Đ�U L� CH�N HẠNH PH�C
[mục lục] [lời đầu s�ch] [p1] [p2] [p3] [p4] [p5] [p6]
| NGUỒN GỐC Y�U ĐỜI V� CH�N ĐỜI Thế thường người đời hay than tr�ch : Con người sao qu� tệ �c xấu xa ! Khi đ� thấy người xấu l� m�nh đ� ngầm nhận m�nh tốt rồi. Nếu mọi người xung quanh đều l� xấu, đều l� h�n hạ, đều đ�ng gh�t, m�nh qu� tốt, th� kh�ng c�n l�ng dạ n�omuốn th�n thiện sống chung với ai cả. Như vậy th� ở thế gian n�y m�nh như một kẻ lạc lo�i.V� m�nh qu� tốt m� người đời th� qu� xấu kh�ng giao hảo được. Khi thấy m�nh lạc lo�i giữa đ�m rừng người th� sanh t�m ch�n đời. Ngược lại, nếu thấy mọi người ai cũng tốt, ai cũng giỏi, ai cũng hơn m�nh, th� l�c đ� m�nh thấy cần nhập cuộc với họ, để được hay được tốt, được tiến bộ, l�c đ� t�m y�u đời ph�t khởi. Quan niệm y�u đời hay ch�n đời gốc từ chổ thấy người tốt hay thấy người xấu m� ra. Thoạt nghe qua thấy hơi thế gian, nhưng đ� l� tinh thần t�ch cực của người tu Phật ch�n ch�nh v� tinh thần ti�u cực của người mới học đạo. Vậy ch�ng ta n�n nh�n đời bằng c�ch n�o để kh�ng buồn ch�n, để kh�ng muốn tự tử, để vui sống ? Đa số ch�ng ta với cặp mắt quen nh�n ra ngo�i, �t nhớ ng� lại m�nh; n� c� đặc điểm l� thấy b�n ngo�i m� kh�ng thấy m�nh. Bởi vậy, l�c n�o cũng thấy người n�y c� khuyết điểm n�y, người kia c� khuyết điểm kia, m�nh nh�n ai, ai cũng c� khuyết đểm cả, c�n m�nh th� kh�ng thấy lỗi n�n nghĩ m�nh tốt. Người kh�c cũng vậy, họ cũng thấy m�nh xấu lu�n, chỉ một m�nh họ tốt. Mọi người sống đều hướng ra ngo�i, khi thấy th� thấy c�i khuyết nhiều hơn c�i ưu v� c�i xấu của người m�nh nhớ m�i, c�i tốt của người m�nh lại mau qu�n. Ngược lại, c�i xấu của m�nh th� m�nh mau qu�n, c�i tốt th� nhớ m�i. Cho n�n gi�p ai việc g� m�nh nhớ ho�i, c�n ai gi�p m�nh th� kh�ng nhớ. Do đ� m� sinh ra c�i bệnh kể c�ng v� qu�n ơn người. C�i ơn lớn nhất l� ơn sinh dưỡng của cha mẹ m� cũng muốn qu�n nữa. Hằng ng�y ch�ng ta kh�ng nghĩ đến chuyện hiếu thảo với cha mẹ, m� cứ dạy con phải c� hiếu với m�nh. Đ� l� do m�nh nhớ m�nh ban ơn cho n�, c�n cha mẹ ban ơn cho m�nh th� m�nh lại qu�n. Đ�y l� chuyện thực tế m� bất c�ng, dư�ng như ai cũng dự ch�t phần trong đ�. Đa số ch�ng ta v� qu�n c�i tốt v� nhớ c�i xấu của người, n�n thấy ai cũng xấu cả, ai cũng thua m�nh , n�n sanh t�m ch�n nản. Ngưọc lại, ch�ng ta lu�n nhớ c�i xấu v� qu�n c�i tốt của m�nh th� l�c n�o cũng thấy c� người hơn m�nh để học hỏi. C� nhiều người n�i chuyện đ�ng thương lắm, họ n�i rằng : Ở đời chẳng ai th�ng cảm t�i cả. Trong nh� th� cha mẹ anh chị em kh�ng hiểu được t�i, ra ngo�i x� hội cũng chẳng th�ng cảm t�i. Tại sao mọi người kh�ng th�ng cảm m�nh ? Tại m�nh qu� hay, hay tại m�nh qu� dở ? Nh�n kỹ lại coi ? Tại m�nh chấp ng� to qu�, mở miệng ra th� đề cao m�nh l�n, hạ người xuống, m�nh cao qu� ai m� th�ng cảm m�nh nổi ! Người m� hay than như vậy l� do họ thấy họ hay, kh�ng thấy họ dở, thấy kh�ng ai hiểu nổi m�nh, n�n cảm thấy bị c� độc. M� c� độc th� sinh ra ch�n đời rồi muốn chưởi đời. Những người m� hay chưởi đời l� c�i bệnh đ�. Lỗi tại đ�u m� m�nh bị c� độc như vậy ? Ch�ng ta x�t thật kỹ mới thấy lời Phật Tổ dạy hay đ�o để, v� ch�ng ta kh�ng nghiền ngẫm n�n qu�n đi. Bởi v� mọi người ai cũng nghĩ m�nh l� người tốt l� người cao thượng, chung quanh m�nh ai cũng xấu; hoặc xấu nhiều hoặc xấu �t. Do thấy như vậy m� bi quan yếm thế. T�i v� dụ cho dễ hiểu. C� người tới ch�a cho m�t giống, họ giới thiệu giống m�t n�y rất ngon, qu� hơn tất cả loại m�t ở đ�y. Tri Vi�n ch�a nhận biết giống m�t đ� qu� n�n khi ương trồng, chăm s�c rất chu đ�o. Ngược lại nếu người cho m�t giống giới thiệu giống m�t đ� dở. Tri Vi�n d� c� ương trồng rồi cũng bỏ đ�. Tại sao Tri Vi�n trồng giống m�t ngon chăm s�c chu đ�o m� lại bỏ qu�n giống m�t dở ? V� Tri Vi�n thấy m�t ngon l� qu� trồng được tr�i th� được nhiều người ưa th�ch, c�n m�t dở d� c� được tr�i chẳng mấy ai ưa chuộng. Con ngư�i cũng vậy, nếu thấy ai hay, tốt thường l�m lợi �ch cho đời th� m�nh qu� trọng, c�n ai l� người dở xấu th� m�nh khinh họ. Bởi v� m�nh thấy những người n�y kh�ng l�m n�n tr� trống g�, chỉ c� ta th�i, n�nthấy họ kh�ng c� � nghĩa g� đối với m�nh cả. V� vậy m� sanh ra ch�n kh�ng muốn lo kh�ng muốn l�m g� cho ai cả, n�n sống trong u buồn khổ n�o, chớ kh�ng vui. Xưa Khuất Nguy�n �m đ� trầm m�nh dưới s�ng Nịch La chết, cũng v� quan niệm : �Người đời đục cả chỉ một m�nh ta trong, người đời m� cả chỉ một m�nh ta tỉnh�. Khuất Nguy�n nh�n đời như thế l�m sao sống được với đời m� kh�ng tự vận chết ? Khuất Nguy�n chết v� thấy m�nh hơn thi�n hạ, thi�n hạ kh�ng ai bằng m�nh n�n đ�m ra ch�n đời, kh�ng muốn sống nữa. Đ� l� quan niệm sai lầmcủa người xưa. Ngược lại, �ng ch�i nghe Khuất Nguy�n than, �ng b�n n�i : �Nếu nước đục th� ta rửa ch�n, nước trong th� ta giặt dải mũ�. �ng ch�i thấy nước đục nuớc trong g� cũng c� �ch cho �ng hết, v� vậy m� �ng vui sống, Khuất Nguy�n th� phải tự tử. Để thấy rằng, nếu biết nh�n đờibằng cặp mắt dung h�a; người dở gi�p m�nh việc kh�c, người hay gi�p m�nh việc kh�c, ai cũng l� người gi�p đỡ m�nh th� cuộc sống đ�u c� g� phải ch� ch�n ? Muốn c� quan niệm sống ph� hợp với đạo l� v� hữu �ch cho đời, th� ch�ng ta phải c� th�i độ nh�n đời cho thấu đ�o. Như Khuất Nguy�n thấy người đời đục cả, chỉ một m�nh �ng trong, người đời m� cả chỉ một m�nh �ng tỉnh. Như vậy �c�i ta� của �ng to cở n�o ? Do �c�i ta� to qu� n�n kh�ng th�ng cảm được ai v� cũng kh�ng chịu nổi với mọi người, phải trốn mọi người bằng c�ch trầm m�nh xuống s�ng Nịch La để chết. B�y giờ ch�ng ta muốn sống với mọi người cho vui th� phải l�m sao ? Phải nh�n thấy c�i dở v� qu�n c�i hay của m�nh. Nếu thấy được c�i dở v� qu�n c�i hay của m�nh th� tự nhi�n �c�i ta� tự hạ thấp. �C�i ta� m� thấp th� đ�u c�n c�ch biệt với ai, ai ai m�nh cũng c� thể sống được. Qu� vị kiểm lại coi, c� người n�o trọn đời giỏi ho�n to�n kh�ng ? Cẩn thận tối đa cũng c� l�c sơ suất lộ ra những c�i dở để người ta thấy. Như vậy, nếu kiểm những điều dở từ thuở b� đến b�y giờ ghi đầy cuốn sổ một trăm trang. Lỗi m�nh cộng lại nhiều như thế th� c� g� m� ph�ch lối, c� g� m� ki�u ngạo? Do v� c�i dở m�nh x�a hết, c�i hay th� ghi v�o, khi giở sổ ra thấy m�nh hay nhiều qu�, n�n mới thấy m�nh si�u, mới thấy m�nh hơn thi�n hạ. Ch�ng ta c� hai cuốn sổ, một cuốn ghi c�ng của m�nh v� một cuốn ghi tội của người. Khi ghi c�ng m�nh th� kh�ng bỏ s�t một ch�t n�o.V� ghi tội người cũng vậy kh�ng bỏ s�t, đ�i khi c�n ghi oan nữa l� kh�c. Bởi vậy n�n ngồi lại b�n chuyện đời th� thấy thi�n hạ tội th�i l� tội, m�nh th� c�ng th�i l� c�ng. Do đ� n�n m�nh khinh mọi người, m�nh khinh người th� l�m sao người thương m�nh được. Kể cả anh chị em ruột đi nữa m� c� vẽ khinh khi nhauđ� kh�ng th�ng cảm, huống l� bạn b�, người xa lạ ! Mọi người v� m�nh muốn c� chổ cảm th�ng nhau th� việc đầu ti�n ch�ng ta phải nh�n lại thấy lỗi v� qu�n c�i hay của m�nh.Thấy m�nh dở nhiều, n�n gần ai cũng c� c�i m�nh học hỏi, nhờ vậy m� m�nh dễ cảm th�ng với mọi người. Tụng V� Tướng trong kinh Ph�p Bảo Đ�n, Lục Tổ c� dạy : Nhược chơn tu đạo nhơn Bất kiến thế gian qu� Nhược kiến tha nhơn phi Tự phi khước thị tả Tha phi ng� bất phi Ng� phi tự hữu qu� Đản tự khước phi t�m Đả trừ phiền n�o ph� Tắng �i bất quan t�m, Trường th�n lưỡng cước ngọa. Dịch : Nếu người thật chơn tu Kh�ng thấy người đời lỗi Nếu thấy lỗi của người Lỗi m�nh đến b�n tr�i Người sai ta kh�ng sai Ta sai tự c� lỗi Chỉ dẹp t�m m�nh sai Dứt trừ phiền n�o sạch Y�u gh�t chẳng bận l�ng Duỗi thẳng hai ch�n nghỉ. Nhiều người cho b�i tụng n�y Tổ dạy qu� thấp, kỳ thực đ�y l� nền tảng đạo đức. Ch�ng ta thấy Tổ dạy qu� kỹ. �Nhược nhơn tu đạo nhơn, bất kiến thế gian qu�. Người tu h�nh chơn thật th� kh�ng thấy lỗi của người đời, v� thấy lỗi người th� qu�n lỗi của m�nh, hễ qu�n lỗi m�nh l� kh�ng tu, m�i lo nhớ anh n�y dở chị kia k�m, rồi buồn giận ph�t sanh... Người tu thật th� hằng x�t n�t lỗi m�nh, m�nh c�n tham, �t biết nhẫn nhục, nhiều si m�... để khiển tr�ch v� sửa chữa. Qu� vị kiểm lại coi m�nh đang tu thế n�o ? �Nhược kiến tha nhơn phi, tự phi khước thị tả�.Nghĩa l� thấy lỗi người th� lỗi m�nh đến b�n cạnh rồi. Tại sao vậy ? V� khi thấy lỗi người t�m ng� mạn liền sanh, v� vậy phải d� dặt đừng thấy lỗi người, m� phải thấy lỗi m�nh để m�nh tu sửa cho tiến bộ. �Tha phi ng� bất phi, ng� phi tự hữu qu�. Nếu người l�m quấy l� họ chịu, m�nh đừng gi�nh c�i quấy của người. Thế m� người đời cứ đi gi�nh c�i quấy của người ta; thấy ai l�m lỗi liền sanh bực bội n�ng giận. Như vậy l� người c� lỗi m�nh liền sanh lỗi, tức l� m�nh gi�nh lỗi với người rồi. Nhiều người n�i mới nghe coi như họ t�ch cực lắm, kỳ thực th� họ chưa biết tu. Họ cho rằng m�nh phải thấy lỗi người để chỉ tr�ch cho họ sửa, nếu kh�ng chỉ th� để họ quấy ho�i sao ? Thoạt nghe thấy như tốt lắm, nhưng nếu cứ thấy lỗi người ho�i th� sanh tự cao ng� mạn, đ� l� c�i bệnh lớn của người tu, đ�u phải l� người tốt! �Đản tự khước phi t�m, đả trừ phiền n�o ph�. Chỉ nh�n lại m�nh để thấy t�m sai quấy lỗi lầm m� ph� bỏ n�, lu�n lu�n do dứt trừ phiền n�o để cho t�m được trong sạch. Được như vậy th� : �Tắng �i bất quan t�m, trường th�n lưỡng cước ngọa�. Khi y�u gh�t kh�ng bận l�ng th� l�c đ� duỗi thẳng hai ch�n ngủ một c�ch thoải m�i. Sở dĩ ch�ng ta nắm xuống ngủ kh�ng được l� v� nhớ người n�y, buồn người kia, tr�ch người nọ, t�m tư cứ quay cuồng l�m sao m� ngủ cho được. Tổ n�i người thật tu th� hết khổ, c�n người tu giả cứ thấy lỗi người ho�i th� khổ ho�i. Đ�u qu� vị kiểm lại m�nh coi, c� ai đ� l�m cho qu� vị buồn giận, tối lại qu� vị ngủ c� ngon kh�ng? -Kh�ng. Buồn giận ngủ kh�ng ngon, thương gh�t ngủ cũng kh�ng ngon. Tu l� cốt đem lại sự an ổn cho m�nh v� cho người. Nếu m�nh bất an th� mọi người cũng bất an l�y. Thế n�n phải bu�ng xả hết, th� mới c� thể tiến tới chỗ an vui, khi m�nh được an vui th� người cũng được an vui l�y, nếu m�nh cố chấp, phần m�nh đ� khổ lại c�n l�m khổ l�y người kh�c. Ch�ng ta tu th� phải nhớ đừng mang t�m trạng t�m lỗi người kh�c, m� phải lu�n nh�n lại lỗi m�nh. B�i tụng n�y Lục Tổ dạy ch�ng ta rất kỹ l� phải thấy lỗi m�nh đừng t�m lỗi người. Nếu thấy lỗi người th� lỗi m�nh tới một b�n rồi. Tu cốt yếu l� dẹp lỗi lầm của m�nh, ph� sạch t�m phiền n�o, bu�ng xả l�ng y�u gh�t, c� như vậy mới thảnh thơi hết khổ. Thoạt nghe, ch�ng ta thấy như Tổ ti�u cực, thi�n hạ l�m quấy để mặc họ, m�nh kh�ng can thiệp sao ? Đ�y Tổ dạy ch�ng ta một ph�p tu để cho t�m hồn m�nh được cởi mở rộng r�i th�m l�n, chớ kh�ng để� cho �ch kỷ hẹp h�i đi đến chỗ ti�u cực ch�n đời. Sau đ�y l� c�u chuyện rất quen thuộc m� đa số Phật tử c� tụng kinh Ph�p Hoa đều biết. Bồ T�t Thường Bất Khinh thấy ai cũng c� Phật t�nh v� sẽ th�nh Phật, Ng�i kh�ng thấy người n�o dở cả n�n đi đ�u gặp ai Ng�i cũng n�i : �T�i kh�ng d�m khinh c�c Ng�i, c�c Ng�i sẽ th�nh Phật�. Nếu thấy ai cũng sẽ th�nh Phật th� c� khinh ch� người n�o đ�u ? Nhờ c�i thấy đ� n�n Bồ T�t gi�o h�a độ sanh từ đời n�y đến kiếp kh�c kh�ng ch�n. Như t�i n�i ở trước, Tri Vi�n biết giống m�t tốtsẽ cho tr�i qu�, tự nhi�n sốt sắng, săn s�c m� kh�ng ch�n v� đặt hết hy vọng v�o c�y m�t. Cũng vậy, Bồ T�t biết tất cả ch�ng sanh sẽ th�nh Phật th� c�n g� m� sợ. kh�ng lo gi�o h�a cho họ được th�nh Phật. T�m niệm của Bồ T�t thấy ai cũng c� khả năng th�nh Phật. Phật l� bậc V� Thượng Gi�c m� ai cũng c� thể l�m được th� việc thường ai l�m chẳng được ! Vậy ch�ng ta h�y kiểm lại m�nh v�nghĩ rằng chung quanh m�nh ai cũng trở th�nh người tốt, tốt bằng m�nh hoặc tốt hơn m�nh, th� m�nh đ�u c� ch� ch�n ai, đ�u c� xa l�nh ai. N�n cuộc sống giữa m�nh v� mọi người c� sự li�n hệ gi�p đỡ qua lại với nhau. C�n nếu m�nh thấy ai cũng xấu hết, chỉ c� một m�nh m�nh hay, th� ai gi�p m�nh được nữa ?Do thấy một m�nh hay, n�n khiến thi�n hạ thấy lại m�nh l� kẻ bướng kẻ g�ng, kẻ ki�u mạn... Bởi thế, tr�n đường tu, người Phật tử ch�n ch�nh phải nhớ cho thật kỹ l� đừng thấy lỗi người m� phải thấy lỗi m�nh v� t�m c�i hay của người. C�i hay nhất của con người l� ai cũng c� thể th�nh Phật. Phật quả l� c�i cao tột m� thấy ai cũng c� thể th�nh, th� chuyện thế gian, nếu hội đủ duy�n tốt chắc họ sẽ th�nh c�ng tốt. Đ�u chỉ một Bồ T�t Thường Bất Khinh thấy như thế, m� Phật đ�u kh�ng từng n�i : �Ta l� Phật đ� th�nh, c�c ngươi l� Phật sẽ th�nh�. V� vậy m� Ng�i gi�o h�a ch�ng sanh suốt bốn mươi ch�n năm kh�ng ch�n ng�n. Kinh A H�m cũng như kinh Hoa Nghi�m, c� đoạn kể : Sau khi Phật th�nh đạo dưới cội Bồ Đề, Ng�i nh�n xuống đầm sen, thấy c� những hoa đang trổ tỏa hương thơm, c� hoa đang c�n b�p, c� hoa mới ngoi l�n khỏi mặt nước, c� c�i c�n l� ng� sen ở dưới b�n... Nhưng Phật kết luận rằng tất cả những hoa sen đ� c�i n�o rồi cũng trổ hoa thơm đẹp như nhau. Ch�ng ta thấy Phật nh�n đời hết sức lạc quan. Dầu l� hoa sen đang l� c�i ng� c�n d�i dưới b�n h�i, m� Ng�i cũng thấy n� sẽ l�n khỏi nước, trổ hoa đẹp v� c� hương thơm. Cũng vậy, ch�ng sanh người đ� tu h�nh tiến bộ kh� v� như hoa sen vừa l�n khỏi nước, người đang tu h�nh nửa chừng v� như hoa sen c�n nằm trong nuớc, người mới ph�t t�m tu v� như hoa sen vừa ra khỏi b�n, người chưa ph�t t�m tu v� như hoa sen c�n ở dưới b�n. Nếu tu, tất cả đều sẽ th�nh Phật, do thấy như vậy n�n đức Phật đem hết khả năng ra gi�o h�acho tất cả. Ng�i gi�o h�a rồi, c�n dặn d� đệ tử sau n�y phải lu�n lu�n truyền b� đừng để cho ngọn đ�n ch�nh ph�p lu tắt. Ch�ng ta v� thấy mọi người xấu hết, n�n c� t�m trạng bi quan, tự nguyện kiếp sau xin kh�ng trở lại l�m người, hoặc nguyện về Cực Lạc l�m d�n Phật A Di Đ�, chớ kh�ng trở lại cỏi Ta B� n�y, ng�n con người lắm ! Người ta sợ l�m người l� tại sao ? V� mọi người xấu �c hết, một m�nh ta tốt n�n ở giữa đ�m người xấu �c n�y kh�ng chịu nổi,phải t�m chổ c� người tốt hơn để an ổn vui tươi. Người vừa khởi niệm đ� đ� l� xấu rồi ! Phật dạy người c� nhiều đức t�nh tốt hơn ta đ� l� bậc thầy ta, ta học những c�i hay của họ. Người c� c�i dở hơn ta cũng l� bậc thầy của ta, ta cũng học để tr�nh. thầy hay, ch�ng ta học bắt chước, thầy dở, ch�ng ta học để tr�nh. Cũng vậy, khi ph�t t�m tu, người trợ gi�p phương tiện để tiến l� thiện tri thức, m� người l�m chướng ngại để thử th�ch coi m�nh tiến tới đ�u cũng l� thiện tri thức. Người gi�p phương tiện l� k�o m�nh l�n từ từ, người thử th�ch gi�p m�nh nhảy vọt; cả hai đều l� người tốt gi�p m�nh tiến, n�n kh�ng c� người n�ođể cho ch�ng ta ch� ch�n cả. Chỉ c� ch�n c�i h�n yếu của m�nh. Tu lẽ ra những chuyện nghịch � tr�i l�ng l� phải thắng n�, m� thắng kh�ng được, để cho s�n si nổi l�n l� dở, h�y tự ch�n m�nh, v� n�i được m� l�m kh�ng được. Hiểu như vậy, mới thấy ch�ng ta tu c� tiến được hay kh�ng l� do đặt c�i nh�n đ�ng hay sai. Nếu nh�n kh�ng đ�ng th� việc tu h�nh cũng lệch lu�n. Người ph�t t�m tu, kh�ng ai m� kh�ng thầm hứachinh phục tham, s�n, si. Đ� ngầm hứa như vậy rồi, th� những cơ hội khơi dậy tham, s�n, si l� cơ hội tốt để cho ch�ng ta điều phục n�. Nếu ch�ng ta chưa điều phục được th� tr�ch m�nh hay tr�ch cơ hội ? Phải tự tr�ch m�nh c�n yếu. Vậy m� đa số người tu gặp chướng duy�n cứ tr�ch thi�n hạ cứ tr�ch ho�n cảnh : T�i tu m� thi�n hạ ph� t�i ho�i, chớ kh�ng ngờ ch�nh v� m�nh kh�ng thật tu, hoặc tu c�n yếu kh�ng chuyển được cảnh rồi thối chuyển lui sụt. Nếu n�i theo đạo l� ch�n thật, th� thế gian n�y kh�ng ai ph� m�nh cả, chỉ c� m�nh ph� m�nh. V� tất cả c�i hay, c�i dở, c�i tốt, c�i xấu n� kh�ng bắt m�nh th�nh tốt hay th�nh xấu, m� ch�nh m�nh mới th�nh tốt hay th�nh xấu. Người ta cứ đổ thừa : bị tiền t�i, sắc đẹp... n� c�m dỗ tu kh�ng được. T�i v� dụ c� một Phật tử mới ph�t t�m tu, đi đường bỗng thấy một thỏi v�ng rớt tr�n đất, liền động l�ng tham lượm bỏ t�i, từ đ� t�m bất an, toan t�nh đủ chuyện hết. Bất an l� do kh�ng điều phục được l�ng tham, l�ng n� quấy ph� mất thanh tịnh m� đổ thừa v�ng n� c�m dỗ. Nếu thấy v�ng th� thấy, đi cứ đi, kh�ng bận l�ng th� c� g� trở ngại ? Để thấy rằng trong cuộc đời n�y kh�ng c� c�i g� ở b�n ngo�i hại m�nh bằng ch�nh m�nh kh�ng l�m chủ được tham, s�n, si nơi m�nh. Đ� l� c�i gốc của mọi tai họa. Nếu biết gốc của tai họa từ tham, s�n, si ở nơi m�nh th� phải thẳng tay m� điều phục n�, chớ kh�ng c� k�u ca than tr�ch người, cảnh. Nếu ngồi tr�ch người tr�ch cảnh, đ� l� người che lỗi m�nh, b�o chữa cho m�nh. Kinh Hoa Nghi�m, Phật c� n�i : Tất cả ch�ng sanh đều đầy đủ đức t�nh Như Lai, chỉ v� v� minh phiền n�o che khuất n�n c�n l�m ch�ng sanh.Vậy ai cũng c� đức t�nh như Phật hết, tuy hir65n tại th�n tướng chưa đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, nhưng rồi sẽ c�, nếu ch�ng ta đủ l�ng tin v� nổ lực tu rồi cũng sẽ được như Phật. Sở dĩ ch�ng ta c�n lu�n hồi trong lục đạo thấy m�nh v� Phật c�ch nhau qu� xa l� do v� minh phiền n�o che khuất. Nếu dẹp hết v� minh phiền n�o th� m�nh với Phật đ�u c� kh�c. Phật v� Bồ T�t chỉ cho ch�ng tacon đường Niết B�n rất cụ thể. Đ� l� : �Biết như thật đi�n đảo, kh�ng thọ tất cả ph�p, nội t�m tịch diệt, đến Niết B�n�. Ai biết như thật đi�n đảo th� kh�ng thọ tất cả ph�p, nếu kh�ng thọ tất cả ph�p th� nội t�m tịch diệt, nội t�m tịch diệt đ� l� Niết B�n, kh�ng nghi ngờ. Nếu người kh�ng biết như thật đi�n đảo, đi�n đảo m� kh�ng biết đi�n đảo, th� thọ nhận tất cả ph�p. Chấp tất cả ph�p th� đi tới đấu tranh, m� đấu tranh l� đau khổ. Vậy thấy như thật đi�n đảo l� thế n�o ? Đi�n đảo l� lấy đầu l�m đu�i, giả cho l� chơn, thấy tr�i ngược gọi l� thấy đi�n đảo. V� dụ : Được khen th� vui, bị ch� th� buồn. Được khen th� vui, bị ch� th� buồn, hợp l� qu� tại sao n�i l� đi�n đảo? Lời khen ch� l� �m thanh vừa ph�t ra liền nữa, lời khen mất, n� kh�ng thật m� chấp n� l� thật. Thứ ch� kh�ng nhất định. Chẳng hạn người tửu lượng thấp uống nửa l�t rượu đ� say t�y l�y, khen người tửu lượng cao uống một l�t kh�ng say l� giỏi l� hay. C�n nguời Phật tử giữ năm giới kh�ng uống rượu bị ch� l� người bỏn xẻn kh�ng biết ăn chơi. Nếu qua lời khen đ� m� vui, qua lời ch� đ� m� buồnl� đi�n đảo. V� c�i kh�ng đ�ng buồn m� buồn, kh�ng đi�n đảo l� g�! C�i kh�ng đ�ng khen m� khen, khen để đi tới chổ chết. C�i khen đ� l� hại tai sao lại mừng ? Lời khen ch� kh�ng c� gi� trị thật m� tuởng lầm l� thật đ� l� đi�n đảo. Đi�n đảo m� tự m�n với đi�n đảo n�n rồi cứ đau khổ. C� c�i khen c�i ch� n�o l� cứu c�nh đ�u ? Nh�m người n�y khen m�nh lại c� nh�m nguời kh�c ch� m�nh. Khen ch� t�y chỗ, t�y thời, t�y theo c�i nh�n của mỗi người sai kh�c. N� kh�ng c� lẽ thật, m� m�nh chấp l� thật, đ� l� sai lầm. Tiếng n�i đ� kh�ng thật, g�a trị khen ch� cũng kh�ng thật, hai c�i kh�ng thật tưởng l� thật, kh�ng đi�n đảo l� g� ? Do kh�ng biết như thật đi�n đảo n�n mới chấp nhận c�c ph�p, khen th� vui n�n gi�nh được khen rồi dẫn tới đấu tranh, bị ch� th� buồn n�n nổi s�n giận sanh đấm đ�nh lẫn nhau,g�y đau khổ cho nhau kh�ng c� ng�y c�ng. Ngay nơi c�i đi�n đảo m� thấy đ�ng như thật, th� kh�ng chấp kh�ng tạo th�m tội lỗi, m� ph�t triển điều hay điều tốt. Chẳng hạn như biết th�n n�y l� v� thường, giả tạm kh�ng thật, tuy biết n� kh�ng thật, vẫn đem n� ra l�m việc hữu dụng cho đời, sống một ng�y l�m cho xứng đ�ng một ng�y. Ng�y mai c�n l�m nữa, ng�y mốt c�n l�m nữa, l�m ho�i cho tới chết mới th�i, kh�ng ch�n. Nếu nghĩ th�n nay c�n mai mất l�m chi cho mệt, ngồi chơi uống tr� cho khỏe l� tai họa ! C�ng một sự việc m� thấy đ�ng th� cuộc sống c� gi� trị, đời vui tươi. Nếu thấy kh�ng đ�ng th� g�y tai họa lớn kh�ng thể lường. V� vậy, người học Phật ch�ng ta nương theo c�i nh�n của Phật l� thấy tất cả đi�n đảo đ�ng như thật, để kh�ng thọ nhận c�c ph�p cho t�m đuợc tịch diệt v� đến Niết B�n. Niết B�n đối với ch�ng ta gần hay xa v� c� ai kh�ng c� quyền đến kh�ng? Ai cũng c� quyền đến Niết B�n với điều kiện như đ� n�i. ] |