay vì thế, có điều gì đó tràn đầy hy vọng trong tương lai phía trước.

Đối với sự diễn giải của tôi ở trình độ thứ ba là những người Phật tử -- Một cuộc đời đầy đủ ý nghĩatích cực là thế nào? Những ranh giới là gì? Một cách bẩm sinh, chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Đây là một quy luật tự nhiên. Nếu bạn hỏi tại sao chúng ta có khao khát này, sự giải thích của Đạo Phật là tất cả những kinh nghiệm tiêu cực là tạm thời và có thể tiêu trừ được. Bởi vì có Phật tánh, một hạt giống Phật, trong chúng ta, tất cả những cảm xúc tiêu cực có thể được loại trừ. Mỗi chúng sinhnăng lực của Phật tánh. Từ lúc sinh ra mỗi chúng sinh có khát vọng cho hạnh phúc và muốn giải thoát khỏi khổ đau. Trên căn bản ấy, những hành vi và động cơ mang đến sự toại nguyện hay hạnh phúctích cực, và những thứ nào một cách căn bản mang đến khổ đau là tiêu cực.

Chúng ta sống trong một cách tốt đẹp hơn như thế nào? Vấn đề căn bản, như tôi đề cập trước đây, là để giúp đở người khác. Nếu nhiều người mĩm cười, chúng ta được sự bình an. Nếu nhiều người trông sầu thảm, chúng ta cũng cảm thấy buồn. Tôi đã thấy một số người không quá già, nhưng trông già cỗi - một bà mẹ, một ông cha và một đứa con gái. Họ đang bán báo và có những khuôn mặt rất rầu rĩ. Trông thấy họ thật sự làm cho tôi rất buồn. Nếu bạn tạo nhiều nụ cười hơn, bạn sẽ đón nhận hạnh phúc hơn. Chúng ta lập tức đạt được sự toại nguyện và về lâu dài chúng ta sẽ có những người bạn đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, những người bạn được làm ra bởi tiền bạc không phải là những người thân hữu chân thật. Chỉ những người bạn được hình thành qua tình cảm con ngườichân thành.

Nếu chúng ta có thể giúp thế thì nên giúp. Nếu không thể, tối thiểu kiềm chế đừng làm tồn hại người khác. Tại sao chúng ta nên kiềm chế chính mình đừng làm tổn hại người khác? Lý do là sự liên hệ hổ tương của chúng ta. Tương lai chúng ta phụ thuộc trên những người khác. Ngay cả hạnh phúc tinh thần của cá nhân phụ thuộc trên nhiều nhân tố và điều kiện. Kinh nghiệm hôm nay là kết quả của những nguyên nhân và kết quả hôm qua cũng như những kinh nghiệm trong những kiếp sống trước của chúng ta và v.v... Trong toàn thể vũ trụ, toàn bộ thiên hà, đến và đi trong phương thức này. Theo lý thuyết hiện đại, thế giới đã hình thành sự hiện hữu với vụ nổ big bang và nó sẽ bị tan hoại một cách căn bản. Nếu là như vậy, thế thì những Phật tử chúng ta phải suy nghĩ một cách nghiêm chỉnh hơn. Nhưng rồi thì, có vài vụ nổ big bang, vụ này tiếp theo vụ nọ. Do thế, theo vũ trụ học, giáo thuyết Đạo Phật rất thích hợp. Tất cả những điều này là qua hành vi và động cơ căn cứ trên quy luật nhân quả: mỗi thứ đang thay đổi từng thời khắctùy thuộc trên nguyên nhânđiều kiện.

Những sự thay đổi từng thời khắc xảy ra trong tất cả những hiện tượng vô thường phụ thuộc trên những nguyên nhânđiều kiện cá nhân. Những nguyên nhân của sự thay đổi từng thời khắc này không đến từ những nguyên nhânđiều kiện không tương ứng, chúng cũng không xảy ra mà không có nguyên nhân hay điều kiện. Khi chúng ta nói về sự thay đổi xảy ra từng thời khắc tùy thuộc trên nguyên nhânđiều kiện , có hai đặc trưng của nguyên nhân: phối hợp và thật sự.

Bất cứ điều gì đi nữa cùng không tồn tại lâu dài. bất cứ điều gì cũng phải chịu sự tan hoại, bao gồm cả chư Bồ Tát và chư Phật Giác Ngộ cũng là vô thường, sẽ phải thay đổi và tan hoại. Ngay cả trong thể trạng Phật Quả, trong những phẩm chất của Phật, chúng ta thấy rằng một số là vô thường trong khi một số là thường. Vì vậy tất cả những hiện tượng, chúng là thường hay vô thường, ngay cả tron g tầng bậc Phật Quả, là đối tượng của thay đổi và tan hoại. Ngay cả giáo thuyết nghiệp là tùy thuộc trên giáo thuyết nhân quả. Những sự thay đổi như vậy không chỉ được tạo ra bởi tâm. Ý nghĩa của việc thực tập là trước nhất biết thực tại, và sau đó tương ứng với thực tại phát triển phương pháp phù hợp với nó. Đấy là tiến trình thay đổi của tâm.

Do vậy, khi chúng ta nói về việc thể hiện những sự thực tập nào đó, là chúng ta đang nói về một lối sống, đi theo một sự thực tập thích ứng với bản chất của mọi thứ tồn tại như thế nào. Khi chúng ta thể hiện những sự thực tập nào đó trong việc hòa hiệp với tự nhiên, nó cực kỳ quan trọng để đầu tiên thấu hiểu việc mọi thứ tồn tại như thế nào, quy luật của tự nhiên - cũng từ quan điểm này giáo huấn của Đức Phật phát triển. Giống như thế, Đức Phật cũng dạy việc sử dụng các phương pháp khảo sát căn cứ trên thực tạibản chất của mọi hiện tượng. Trong giáo huấn của Đức Phật, tầm quan trọng to lớn được hướng tới khái niệm nhận thứcgiá trị. Điều này rất quan trọng bởi vì qua nhận thứcgiá trịchúng ta có thể thấu hiều bản chất.

Khi chúng ta thấu hiểu quy luật của tự nhiên và tầm quan trọng của việc hiểu biết mọi vật tồn tại như thế nào, rồi thì trong khi chúng ta thật sự tiến hành những sự thực tập, chúng ta nhận ra việc chuyển hóa tâm thức chúng ta từng giai tầng là trọng đại như thế nào. Ngay cả trên cùng một loại tâm tập trung trên cùng loại đối tượng có thể được chuyển hóa dần dần bằng việc loại trừ tình trạng sai sót của trình độ tinh thầncuối cùng hướng nó đến tình trạng nhận thứcgiá trị. Thí dụ, chúng ta có thể có một ý tưởng hoàn toàn sai lầm về một đối tượng nào đó. Một sự nghiên cứu hay khảo sát có thể chuyển hóa sự hiểu biết sai lầm ấy thành một sự nghi ngờ, rồi dần dần biến sự nghi ngờ ấy hướng đến một sự kiện có thể dần dần biến thành một sự thừa nhận đúng đắn, rồi thì vào trong nhận thức suy luận, và cuối cùng nó có thể được chuyển hóa vào trong một nhận thứcgiá trị cho phép sự thấu hiểu đối tượng đặc thù ấy.

Do vậy, việc thấu hiểu mọi vật tồn tại như thế nào, và có thể phân biệt giữa hiện tướngthực tại, là cực kỳ quan trọng. Để giảm thiểu sự bất tương xứng giữa thực tạihiện tướng, là tốt nhất để biết chân lý. Khi chúng ta đặt quá nhiều quan trọng trong sự thấu hiểu về việc sự vật thật sự tồn tại như thế nào, chúng ta đang làm như vậy không chỉ vì lợi ích của việc thấu hiểu mà thôi, nhưng bởi vì chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Chúng ta có thể trau dồi và đạt đến hạnh phúc, dọn dẹp và tiêu trừ khổ đau, được chuẩn bị đầy đủ chúng ta có thể dấn thân trong một sự thực hành thích ứng với quy luật của tự nhiênphù hợp với vấn đề sự vật thật sự tồn tại như thế nào. Do bởi điều này mà Đức Phật đã dạy Bốn Chân Lý Cao Quý.

Bởi vì mục tiêu cuối cùng của chúng tađạt đến hạnh phúc hay một loại hạnh phúc nào đó thường hằng, nên chúng ta phải săn sóc mỗi một nguyên nhânđiều kiện cho mục tiêu ấy. Đây là căn bản của lý do tại sao chúng ta nên đi theo con đường bất bạo động căn cứ trên từ bi. Nói cách khác, nếu chúng ta không thể giúp người khác thì chúng ta nên kềm chế mình không làm tổn hại họ. Tại sao chúng ta nên làm điều này? Chúng ta phải dấn thân trong sự thực hành bất bạo độngtừ bi do bởi thực tế liên hệ hổ tương của chúng ta với tất cả những chúng sinh khác..

Từ lúc sáng sớm, khi thể trạng tinh thần của chúng ta tươi sáng và tỉnh giác, chúng ta nên trau dồi một thái độ tinh thần tích cực, không chỉ qua nguyện ước mà qua thiền phân tích (quán chiếu). Phân tích và khảo sát lợi ích của một thái độ tinh thần tích cực, và khổ đau hay bất lợi của một thái độ tinh thần. Đấy là những gì chúng tôi gọi là thiền phân tích. Thiền phân tích quan trọng hơn thiền nhất tâm (định - chỉ). Cũng thế trong sự bắt đầu, trong một cách đơn giản, hãy cố gắng giữ trong tâm lòng vị tha vô biên. Rồi thì, với động cơ ấy, thực hiện một cách chi tiết hơn và thiền phân tích trong tính vô thường hay những trải nghiệm khác nhau của thực tại, sau đó phân tích tính vô thường trở lại, và nếu có thể, và thích thú, hãy khảo sát thực tại cứu kính tối hậu.

Từ bi là một phương pháp, và tuệ trí là một quan điểm triết lý của việc thấu hiểu thực tại. Việc phối hợp tuệ trí và động cơ là một cách thích đáng để chuyển hóa thái độ tinh thần của chúng ta. Ở đấy bị ràng buộc là một loại cảm xúc nào đó như sân giận hay dính mắc, qua những thiên hướng quá khứ. Nếu chúng ta khảo sát và phát triển những năng lực đối kháng tích cực, những cảm xúc tiêu cực này sẽ bắt đầu tàn lụi. Những loại cảm xúc khác là một cảm giác vi tha hay từ bi mạnh mẽ. Những thứ này không phải là kết quả của những thiên hướng quá khứ, nhưng qua sự phân tích về những lợi íchthuận lợi của các cảm xúc. Những cảm xúc tích cực có thể được phát triển qua thiền phân tích. Hai phương diện, phương diện tuệ tríphương pháp, phải được phối hợp. Nếu chúng ta cố gắng để phát triển động cơ tích cực này từ buổi sáng sớm, chúng ta sẽ tạo nhiều cảm giác tích cực , và cả ngày chúng ta sẽ duy trì một sự ảnh hưởng nào đó của việc thực tập buổi sáng. Rồi thì tối thiểu một ngày, mặc dù nó chưa là một cảm giác toàn hảo, nhưng ít tiêu cực hơn. Ngày tiếp theo cũng thế, hãy cố gắng để nhớ rằng "tôi phải có một ngày đầy đủ ý nghĩa". Tiếp tục thái độ này ngày qua ngày, tuần nối tiếp tuần. Vào lúc đầu, thật khó kiểm soát, nhưng khi thời gian trôi qua, với nổ lực và quyết tâm liên tục, cuối cùng chúng ta sẽ cảm thấy một hy vọng mới. Chúng ta có thể làm việc này.

Trau dồi những năng lực tích cực này là có thể, vì nó căn bản tự nhiên của chúng ta, và những thứ tiêu cực sẽ tự động giảm thiểu và yếu dần. Thật có thể loại trừ hoàn toàn những thứ tiêu cực này, nhưng việc ấy không dễ dàng và có thể liên hệ đến vài vô số kiếp (a tăng kỳ kiếp). Tuy nhiên, tốt hơn là nghĩ về những vô số kiếp hơn là vài năm. Một số hành giả đi vào ẩn tu trong ba năm với những dự đoán lớn lao. Chúng ta đi vào ẩn tu như một người bình thườngdự đoán sẽ đi ra như một đại bồ tát. Điều đó tôi nghĩ là không thực tế cao độ. Nên thật tốt hơn hãy tính đến vô số kiếp hơn là chỉ trong vài năm. Kinh nghiệm của riêng tôi là quá nhiều dự đoán ngay lúc đầu, sau này trở nên một nguồn gốc của thất vọng và thất bại. Ngay từ lúc khởi đầu chúng ta cần quyết tâm hơn, và không hề gì nếu phải cần đến những vô số kiếp. Khi hóa ra là việc làm là điều gì đấy đúng đắn, thời gian không hề gì khi mà mỗi ngày trong cuộc đời là hữu ích. Đấy là mục tiêu - thời gian không quan trọng. Nếu đó là một kinh nghiệm đớn đau, thời gianvấn đề; nhưng nếu đấy là một kinh nghiệm hân hoan, thời gian không là gì. Rồi thì, ngay cả thời gian trải qua càng dài hơn thì càng tốt hơn. Giống như chúng ta tính toán thành công như thế nào trong thương trường vào lúc kết thúc một ngày, và chúng ta tính đếm trong dạng thức giá trị tiền bạc, tương tự vào cuối ngày, chúng ta nên kiểm điểm trong sự quan tâm đến loại đời sống nào mà chúng ta đã hướng đến - nó là loại tích cực hay tiêu cực.

Đấy là căn bản của sự thực tập hàng ngày. Bên cạnh ấy, chúng ta có thể thực hiện một số sự tán tụngtrì niệm. Nếu người nào đấy đã có một nền tảng thuận lợi đầy đủ, thì cũng có thể dấn thân trong sự thực tập mật tông tantric. Tuy nhiên, không có sự chuẩn bị và nền tảng thích đáng [như lễ quán đảnh chẳng hạn], chỉ đơn thuần quán tưởng một bổn tôn nào đó chỉ là sự vọng tưởng tinh thần và không lợi ích gì. Đây là tiến trình mà qua đấy chúng ta nên làm cho đời sống hằng ngày đầy đủ ý nghĩa hơn.

Thông thường sự thực tập được phân làm hai đặc trưng: sự thực tập trong buổi thiền tập và sự thực tập sau buổi thiền tập tức là trong đời sống hàng ngày. Khi chúng ta ở trong buổi thiền tập, chúng ta đang tiếp năng lượng cho chúng ta như sự sạc pin. Mục tiêu của việc tái tạo năng lượng tâm linh là để có thể cho phép chúng ta sử dụng năng lượng ấy trong đời sống hằng ngày sau khi thiền tập. Do thế vấn đề thiết yếu là khi chúng ta đối diện với đời sống thực tế, cho dù chúng ta là một y tá, một giáo viên, một bác sĩ, một chính trị gia hay trong bất cữ lãnh vực nào, sự thử thách sẽ đến trong lúc ấy. Đấy là một sự thực tập thật sự. Sự thể nghiệm thật sự cho việc thực tập của chúng ta có thể được kiểm tra với sự tiếp xúc hằng ngày của chúng ta. Khi chúng ta dấn thân trong việc làm cá nhân đặc thù của mình, chúng ta có thể thường xuyên chạm trán những cơ hội nào đó để lợi dụng và lừa dối người khác, và để tiến hành những hành vi tiêu cực nào đó. Ngay cả chúng ta có một cơ hội như vậy trong sự bố trí của chúng ta, hãy tự nhắc nhở mình về nhu cầu kiềm chế khỏi những hành động tiêu cực như vậy. Sự thực hành thật sự là tránh những hành vi như vậy.

Bây giờ hãy nhìn vào sự thực tập quan trọng vào thời điểm lâm chung. Trước nhất, một khi chúng ta quyết định rằng sự thực tập của chúng ta là cần những thời gian vô tận [của a tăng kỳ kiếp] và vài kiếp sống, tự nó sẽ cho chúng ta một quan điểm mới về sự chết. Dĩ nhiên, có nhiều sự giải thích như tại sao những tâm vi tế hơn luôn luôn duy trì. Có nhiều lý do cho sự tồn tại của tâm vi tế. Như mức độ mà tâm vi tế được quan tâm, đấy là không có sự bắt đầu và không có kết thúc. Căn cứ trên những luận điển của Long Thọ, có vài lý do cho điều này. Trình độ thô của tâm tồn tại qua não bộ của chúng ta, và theo những mức độ khác, chúng ta có thể gọi nó là tâm con người, tâm con thú, và v.v... Những trình độ thô của tâm được sản sinh bởi não bộ con ngườithân thể con người là điều được gọi là tâm con người. Tâm này lệ thuộc trên chức năng của não bộ. Ngay khi não bộ ngừng hoạt động , tâm này cũng chấm dứt. Nhưng rồi thì, việc sử dụng não bộ như một điều kiện phối hợp, khả năng của việc có thể thấy đối tượng, khả dĩ của việc trau dồi năng lực để có thể nhận ra đối tượng phải đến từ một nguyên nhân riêng biệt. Điều này được gọi là nguyên nhân thực thể mà không có nó, mặc dù có điều kiện phối hợp như não bộ , nó không thể hình thành sự hiện hữu.

Đấy là do bởi điều này mà chúng ta không thể nói về một thời điểm đặc thù và nói rằng đây là lần trước nhất mà tâm vi tế đã hình thành sự hiện hữu. Chấp nhận điều này sẽ phải hàm ý rằng một tâm vi tế có thể sinh khởi từ bất cứ một đối tượng khác nào đấy mà nó không phải là bản chất của tâm. Do thế, với quan điểm của nhiều kiếp sống, nó giống như thay đổi áo quần: bạn trở nên già cổi và bạn thay đổi.

Thái độ của một người đối với sự chết, vì thế, làm nên một sự khác biệt. Việc nhận ra rõ ràng nó là một bộ phận của đời sống con người và đã hình thành sự hiện hữu qua si mê và những cảm xúc tiêu cực làm nên một sự khác biệt. Từ quan điểm này, sự tồn tại của thân thể chánh yếu là qua dính mắc. Việc nhận ra rằng đời sống hiện tại của chúng ta là căn cứ trên si mê và dính mắc, và khả năng đẻ thấy sự hiện hữu hiện tại của chúng ta như điều gì đấy bị hoạt hóa bởi vọng tưởng si mê và dính mắc cũng sẽ làm cho chúng ta nhận ra rằng điều gì đấy là một sản phẩm của si mê và dính mắc bị ràng buộc với nguyên nhân của khổ đau; đấy là bản chất của nó. Một khi chúng tathể đạt đến một tuệ giác vào trong thực tại này, nó sẽ giúp làm mở rộng nhận thức của chúng ta.

Khi chúng ta nói về tầm quan trọng của việc nhận ra sự tồn tại của chính mình như một kết quả của si mê và dính mắc và điều gì đấy là khổ đau trong bản chất, nó nên được hiểu trong khuôn khổ của Bốn Chân Lý Cao Quý. Điều này có thể được hiểu trong hai đặc trưng hay hai trình độ - loại tịnh khiết và loại nhiễm ô. Loại nhiễm ô nghĩa là hai chân lý đầu - sự thật về khổ đau và nguyên nhân của khổ đau. Trình độ thứ hai của Bốn Chân Lý Cao Quý giải thích loại tịnh khiết, sự chấm dứt khổ đau và con đường đưa đến sự chấm dứt này. Khi chúng ta nói về tầm quan trọng của việc nhận ra khổ đau, thật cực kỳ quan trọng để thấu hiểu khả năng của việc đạt đến sự chấm dứt khổ đau và loại trừ những nguyên nhân của khổ đau như vậy. Chính là qua một sự thấu hiểu như vậy mà chúng ta sẽ có thể tạo nên một khát vọng mạnh mẽ để loại trừ khổ đau. Nhằm để loai trừ khổ đau, thật cực kỳ quan trọng để thấu hiểu những khổ đau đó là gì. Nếu chúng ta không có bất cứ sự thấu hiểu nào về khả năng loại trừ khổ đau như vậy, hay việc đạt đến tình trạng của việc loại trừ khổ đau, thì không có ích gì trong việc quán chiếu về khổ đau. Hầu như chỉ có nghĩa là việc tiếp nhận một quan điểm bi quan. Nên điều cực kỳ quan trọng là việc thấu hiểu khả năng của việc đạt đến một vị thế cao hơn, thể trạng của một con người hay chư thiên. Có hai loại tái sinh: một là trong thế giới khổ đau hơn và thứ kia là trong một thế giới hạnh phúc hơn.

Cùng một chủ đề có thể được nghiên cứu từ những khía cạnh khác nhau. Và bởi vì chúng ta nghiên cứu nó từ những quan điểm khác nhau, chúng ta có thể đón nhận một tác động khác nhau từ cùng một đối tượng. Khi chúng ta nói về tầm quan trọng của việc nghiên cứu cùng một chủ đề từ những khía cạnh khác nhau, nó liên tục lần lượt với thực tế bởi vì mỗi một đối tượng riêng lẻ có vài khía cạnh và nhận thức.

Đâu là sự phân ranh giới mà qua đó chúng ta có thể quyết định những gì tồn tại và những gì không tồn tại? Sự phân ranh giới giữa sự tồn tạikhông tồn tại là: những gì được nhận thức bởi một nhận thức có căn cứ là tồn tại, và những gì không được nhận thức bởi một khái niệm có căn cứ là không tồn tại. Loại phân ranh giới này hay sự giải thích này là điều gì đấy sẽ đưa chúng ta đến nhiều câu hỏi hơn. Không dễ để thông hiểu. Vì thế, tôi thấy định nghĩa của Long Thọ về khác biệt sự tồn tạikhông tồn tại cả hai đều vững chắcthích đáng.

Trong tác phẩm của mình Long Thọ nói rằng một hiện tượng đặc thù có thể được xem là tồn tại nếu sự tồn tại của nó phù hợp với những sự tin chắc một cách quy ước được biết bởi những người khác, nếu loại thừa nhận ấy là không mâu thuẩn bởi những nhận thức giá trị khác và nếu nó không mâu thuẩn bởi một tâm phân tích chân lý cứu kính.

Do thế, đây là ranh giới duy nhất giữa điều gì đấy tồn tại và điều gì đấy không tồn tại. Ngay cả trong đặc trưng của đối tượng tồn tại, nó có thể có những khía cạnh khác nhau hay phương diện khác nhau. Ở đây chúng tôi dùng thuật ngữ "tồn tại tương đối" và từ quan điểm này, mọi thứ là tương đối. Không có sự tồn tại chắc thật. Việc nhận ra khổ đau là rất hữu ích khi chúng ta đối diện một rắc rối hay đau khổ nào đó. Sau đó sự đáp ứng hay thái độ của chúng ta là chính sự tồn tại của chúng ta liên hệ với khổ đau một cách tự nhiên trong bản chất. Đây là căn bản. Chúng ta cho đấy là đương nhiên, và khi chúng ta chạm trán nó, chúng ta không xem nó như điều gì đó không thể chạm trán bởi vì chúng ta biết thực tế sự tồn tại của chúng ta. Chúng ta có một thái độ thực tiển, và thay vì phải trở nên thất vọng tâm thần, chúng ta nhiệt tình hơn để phát triển một sự phản ứng tích cực, và một cách cứu kính đạt đến thể trạng nơi chúng ta có thể hoàn toàn vượt thắng những phản ứng tiêu cực.

Vào thời điểm lâm chung, tâm chạm trán sự chết, có thể có hai loại: trình độ thô của tâm và trình độ vi tế của tâm. Tại trình độ thô của tâm bè bạn quanh ta vào lúc lâm chung có thể giúp để trau dồi những thái độ tích cực nào đó. Nhưng khi chúng ta đi vào trong trình độ vi tế của tâm, những thân hữu bên ngoài không làm được gì. Chính là loại thói quen tích cực, bất cứ điều gì chúng ta có thể có trong đời sống hiện tại hay những đời sống trước đây, sẽ được đưa vào sự đánh giá [của tâm thức]. Do thế, từ lúc tuổi trẻ chúng ta phải làm cho quen thuộc với sự chết và trải nghiệm những tình trạng khác nhau của tiến trình tinh thần như thế nào của tiến trình tinh thần trong sự tan biến của tâm. Và nếu có thể, hãy tự làm cho mình quen thuộc với chúng qua thiền tậpquán tưởng hàng ngày. Thay vì sợ hãi cái chết, chúng ta có thể phát triển một sự thấu hiểu về nó. Nhiều năm chuẩn bị là cần thiết. Một khi chúng takinh nghiệm về tâm sâu hơn và vi tế qua thiền tập, rồi thì cuối cùng, khi cơ hội thật sự phát khởi, chúng ta có thể thật sự kiểm soát tiến trình của sự chết. Điều ấy dĩ nhiên, không thể được hoàn tất bởi tất cả mọi người. Nó chỉ có thể được thực tập bởi những ai đã đạt đến một trình độ cao cấp của sự thực tập. Khi điều này được hoàn thành trong sự kết hợp với thực hành mật tông, rồi thì sự thực tập di chuyển thần thức cũng có thể được hoàn thành. Nhưng sự thực tập quan trọng nhất và năng lực nhất là việc ghi nhớ tâm giác ngộ hay tâm bồ đề, lòng vị tha vô hạn. Mặc dù tôi thực hiện những pháp môn bổn tôn du già khác nhau trong công phu hàng ngày, nhưng tôi có một sự vững vàng hơn trong việc ghi nhớ tâm bồ đề vào thời điểm lâm chung. Mặc tôi chưa phát triển trọn vẹn tâm bồ đề, nhưng tôi vẫn cảm thấy nó có một sự gần gũi nào đấy với sự chết. Vì thế vào thời điểm lâm chung, hãy tập trung trên tâm giác ngộ hay tâm bồ đề tối đa như chúng ta có thể.

Việc thực tập tâm bồ có nghĩa là trau dồi một tâm vị tha, nguyện ước đạt được Quả Phật vì tất cả chúng sinh khổ đau. Điều ấy rất rất là năng lực. Nếu chúng ta có thể trau dồi loại tâm này ngay cả ở trình độ ngưỡng mộ, nó chắc chắn sẽ để lại một dấu ấn và một tác động mạnh mẽ. Với việc quan tâm đến những sự thực hành mật tông, chúng ta có thể thực tập những sự quán tưởng và trì tụng những mật ngôn nào đấy và v.v..., nhưng nếu sự thực tập mật tông không kết hợp với những sự thực tập cần yếu khác, chúng thường sẽ đưa đến những kết quả tệ hại.

Kết luận, những sự thực tập như tâm giác ngộ hay tâm bồ đề tự động đưa đến sự tĩnh lặng vào thời điểm lâm chung. Theo quan điểm Đạo Phật, tâm vào thời điểm lâm chung ở vào một giai tầng rất quan trọng, và nếu chúng ta có thể lưu lại một tác động mạnh mẽ vào thời điểm lâm chung, tác động ấy sẽ trở thành một năng lực mạnh mẽ trong sự tương tục của một kinh nghiệm tích cực trong đời sống tiếp theo. Điều ấy là chắc chắn. Đối với những hành giả Phật Giáo, đấy là tại sao chúng ta có thể có một đời sống đầy đủ ý nghĩađối diện với cái chết. Trong thực tế, trong sự thực hành mật tông, có một châm ngôn là: hãy đưa sự chết vào trong con đường của "thân thể chân thật", hay pháp thân. Chúng ta sử dụng kinh nghiệm của sự chết như một sự thực hành tâm linh. Giai đoạn trung ấm thân sau khi chết cũng được đưa vào con đường "thân thể thụ dụng" hay báo thân, và sự sinh được đưa vào con đường của "thân thể hóa hiện" hay hóa thân.

Nên kinh nghiệmchúng ta có vào thời điểm lâm chung, cho dù nó là kinh nghiệm tích cực hay tiêu cực, tùy thuộc rất nhiều trong việc chúng ta sống như thế nào trong cuộc đời của chúng ta. Điều quan trọng nhất là đời sống hàng ngày của chúng ta phải là đẩy đủ ý nghĩa, tích cực, và chúng ta phải sống cát tườnghạnh phúc.

VẤN ĐÁP

HỎI: Vì triết lý của Đạo Phật là không làm tổn hại, chỉ làm lợi ích cho người khác, trong trường hợp của những quyết định thực tiển trong đời sống hàng ngày, nếu ai ấy muốn giết ta và ta không có cách nào để thoát khỏi, ta phải làm gì?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Từ một nhận thức rộng hơn, mục tiêu của đời sống hiện tại của chúng ta là gì? Chúng ta cũng nên phán xét khả năng của ta khi quan tâm đến việc ta có thể làm lợi ích và hổ trợ người khác được bao nhiêu? Dĩ nhiên nếu ai đấy tấn công ta, ta nên trốn thoát hay tránh sự tấn công. Nếu không có khả năng khác, thì tôi nghĩ đấy là quyền cá nhân để tự bảo vệ. Vì thế không có sự giết chóc, chúng ta có lẻ có thể làm tổn thương chân hay tay của người tấn công. Như thế, nếu quý vị phải chọn lựa.

HỎI: Có phải sáu cõi luân hồi là những thế giới thật sự, hay chúng chỉ là những tình trạng luân hồi đơn thuần của chúng sinh?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Chúng là một thực thể. Tôi tin rằng chúng thật sự tồn tại. Nhưng cùng lúc tôi phải nói rằng tôi hoài nghi về những sự giải thích, chúng phải được hiểu theo nghĩa đen hay không?

HỎI: Làm thế nào chúng ta tiếp tục tin tưởng trong bản chất tốt đẹp cố hữu của con người khi chúng ta thấy những con người đau khổ giáng tai họa xuống những đồng loại của họ?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nếu chúng ta tiếp nhận một quan điểm rộng rãi hơn, tất cả chúng sinh như một chủng loại đã được tồn tại qua sự chăm sóc của bà mẹ hay một nhân vật như mẹ đã chăm sóc và có những cảm giác thương yêu. Không có sự chăm sóc hổ tương, thương yêu và cảm nhận, chúng ta không thể tồn tại. Sự tồn tại của năm bảy triệu người là bằng chứng của sự kiện này. Một lý do khác là thân người của chúng ta: những cảm giác tiêu cực là rất tệ hại cho sức khỏe. Những cảm xúc tích cực hay sự hòa bình của tâm hồn là một ảnh hưởng tích cực trên thân thể này. Đây là căn bản lòng tin của chúng ta. Điều này không có nghĩa là chúng ta không có những khía cạnh tiêu cực trong bản chất của chúng ta. Những cảm xúc tiêu cực cũng là một bộ phận của tâm thức. Tôi nghĩ một sự giải thích khác là cách tác động nhất để thay đổi tâm thức của người khác là với tình cảm, và không sân giận. Thật khó tồn tại mà không có cảm nhận từ bi. Không có sân giận, không chỉ tồn tại dễ dàng hơn, tự chính đời sống cũng hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, không có tình cảm, chúng ta không thể tồn tại. Do thế, tôi cảm thấy rằng tình cảm là năng lực ưu thắng trong đời sống của chúng ta.

HỎI: Khoa học hiện đại diễn tả cá tính được quyết định bởi di truyền và những nhân tố môi trường. Ngài xem chúng tương hợp với sự tái sinh như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Chúng tôi gọi trình độ tâm thô, tâm con người. Trình độ này của tâm, trình độ thô của tâm, lệ thuộc trên não bộ con người hay thân thể vật lý của con người, rất liên hệ với những dữ liệu di truyền. Ở đây chúng ta phải thấu hiểu rằng khoa học hiện đại có thể cung ứng nhiều sự giải thích, và những điều rất đáng thuyết phục, qua hệ thống di truyền học. Nhưng có nhiều vùng xám (không rõ) - những thứ mà họ không thể giải thích - và những thứ này vẫn đang được khảo sát.

HỎI: Làm sao chúng ta chắc rằng những gì chúng ta đang làm là hiệu quả tích cực (đấy là điều mà có thể là tiêu cực trong con mắt của người khác ngoại trừ tôi)?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Bản chất của trình độ rất vi tế của tâm hay những nhân tố tích cực ở tại một trình độ rất vi tế là những thể trạng tự nhiên của tâm. Những điều này không thể giải thích một cách dễ dàng và đòi hỏi những giải thích chi tiết hay một trình độ vi tế hơn của sự giải thích. Nhưng nói một cách tổng quát, tất cả những hành vi ấy, tất cả những thái độ đó đã được tại nên bởi những cảm xúc tiêu cực, là không xứng đáng; chúng là tiêu cực. Khi chúng ta nói về những cảm xúc phiền não tiêu cực , chúng ta đang nói về những trình độ ấy của tâm và những thái độ đó, là những thứ khi chúng phát khởi, quấy rầy sự an hòa, để cho con người chúng ta hoàn toàn bị xáo trộn và làm cho chúng ta bức rức băn khoăn. Khi thù hận, ganh tỵ và những loại tham đắm cực độ phát triển, tại thời điểm ấy chúng ta không bao giờ có sự hòa bình của tâm hồn. Trái lại, với lòng từ bi mạnh mẽ, chúng ta có thể có một cảm giác không an lòng khi thấy người khác khổ đau, nhưng chúng ta đã từng phát triển điều ấy một cách tự nguyện, và với lý trí. Do thế, chúng ta chấp nhận nó và sự tĩnh lặng duy trì tiềm tàng.

Tất cả những hành vithái độ được trau dồi qua những thái độ phiền não tiêu cực là những việc làm tiêu cực. Rồi thì có những thái độ là những thái độ hay hành động đạo đức bởi vì chúng ta đưa đến nghiệp quả tốt và việc đạt đến một sự tái sinh tích cực cao thượng hơn.

HỎI: Tuần này tôi vừa biết rằng mẹ tôi bị ung thư vú. Chúng ta dùng bệnh hoạn tận cùng như một viên đá lót đường cho sự trưởng thành cá nhân như thế nào và gia đình và bạn hữu có thể làm cho khổ đau của họ sản sinh ra tích cực như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nếu mẹ của bạn có theo một tín ngưỡng nào đó, thế thì hãy suy nghĩ phù hợp với tín ngưỡng của bà. Nếu bà là một người không tín ngưỡng, thế thì tôi nghĩ thân hữu cần biểu lộ một thái độ thương mến từ ái tối đa như có thể, và chia sẻ những rắc rối của bà.

HỎI: Chúng tôi thấy rằng những người tốt khổ sở, và những người xấu đang hưởng thụ lợi ích và sự công nhận. Thế thì chúng tôi tin tưởng trong cuộc sống tích cực hàng ngày như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Trong dạng thức triết lý Phật Giáo, loại quán chiếu như thế là thiển cận. Những loại kết luận như thế này là vội vàng. Nếu chúng ta phân tích chi tiết hơn, chúng ta sẽ thấy rằng những kẻ tạo nên rắc rối như thế chắc chắn không hạnh phúc. Nhưng rồi thì, tương lai mỗi người một cách căn bảntrách nhiệm của chính người ấy. Tốt hơn là hãy hành xử tốt. Có thể có một số người nào đó mà cung cách sống của họ là rất tiêu cực, nhưng đây không phải là điều gì đó nên làm theo. Thí dụ, không đúng để nói rằng tôi sẽ giết cha mẹ tôi vì ai đấy đã giết cha mẹ họ. Chúng ta phải chịu trách nhiệm đời sống của chính chúng ta, và hướng đến một đời sống tích cực.

Điều này được giải thích từ quan điểm của Đạo Phật. Chúng ta có thể thấy con người cư xử sai sót và làm đủ thứ chuyện tiêu cực. Họ dường như đang sung sướng hơn những người hiền lương. Lý do cho điều này là những người ấy đã từng tích tập một ít hành vi tích cực, và khối lượng những việc làm tốt đẹp ấy không đủ để hoạt hóa cho họ vào một sự hiện hữu cao hơn, hạnh phúc hơn. Họ đang hưởng thụ những hoa trái với một vài hành vi tích cực mà họ đã từng hoàn thành, và họ đang nhanh chóng tàn phai những kết quả từ những việc làm tích cực của họ.

HỎI: Tại sao loài người tiến hóa từ những hình thức thấp kém của động vật? Điều gì nổi bật trong vấn đề này?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Điều này diễn biến lần lượt với quá trình tiến hóa tổng quát. Những người Phật tử tin rằng trước khi những thiên hà hình thành, những năng lực đến với nhau, và cuối cùng hình thức cụ thể và những phân tử được phát triển. Vì thế, sự giải thích của Đạo Phật và thuyết Darwin, liên hệ như sự tiến hóa, có nhiều sự tương đồng.

HỎI: Chúng tôi có thể giúp gì với vấn đề Tây Tạng? Có bất cứ tổ chức nào ở Ấn Độ hổ trợ cho cuộc vận động của Tây Tạng?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Chính phủ Ấn Độdĩ nhiên, chính quyền những tiểu bang, cũng như người dân Ấn Độ, giúp đở rất nhiều. Nhưng rồi thì, vấn đề Tây Tạng là rất phức tạp. Sự hổ trợ khi thời gian trôi qua dĩ nhiên đang tăng trưởng.

HỎI: Có phải chúng ta phải sinh đi sinh lại nhiều lần như những con người cho đến khi chúng ta đạt đến niết bàn?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Nếu bạn có thể đạt đến niết bàn trong kiếp sống này, ấy là điều tốt nhất. Nếu không thể, thế thì niết bàn có thể được đạt đến qua nhiều kiếp sống liên tiếp. Việc đạt đến kiếp sống con người vì thế cần thiết.

HỎI: Ngài không nghĩ rằng một khối lượng khổ đau nào đó giúp cho sự phát triển tâm linh của nhân tính?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Với điều kiện là bạn có thể chuyển hóa thảm họa hay sự bất hạnh ấy vào con đường [tu tập], chạm trán với khổ đau chắc chắn cống hiến đến tiến triển của sự thực hành tâm linh.

HỎI: Bằng việc chuyển hóa chính mình từ một thể trạng tâm tiêu cực đến một thể trạng tích cực, chúng ta có thể đối xử trí với giai đoạn khởi đầu của nghi ngờ và bồn chồn (trạo cử) như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Trong giai đoạn khởi đầu, điều cực kỳ quan trọng để có một cái nhìn tổng quát về toàn bộ tiến trình của con đường tâm linh. Có thể có hai loại hành giả, với một loại có một sự thấu hiểu tốt về những trình độ khác nhau của con đường tâm linh. Điều này sẽ làm nên một sự khác biệt lớn trong việc trau dồi sự thực tập trong tâm thức họ và hiệu quả của nó, mặc dù họ đang thực tập cùng một chủ đề. Đó là tại sao, như trong truyền thống Tây Tạng, học hỏithiền quán được phối hợp. Đây là một truyền thống rất tốt.

HỎI: Chúng ta cân bằng những quyền lợi hợp pháp với các giá trị đạo đức như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Dường như rằng luật pháp là một lãnh vực riêng biệt, và theo một số luật gia chuyên môn, không có ý kiến về những giá trị đạo đức. Tôi không biết. Nhưng như một hành giả Đạo Phật, tôi tin rằng trong luật tự do, quyền cá nhântự do cá nhân là rất rất quan trọng. Nhưng điều này không có nghĩa rằng chúng ta bất chấp quyền lợi của người khác hay sự tự do của họ.

HỎI: Ngài có ý kiến gì về hiện tượng cúng dường sửa cho tượng Ganesh[2] mới gần đây, như được báo cáo bởi những hành giả khắp thế giới?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi ước ao được gặp người thật sự chứng kiến điều này - một người đã thật sự cúng sửa cho tượng Ganesh. Như một Phật tử, tôi tin rằng trong những năng lực vô hình hay năng lượng vô hình. Điều này là thông thường. Tôi nghĩ trong trường hợp này, tốt hơn là nên giữ sự hoài nghi, dĩ nhiên,

ngoại trừ, nó thật sự xảy ra. Cũng có thể nó thật sự đã xảy ra.

Siri Fort Auditorium, 1995

Nguyên tác: How to live and die in a better way

Ẩn Tâm Lộ ngày 22-5-2012



[1] Thiruvananthapuram [t̪iruʋən̪ɨn̪t̪əpurəm] (trợ giúp·chi tiết) (tiếng Malayalam: തിരുവനന്തപുരം Tiruvanantapura), cũng gọi là Trivandrum, là thủ phủ bang Keralaquận Thiruvananthapuram của Ấn Độ. Thành phố này nằm ở bờ biển phía tây của Ấn Độ, gần cực nam của đại lục. Thành phố này được Mahatma Gandhi gọi là "thành phố thường xanh của Ấn Độ", đây là thành phố có địa hình đặc trưng của đồi thấp ven biển và các thung lũng thương mại.

[2] Sự mầu nhiệm của sửa Ấn Giáo là một hiện tượng được xem như một trong nhiều sự mầu nhiệm của Ấn Giáo xảy ra vào ngày 21 tháng Chín, 1995. Trước bình minh một người Ấn Giáo tại một ngôi đền ở New Delhi cúng sửa cho tượng Ganesh. Khi muỗng sửa được để ngay vòi tượng voi, sửa được thấy biến mất, rõ ràng tượng đã tiếp nhận sửa cúng.