Đ�U L� CH�N HẠNH PH�C
[mục lục] [lời đầu s�ch] [p1] [p2] [p3] [p4] [p5] [p6]
| GẦN V� XA NIẾT B�N Tất cả mọi người tu, ai cũng c� ước nguyện sanh về c�i Cực Lạc hoặc nhập Niết B�n v� sanh kh�ng c�n lu�n hồi sanh tử. Nhưng tu thế n�o mới được gần v� được Niết B�n ? Tu thế n�o xa v� kh�ng được Niết B�n. B�i kệ sau đ�y của một T�n giả đệ tử Phật n�i về việc gần v� xa Niết B�n : Thấy sắc niệm say m�, Nếu t�c � �i tưởng, T�m tham đắm cảm thọ T�m nhập v� an tr�, Thọ người ấy tăng trưởng, Nhiều loại do sắc sanh, Tham hại t�m lớn mạnh. Ch�ng gia hại t�m n�, Khổ chất chứa như vậy Rất xa vời Niết B�n. Người đối với mọi h�nh sắc, vừa thấy liền khởi niệm say m�, rồi t�c � ưa th�ch nghĩ tưởng h�nh sắc, thế l� l�ng tham ch�m đắm trong cảm thọ. Do tham đắm trong cảm thọ, n�n t�m nhập v�o sắc v� an tr� nơi sắc th� cảm thọ của người ấy đối với sắc c�ng ng�y c�ng tăng th�m. nếu cảm thọ tăng th�m, th� c� nhiều thứ phiền n�o tội lỗi do cảm thọ sắc m� sanh ra, như t�m tham, t�m hại c�ng ng�y c�ng lớn mạnh. Nếu t�m hại c�ng lớn mạnh th� t�m bồ đề bị lu mờ : Nghiệp chướng phiền n�o chất chồng, c�ng ng�y c�ng xa niết b�n. Kh�ng những đối với sắc, đắm m� sắc c� những c�i hại như thế,m� đuổi theo thanh đắm m� thanh, đuổi theo hương đắm m� huơng, đuổi theo vị đắm m� vị, đuổi theo x�c đắm m� x�c cũng c� những c�i hại tương tự. C�ng ng�y c�ng xa Niết B�n. Nguợc lại th� gần với Niết B�n : Kh�ng tham nhiểm c�c sắc Thấy sắc giữ ch�nh niệm T�m kh�ng tham cảm thọ Kh�ng x�m nhập an tr� Thấy sắc như thế n�o ? Như vậy c� cảm thọ Từ bỏ kh�ng t�ch lũy Ch�nh niệm h�nh tr� vậy Như vậy kh�ng chứa khổ Được vậy gần Niết B�n. Người thấy sắc kh�ng nhiểm sắc, tuy mắt thấy sắc m� t�m vẫn an tr� trong ch�nh niệm n�n kh�ng chạy theo cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ. Đ� kh�ng chạy theo cảm thọ th� t�m kh�ng x�m nhập nơi sắc v� kh�ng an tr� nơi sắc. Thấy sắc như thế n�o th� ghi nhận (thọ) như thế ấy. Kh�ng khởi t�m ph�n biệt thủ xả chấp trước, hằng ở trong ch�nh niệm th� phiền n�o trần lao khổ kh�ng dấy khởi. Người kh�ng phiền n�o kh�ng khổ đau l� gần với Niết B�n. Vậy, xa với Niết B�n hay gần với Niết B�n l� do mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n tiết x�c với sắc, thinh, hương, vị, x�c; nếu d�nh, kẹt, nhiễm trước th� xa Niết B�n; kh�ng kẹt, kh�ng nhiễm trước, l� gần với Niết B�n. Một h�m T�n giả Ph� L�u Na đến đức Phật đảnh lễ, qu� thưa : Bạch Thế T�n, con nuốn đến một chỗ vắng vẻ để tu. Xin Thế T�n dạy cho con phương ph�p tu đơn giản dễ nhớ, để con đến đ� tu h�nh ch�ng đạt được đạo. Phật dạy : - Mắt thấy sắc kh�ng nhiễm trước, kh�ng d�nh mắc l� gần với Niết B�n, tai nghe tiếng kh�ng nhiễm trước, kh�ng d�nh mắc la gần với Niết B�n; mũi ngửi m�i, lưỡi nếm vị, th�n chạm x�c kh�ng nhiễm trước, kh�ng d�nh mắc l� gần với Niết B�n. Ngược lại, nếu nhiễm trước, nếu d�nh mắc l� xa với Niết B�n. T�n giả Ph� L�u Na v�ng lời Phật dạy đi đến chổ vắng vẻ để tu. Phật dạy tu rất l� đơn giản. Tại sao mắt thấy sắc nhiễm trước d�nh mắc lại xa với Niết B�n ? Mắt của qu� vị hiện thấy h�nh sắc, c�i thấy đ� c� giống nhau kh�ng ? Thế thường người đời hay n�i : ch�nh mắt t�i thấy, đ� l� sự thật. Theo qu� vị th� mắt, tai thấy nghe c� đ�ng sự thật kh�ng ? V� dụ c� một nh�m người v�o tiệm b�n vải. Tiệm vải chưng b�y nhiều xấp h�ng c�ng loại m� kh�c m�u : n�o xanh, v�ng, đỏ, trắng, đen, t�m... Khi chọn h�ng mua, kẻ th� chọn m�u trắng, ngư�i th� chọn m�u lam, kẻ th� chọn m�u v�ng, mỗi người t�y theo sở th�ch của m�nh m� chọn mỗi m�u. Người chọn m�u trắng cho m�u trắng đẹp, người chọn m�u lam cho m�u lam đẹp, người chọn m�u v�ng cho m�u v�ng đẹp. Mỗi người c� mỗi nhận định, c� mỗi sở th�ch kh�c nhau.Vậy m�u n�o đẹp thật ? Nếu mỗi người mỗi chấp m�u m�nh th�ch l� đẹp nhất, th� c� c�i lộn nhau kh�ng ? Kh�ng đồng � nhau khư khư với c�i chấp của m�nh ắt sanh tranh c�i. Như vậy thấy sắc chấp chặt v�o sắc th� sanh nhiễm trước, rồi bảo vệ c�i m� m�nh chấp. Do bảo vệ c�i chấp của m�nh, c� ai n�i kh�c với c�i chấp của m�nh th� chống đối ...Từ chấp trước sanh s�n hận, từ s�n hận g�y ra nhiều thứ phiền n�o khổ đau. Đ� khởi phiền n�o s�n hận l�m sao gần niết b�n được ? C�i nghe cũng vậy, nhiều người c�ng nghe một b�i ph�p, người th� khen đoạn n�y hay, kể chuyện qu� hay, kẻ th� khen đoạn kia l� tuyệt. C�n người th� ngồi ngủ gục kh�ng biết hay. C�ng nghe một b�i ph�p người khen chỗ n�y, người khen chỗ kia, người th� kh�ng khen. Nếu nguời khen chấp chặt c�i khen của m�nh l� đ�ng th� c� cải lộn nhau kh�ng ? C�i nghe của mỗi người c� đến lẽ thật, c� phải l� ch�n l� kh�ng ? V� kh�ng phải l� ch�n l� m� chấp chặtn�n g�y ra phiền n�o khổ đau, xa Niết B�n. Đến c�i ngửi, th�ng thường hương thơm th� mũi ai cũng ghi nhận thơm, m�i h�i th� mũi ai cũng biết h�i. Tuy nhi�n c� c�i người n�ykhen thơm, người kh�c lại ch� h�i. Chẳng hạn như người chưa từng ăn sầu ri�ng th� ch� sầu ri�ng h�i; c�n người quen ăn sầu ri�ng th� th�ch, khen sầu ri�ng thơm. Vậy m�i sầu ri�ng thơm hay h�i m� người khen thơm, người ch� h�i ? Thơm h�i t�y theo sở th�ch sai biệt của mỗi nguời, n� kh�ng cố định. Kh�ng định được thơm l� đ�ng hay h�i l� đ�ng. Nếu chấp chặt v�o đ� m� tranh c�i th� s�n hận dấy khởi, bao nhi�u thứ phiền n�o khổ đau chất chồng, l�m sao gần Niết B�n được ? Thứ nữa l� lưỡi nếm vị, vị nếm c� giống nhau kh�ng ? C�ng ăn một m�n m� người khen ngon kẻ ch� dở. Chẳng hạn c� đầu bếp quen ăn mặn, nấu thức ăn c� nấu vừa với khẩu vị của c�. Khi dọn cơm l�n người kh�ch xa ăn thấy mặn. Người n�i mặn, người n�i vừa ăn, ai n�i đ�ng ? Nếu người n�i vừa ăn l� đ�ng, th� người n�i mặn trật sao ? Nếu cần kiểm chứng th� ai l� người l�m chứng cho ra lẽ thật ? Nếu người quen ăn lạt x�c chứng th� thức ăn của đầu bếp mặn, đầu bếp nấu ăn dở. Nếu người quen ăn mặn x�c chứng th� thức ăn của người đầu bếp vừa ăn. Để thấy khẩu vị của mỗi người kh�ng giống nhau m� chấp chặt v�o đ�, sẽ sanh tranh c�i, tranh c�i th� đưa tớigiận hờn phiền n�o khổ đau xa Niết B�n. B�y giờ tới th�n x�c chạm. Th�n x�c chạm cũng kh�ng giống nhau nữa. V� dụ ở miền Nam Việt Nam, v�o m�a Đ�ng người c� th�n h�nh mập mạp v� người c� th�n h�nh ốm yếu c�ng ở chung một ph�ng. Người c� th�n mập mạp cảm thấy vừa m�t, c�n người ốm cảm thấy lạnh buốt. Trong ph�ng c� bao nhi�u cửa sổ người ốm đều đ�ng lại để giữ hơi ấm. Khi đ�ng cửa th� người mập cảm thấyn�ng nực. Như vậy th� sao ? Nếu đ�ng cửa th� người mập n�ng, kh�ng đ�ng cửa th� người ốm lạnh run. Vậy x�c chạm của ai đ�ng ? Người thấy lạnh đ�ng hay người thấy n�ng đ�ng ? Để thấy x�c chạm cũng kh�ng giống nhau, x�c chạm của người n�y người kia kh�ng chấp nhận. Vậy x�c chạm cũng kh�ng đ�ng sự thật. Đ� kh�ng thật m� chấp chặt v�o đ� th� sanh tranh c�i buồn phiền với nhau, xa Niết B�n. Như vậy mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n ch�ng ta x�c chạm với sắc, thinh, hương, vị, x�c, mỗi người đều cho c�i thấy của m�nh l� đ�ng rồi chấp chặt v�o đ�, sanh tranh cải với nhau g�y bao nhi�u thứ phiền n�o cho nhau, n�n c�ch Niết B�n qu� xa. C�n nếu kh�ng chấp chặt, kh�ng cho c�i thấy biết của m�nh l� đ�ng, kh�ng cho c�i thấy biết của nguời kh�c l� sai, th� kh�ng phiền n�o. Kh�ng phiền n�o th� gần với Niết B�n. Vậy xa Niết B�n v� gần Niết B�n l� tại đ�u ? Năm căn tiếp x�c với năm trần chấp chặt l� xa Niết B�n, Ngược lại năm căn tiếp x�c với năm trần m� kh�ng đuổi theo, kh�ng chấp chặt l� gần với Niết B�n. Thuở xưa ở xứ Ba La Nại, Quốc Vương nước n�y sanh ra một trăm người con. Vị Ho�ng tử �t thầm nghĩ rằng : M�nh l� con thứ một trăm, ngai v�ng m� vua cha truyền lại kh�ng bao giờ đến m�nh. Người được nối ng�i l� anh cả. Nếu anh cả c� chết th� anh hai, anh ba... N�n Ho�ng tử cầu nguyện với bậc Hiền Th�nh chỉ cho một quốc độ m� Ho�ng tử c� thể t�m đến để l�m vua. L�ng ước nguyện của Ho�ng tử được cảm ứng. Một vị Phật B�ch Chi đến bảo rằng : - C�ch nước ngươi một trăm dặm, ngươi qua xứ ấy sẽ được l�m vua. Nhưng từ đ�y tới đ� phải qua một khu rừng c� quỉ la s�t. Đa số người qua rừng n�y đều bị quỉ ăn thịt, �t ai qua khỏi. Nếu qua khỏi th� chắc chắn được l�m vua. V� muốn qua khỏi khu rừng đ� kh�ng bị quỉ la s�t ăn thịt th� tất cả những g� m� quỉ hiện ra để quyến rủ dụ dỗ phải từ chối hết. Cứ thẳng tới trước m� đi th� kh�ng bị hại. Nếu mắc kẹt ở đ� nhất định sẽ bị quỉ la s�t ăn thịt. Ho�ng tử nghe vị Phật B�ch Chi n�i như thế liền xin ph�p vua cha để đến xứ ấy. Khi chuẩn bị h�nh l� th� c� một số bạn b� th�n mến xin đi theo. Ho�ng tử n�i rằng : - Con đường n�y hiểm trở lắm, c�c anh đi, e dọc đường quỉ la s�t ăn thịt. T�i kh�ng d�m rủ c�c anh đi. Những người bạn n�i rằng : - Anh đi được th� ch�ng t�i đi được. Anh h�y cho ch�ng t�i c�ng đi. C� g� ch�ng t�i cam chịu. Ho�ng tử nghĩ nếu kh�ng cho c�c bạn đi l� m�nh �ch kỷ, n�n t�y thuận để cho c�c bạn c�ng đi. C� năm người c�ng đi theo Ho�ng tử. Qua khỏi ranh bổn quốc th� tới một khu rừng gi�. Tới đ�y đo�n người lữ h�nh đi đường xa đ� thấm mệt, bỗng một qu�n rượu hiện ra, người b�n th� đẹp, rượu v� đồ nhắm thơm ngon. Trong đo�n c� người đ� quen uống rượu, n�n bị m�i rượu k�ch th�ch. Anh b�n xin dừng lại uống rượu rồi sẽ đi sau. Ho�ngtử cảnh c�o : - Kh�ng được, coi chừng quỉ la s�t n� hiện ra đ�, anh ở lại n� ăn thịt anh. Người th�ch rượu trả lời : - Kh�ng hề g�, t�i uống xong đi liền. Người ấy v� qu�n rượu, đo�n của Ho�ng tử cứ đi. Người th�ch uống rượu say, bị quỉ la s�t ăn thịt. Đo�n Ho�ng tử đi th�m một đoạn đường d�i kh� xa, mọi người đều mỏi mệt. Trước mặt hiện ra một ng�i nh� thiệt đẹp, trong nh� c� nhiều c� g�i nhan sắc kiều diễm. Đo�n người đi ngang, một c� chạy ra mời v�o nghĩ cho khỏe rồi h�y đi. Trong đo�n c� một anh h�o sắc, thấy g�i đẹp động t�m. Ho�ng tử kh�ng bằng l�ng dừng lại, tiếp tục dẫn đo�n đi... Anh h�o sắc n�i : - C�c anh h�y đi, t�i ở lại nghỉ một đ�m, rồi mai t�i theo sau cũng được. Ho�ng tử cảnh c�o : - Anh ở lại coi chừng quỉ la s�t n� ăn thịt anh. Anh h�o sắc kh�ng nghe lời Ho�ng tử, cứ l�m theo thị hiếu của m�nh, anh ở lại nghỉ một đ�m, khuya bị quỉ la s�t ăn thịt. Đo�n Ho�ng tử đi th�m một đoạn đường d�i nữa. Người trong đo�n hết sức mệt mỏi. Trước mặt lại c� ng�i biệt thự hiện ra, từ biệt thự vang ra những tiếng ca v�o von với điệu nhạc du dương. V� một c� g�i ra mời đo�n người v�o nh� uống tr� nghe nhạc. Trong đo�n c� anh m� �m nhạc, n�n xin ở lại uống tr� nghe �m nhạc. Ho�ng tử kh�ng bằng l�ng can ngăn: - Kh�ng được, anh ở lại sẽ bị quỉ la s�t n� ăn thịt. Nhưng anh m� �m nhạc kh�ng nghe, dứt kho�t ở lại uống tr� nghe nhạc. Tối đến bị quỉ la s�t ăn thịt. Đo�n người c�n lại vẫn tiếp tục đi, đi được một quảng đường kh� d�i, lương kh� gần cạn, bụng đang đ�i cồn c�o. Trước mặt hiện ra một qu�n cơm với m�i thức ăn chi�n, kho... bay thơm ng�o ngạt. Trong đo�n c� anh xấu bụng đ�i, nghe m�i thức ăn thơm ngon,anh chịu kh�ng nổi xin ở lại ăn cơm. Ho�ng tử kh�ng đồng �, khuyến c�o rằng : - Kh�ng được, anh ở lại quỉ la s�t sẽ ăn thịt anh. Kệ, ăn th� ăn, t�i ở lại, đ�i qu� rồi. Anh ở lại ăn no n� rồi th� quỉ la s�t n� ăn thịt anh. Người th�ch rượu ngon, người ưa sắc đẹp người ưa �m nhạc, người th�ch cao lương mỹ vị đi kh�ng được, n�n bị quỉ la s�t ăn thịt hết rồi ! Trong đo�n chỉ c�n lại một người với Ho�ng tử. Cả hai tiếp tục đoạn đường c�n lại, đi được khoảng hai phần ba đường th� một biệt thự khang trang hiện ra, trong nh� c� một g�a phụ với một tỳ nữ hầu hạ. G�a phụ ra đ�n mời hai người với lời giới thiệu ng�i biệt thự đầy đủ tiện nghi n�o chăn �m, nệm ấm, kh�ng thiếu m�n g�. Người bạn c�n lại trong đo�n qu� mỏi mệt, nghe n�i nh� ở đầy đủ tiện nghi, anh th�ch qu� n�n ngỏ � ở lại nghỉ một đ�m, Ho�ng tử ngăn : - Kh�ng được, anh ở lại sẽ bị quỉ la s�t n� ăn thịt. - Kh�ng sao, t�i nghỉ một đ�m rồi sẽ tiếp tục đi. Thế l� tối đ�m đ� quỉ la s�t ăn thịt anh. Chỉ c�n lại một m�nh Ho�ng tử tiếp tục cuộc h�nh tr�nh. Ng�i biết năm người bạn đồng h�nh với Ng�i, đều bị quỉ la s�t ăn thịt hết rồi. Ng�i hết sức l� d� dặt cảnh gi�c. C�n lại một m�nh Ng�i đi đến cuối bi� rừng th� thấy một căn nh�, trong nh� c� hai vợ chồng trẻ đang g�y lộn đ�nh lộn nhau. C� vợ rất đẹp, bị chồng đ�nh, c� k�u ca, cầu cứu. Tuy htấy cảnh thương t�m, nhưng Ho�ng tử kh�ng d�m tới cứu, sợ quỉ la s�t gạt, cứ lầm lũi m� đi. C� vợ k�u cầu Ho�ng tử cứu kh�ng được, thấy Ho�ng tử đi, c� chạy theo năn nỉ : Xin Ng�i cứu t�i, chồng t�i n� hung dữ đ�nh đập t�i, t�i khổ lắm, Ng�i c� l�ng từ bi đ�u để t�i khổ... Nếu l� người h�ng, gặp cảnh thương t�m nhảy ra cứu gi�p. Song, Ho�ng tử biết quỉ la s�t tr� h�nh để gạt Ng�i. N�n Ng�i kh�ng n�i g� hết, cứ lầm lũi m� đi, n� cũng cứ đi theo Ng�i m�i. Khi Ng�i tới nơi, v�o trọ nh� kh�ch của quốc vương xứ ấy. Những người quản l�nh� kh�ch qu� trọng Ng�iv� cấp b�o cho vua hay l� c� một kh�ch qu� từ nước l�ng giềng đến. vua nghe cũng qu� trọng, dẫn b� quan đến thăm Ng�i. Khi gặp Ng�i, nh� vua lại thấy b�n cạnh Ng�i c� một c� g�i thật đẹp, l�m vua động t�m, n�n mới hỏi : - Người đ�n b� theo khanh c� phải l� vợ khanh kh�ng ? Ho�ng tử đ�p : - C� n�y chắc l� quỉ la s�t, chứ kh�ng phải vợ của hạ thần. Người đ�n b� n�i : - Đ�n �ng bội bạc, khi thương n�i vợ chồng, chừng giận n�i quỉ la s�t. Nh� vua kh�ng biết c� ấy l� vợ Ho�ng tử hay quỉ la s�t. Song, v� c� qu� đẹpn�n nh� vua m� mẫn t�m thần, hỏi lại một lần nữa để x�c định : - C� n�y c� phải l� vợ của khanh kh�ng? Ho�ng tử khẳng định dứt kho�t : - Kh�ng phải vợ của hạ thần, c� l� quỉ la s�t. Người đ�n b� ấy cũng n�i : - Đ�n �ng bội bạc, khi thương n�i vợ chồng, chừng giận n�i quỉ la s�t Nh� vua qu� sủng �i n�ng, mới n�i với Ho�ng tử : - Nếu n�i kh�ng phải vợ khanh th� trẫm rước n�ng về cung. Ho�ng tử lại một lần nữa n�i : -T�u bệ hạ, coi chừng c� ta l� quỉ la s�t. Nh� vua truyền lệnh rước n�ng về cung. Tối đ�m đ� vua bị quỉ la s�t ăn thịt, chỉ c�n để lại một bộ xương. Bấy giờ nước kh�ng c� vua, b� quan mới nghĩ : Vị kh�ch qu� n�y l� một vị ho�ng tử của nước l�ng giềng, qua được đường rừng la s�t m� to�n t�nh mạng, phải l� người t�i đức phi thường. Nay vua nước m�nh băng h�, n�n thỉnh kh�ch qu� l�n ng�i b�u. Ho�ng tử thứ một trăm l�n l�m vua, đ�ng như l�ng nguyện ước của Ng�i v� lời dạy của Phật B�ch Chi. Chuyện n�y ngụ � dạy c�i g� ? Ng�i vị �ng vua ngầm chỉ cho Niết B�n thanh tịnh, ri�ng quỉ la s�t chỉ cho ngũ dục lạc thế gian. Người bị quỉ la s�t ăn thịt dụ cho người tu đắm ch�m trong ngũ dục, t�m thần m� muội, tho�i t�m Bồ đề kh�ng tiến đạo được. Người tu muốn được Niết B�n giải tho�t th� đối với sắc, thinh, hương, vị, x�c phải xa l�a, chớ c� đuổi theo, chớ c� nhiễm trước d�nh mắc. Ngược lại, đối với năm trần m� đuổi bắt, chấp trước th� kh� m� đến Niết b�n. Niết B�n c�ng ng�y c�ng xa. Trong kinh Tạp A H�m, Phật đưa ra một v� dụ. C� một tội nh�n phạm ph�p bị �n tử h�nh. Sau đ� vua x�t lại, tha anh với điều kiện l� anh phải bưng đĩa dầu đầy, đi từ đầu đuờng đến cuối đường, kh�ng để rơi một giọt dầu th� sẽ khỏi tội chết. Nếu bất cẩn để dĩa dầu chao, dầu đổ chỉ một giọt th� t�n đao thủ đi sau liền ch�m đầu anh. Anh tội nh�n được tha với điều kiện đ�, mừng lắm, chấp nhận ngay. Tr�n đường đi từ đầu đường đến cuối đường, hai b�n lề, chỗ n�o cũng c� g�i đẹp, qu�n rượu, qu�n nhạc, đủ tr� ăn chơi hấp dẫn. Anh tử tội chăm chăm bưng đĩa dầu đi, kh�ng d�m nh�n qua liếc lại,v� biết sau lưng m�nh c� t�n đao thủ đi theo, hớ h�n một ch�t, dầu đổ th� bay đầu. Với t�m trạng đ� anh đi từ đầu đường cho tới cuối đường, dầu kh�ng đổ, anh tho�t chết. C�u chuyện n�y � n�i g� ? Anh tử tội l� chỉ cho con người, ai ai rồi cũng phải chết, người gi� th� khoảng bảy t�m mươi tuổi chết, người trung ni�n th� năm s�u mươi tuổi chết, người trẻ th� đ�i ba mươi tuổi chết... trước sau g� cũng chết. G�i đẹp, qu�n rượu... những tr� ăn chơi hấp dẫn chỉ cho ngũ dục lạc thế gian. Dĩa dầu đầy, dụ cho ph�p tu m� Phật dạy. Người tu Tịnh độ c�u niệm Phậtv� như dĩa dầu, kh�ng bao giờ d�m qu�n. Người tu Thiền, an trụ t�m tr�n hơi thở, trong Tứ niệm xứ... kh�ng bao giờ d�m lơi lỏng. T�n đao thủ đi sau lưng người tử tội, dụ cho quỉ v� thường đang chực sẵn cướp lấy mạng sống con người. Người tu biết r� mọi th� vui của ngũ dục tuy hấp dẫn nhưng sẽ l�m hại con người, l�m cho con người hao m�n sức lực, sanh bịnh hoạn... kh�ng c� g�a trị thật n�n kh�ng nhiễm trước n�. Muốn tho�t khỏi c�i khổ v� thường sanh tử l� phải an tr� t�m v�o ph�p tu m� m�nh đang thực h�nh, kh�ng d�m xao l�ng. Qu� vị c� thấy quỉ v� thường r�nh qu� vị kh�ng ? Khi nhớ th� thấy, khi qu�n th� kh�ng, v� vậy m� nh�n qua ng� lại ho�i n�n tu h�nh kh�ng tới nơi. Gần đ�y c� một Phật tử hỏi t�i :-Thầy cất ch�a c� coi ng�y kh�ng ? T�i đ�p :-Kh�ng. Nếu gặp ng�y s�t chủ th� sao ? -Vậy Phật tử c� biết ng�y n�o kh�ng s�t chủ, cất ch�a l�n thầy trụ tr� sống m�i m�i kh�ng chết ? - ! ! ! Đ� c� sanh ắt phải c� tử, kh�ng chết sớm l� chết muộn, trước sau g� cũng chết. Tr�n đời n�y c� ai khỏi chết đ�u ! Tại sao cứ lo sợ ho�i ? C�i đ�ng sợ l� ph�p tu m� m�nh qu�n m�nh xao l�ng, để cho t�m xao xuyến loạn động, phiền n�o ngăn che kh�ng tho�t được lu�n hồi sanh tử. Muốn đến chỗ giải tho�t th� phải chuy�n nhất, an trụ t�m tr�n ph�p tu của m�nh, kh�ng qu�n, kh�ng lơi l�ng th� t�m mới an định. T�m an định mới tho�t ly sanh tử, kh�ng bị sanh tử chi phối. B�i kệ sau đ�y n�i l�n � nghĩa người tu an tr� t�m nơi ph�p tu, cũng giốngnhư kẻ tử tội bưng b�t dầu : Như người bưng b�t dầu Đầy tr�n kh�ng cho đổ Cũng vậy, bảo vệ t�m Như bị phương hướng lạ Như vậy, tu muốn giải tho�t, dễ hay kh� ? Người ta cứ nghĩ tu phải c� ph�p m�ng� kỳ đặc mới giải tho�t được. Kỳ thật kh�ng phải vậy. Chỉ cần năm căn tiếp x�c với năm trần kh�ng nhiễm trước, kh�ng d�nh mắc l� giải tho�t. Trở lại c�u chuyện Ph� L�u Na, sau khi Phật dạy năm căn kh�ng d�nh với năm trần l� gần Niết B�n. C�n năm căn d�nh với năm trần l� xa Niết B�n. Ng�i hỏi tiếp:- �ng đi đến quốc độ n�o ? - Bạch Thế T�n, con qua nước phương T�y. - D�n xứ đ� hung dữ lắm, �ng tới đ� nếu họ mắng chưởi nhục mạ, th� �ng sẽ thế n�o? - Bạch Thế T�n, nếu người ta chưởi mắng nhục mạ con, con nghĩ rằng d�n xứ n�y c�n lương thiện, v� họ mới chưởi mắng nhục mạ chớ chưa d�ng tay đ�nh, chưa d�ng đ� n�m con. - Giả sử họ d�ng tay đ�nh, d�ng đ� n�m �ng, th� �ng thế n�o ? - Bạch Thế T�n, nếu họ d�ng tay đ�nh, họ d�ng đ� n�m, con nghĩ rằng d�n xứ n�y vẫn c�n lương thiện, v� mới d�ng tay đ�nh, d�ng đ� n�m, chưa d�ng gậy đ�nh, chưa d�ng dao ch�m con. - Giả sử họ d�ng gậy đ�nh, d�ng dao ch�m �ng th� �ng thế n�o? - Bạch Thế T�n, nếu họ d�ng gậy đ�nh, d�ng dao ch�m th� con nghĩ rằng họ c�n lương thiện, v� họ chưa giết con chết. - Nếu họ giết �ng, th� �ng thế n�o? - Bạch Thế T�n, nếu họ giết con, th� con nghĩ rằng d�n xứ n�y tốt, v� đệ tử của Phật khi thấy th�n n�y � uế bất tịnh ch�n ng�n n�, phải t�m người gi�p cho n� chết. C�n con kh�ng mượn m� họ gi�p gi�m con bỏ th�n � uế n�y. - L�nh thay ! �ng c� đầy đủ sự nhiếp phục v� an tịnh, th� �ng đến xứ ấy được. T�n giả Ph� L�u Naqua xứ ấy, chỉ tu trong ba th�ng an cư th� chứng quả A La H�n v� độ được năm trăm người xuất gia. T�n giả Ph� L�u Na thực hiện đ�ng như lời Phật dạy l� s�u căn kh�ng d�nh mắc s�u trần l�m căn bản, cộng th�m th�i độ kh�ng giận hờn, kh�ng o�n th�, trước mọi đối xử tệ hại của người, n�n Ng�i ch�ng đến Niết B�n. Hiện tại nếu c� người mắng chưởi hay đ�nh đập, ch�ng ta nhịn họ, nhưng trong t�m nghĩ đ�y l� kẻ �c, r�n m� nhịn n�. Nhịn ma thấy đ� l� kẻ �c, kh�ng phải l� người lương thiện ...C�n T�n giả Ph� L�u Na th� Ng�i thấy l� lương thiện v� mới chưởi mắng chứ chưa đ�nh đập. Bị đ�nh đập Ng�i cũng thấy l� lương thiện v� chưa giết chết. Khi giết chết Ng�i cũng nghĩ l� lương thiện v� gi�p Ng�i sớm bỏ th�n � uế. Hại tới chết Ng�i vẫn kh�ng o�n hận. C�n ch�ng ta nếu bị người bức hiếp, kh�ng đ�nh trả lại, kh�ng n�i ra lời, chớ t�m c�n buồn phiền hờn giận; l�c n�o cũng c� chứa phiền chứa giận, n�n tu l�u m� kh�ng đắc đạo l� vậy. Thế n�n qu� Phật tử tu h�nh, điều cốt yếu phải hiểu gi�o l� đ�ng với tinh thần Phật dạy l� s�u căn kh�ng d�nh với s�u trần, đ� l� gốc của sự tu h�nh. Từ trước t�i dẫn kinh A H�m. Sau đ�y t�i dẫn kinh Đại Thừa, trong kinh Kim Cang ng�i Tu Bồ Đề hỏi Phật : - Bạch Thế T�n, người ph�t t�m V� thượng Ch�nh đẳng Ch�nh gi�c l�m sao an trụ, l�m sao h�ng phục t�m ? Phật trả lời : - Bất ưng trụ sắc sanh t�m, bất ưng trụ thinh , hương, vị, x�c, ph�p sanh t�m, ưng v� sở trụ nhi sanh kỳ t�m. Nghĩa l� chẳng n�n khởi t�m d�nh mắc nơi sắc, nơi thinh, nơi hương, nơi vị, nơi x�c, nơi ph�p, tức l� kh�ng d�nh mắc với s�u trần, đ� l� an trụ t�m của người ph�t t�m V� thượng Bồ đề. Thế n�n Lục Tổ Huệ Năng khi nghe Ngũ Tổ giảng tới đ�y Ng�i liền ngộ đạo nhận ra bản t�m của m�nh, thốt l�n : Đ�u ngờ t�nh m�nh vốn tự thanh tịnh, đ�u ngờ t�nh m�nh vốn kh�ng sanh diệt... Để thấy từ kinh A H�m đến kinh Đại Thừa, kể cả Thiền T�ng đều dạy s�u căn kh�ng d�nh mắc s�u trần l� gần Niết b�n l� giải tho�t. Nếu để s�u căn d�nh mắc với s�u trần th� phiền n�o triền phược xa Niết B�n, kh�ng giải tho�t, đừng tưởng đi ch�a nhiều, tụng kinh giỏi l� mau giải tho�t. Người tu phải hiểu r� điều n�y. Buổi n�i chuyện h�m nay tuy t�i dẫn nhiều c�u chuyện, nhưng trọng t�m kh�ng ngo�i việc : s�u căn tiếp x�c với s�u trần kh�ng nhiễm trước kh�ng d�nh mắc, l�c n�o t�m cũng an tr� nơi ph�p tu, kh�ng qu�n, kh�ng lơi lỏng l� gần Niết B�n, l� giải tho�t. ] |