BƯỚC ĐẦU TR�N CON ĐƯỜNG THIỀN
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6]
| C� PH�P M�N N�O h�g CH�NH VĂN: 1. Một thời Thế T�n ở 2. Ở đấy, Thế T�n gọi c�c Tỳ kheo. 3. C� Ph�p M�n n�o, do ph�p m�n ấy, Tỳ kheo, ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i suy tư về phương ph�p (�k�rapari-takk�), ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận (dithini sh�nakhanti), c� thể x�c chứng Ch�nh tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận, phạm h�nh đ� th�nh, những việc n�n l�m đ� l�m, kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa"? 4. Bạch Thế T�n, đối với ch�ng con, ph�p lấy Thế T�n l�m căn bản... 5. C� một ph�p m�n, n�y c�c Tỳ kheo, do ph�p m�n ấy, Tỳ kheo ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận, c� thể x�c chứng Ch�nh Tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận... trạng th�i n�y nữa". 6. Ph�p m�n ấy l� g�, do ph�p m�n ấy "... kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa?" 7. Ở đ�y, n�y c�c Tỳ kheo, Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội t�m c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si"; hoặc nội t�m kh�ng c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". N�y c�c Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội t�m c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si"; hoặc nội t�m kh�ng c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". N�y c�c Tỳ kheo, biết r� ch�ng c� mặt hay kh�ng c� mặt trong t�m vị ấy, c� phải ch�ng l� những ph�p do l�ng tin được hiểu biết, hay do ưa th�ch được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương ph�p được hiểu biết, hay do kham nhẫn, th�ch th� về biện luận được hiểu biết?" - Thưa kh�ng, bạch Thế T�n - C� phải c�c ph�p n�y, do thấy ch�ng với tr� tuệ, n�n được hiểu biết ? - Thưa phải, bạch Thế T�n. Đ�y l� ph�p m�n, n�y c�c Tỳ kheo, do ph�p m�n n�y, ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i suy tư về phương ph�p, ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận, c� thể x�c chứng với Ch�nh Tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận.... kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa". 8. Lại nữa, n�y c�c Tỳ kheo, Tỳ kheo khi nghe tai tiếng... khi mũi ngửi hương... khi lưỡi nếm vị... khi th�n cảm x�c..." 9. Lại nữa, n�y c�c Tỳ kheo, khi � biết Ph�p, hoặc nội t�m c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si", hoặc nội t�m kh�ng c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". N�y c�c Tỳ kheo, khi � biết ph�p hoặc biết r� nội t�m c� tham, s�n, si: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si", hoặc biết r� nội t�m kh�ng c� tham, s�n, si: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". N�y c�c Tỳ kheo, sự biết r� ch�ng c� mặt hay kh�ng c� mặt trong t�m vị ấy, c� phải ch�ng l� những ph�p do l�ng tin được hiểu biết, hay do ưa th�ch được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương ph�p được hiểu biết, hay do kham nhẫn, th�ch th� về biện luận được hiểu biết?" - Thưa kh�ng, bạch Thế T�n. - C� phải c�c ph�p n�y, do thấy ch�ng với tr� tuệ n�n được hiểu biết? - Thưa phải, bạch Thế T�n. 10. Đ�y l� ph�p m�n, n�y c�c Tỳ kheo, do ph�p m�n ấy, Tỳ kheo ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i suy tư về ph�p m�n, hay ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận, c� thể x�c chứng với Ch�nh tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận, Phạm hạnh đ� th�nh, những việc n�n l�m đ� l�m, kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa". GIẢNG C� Ph�p M�n N�o l� b�i Kinh nguy�n thủy rất hệ trọng đối với đường lối tu của Thiền viện. Phật n�i c� Ph�p m�n, nhưng tại sao kh�ng đặt t�n l� ph�p m�n g�? Nếu thiền sinh kh�ng học, kh�ng nắm vững b�i kinh n�y, khi nghe ph� ph�n BIẾT VỌNG l� một lối tu do người sau đặt ra, kh�ng phải Phật dạy th� sẽ hoang mang kh�ng vững l�ng tin để tu tập. Ngược lại, nếu học hiểu kinh n�y ch�nh chắn th�ng suốt, ch�ng ta sẽ thấy đường lối tu của Thiền viện c� sẵn căn bản, c� nguồn gốc r� r�ng. C� ph�p m�n n�o c� nghĩa l� kh�ng c� phương ph�p n�o hết. C� ph�p m�n n�o, do ph�p m�n ấy, Tỳ kheo ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i suy tư về phương ph�p (A�k�rapari takk�), ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận (ditthini sh�nakhanti) c� thể x�c chứng Ch�nh Tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận, Phạm hạnh đ� th�nh, những việc n�n l�m đ� l�m, kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa". Phật n�i c� một ph�p m�n vượt ngo�i t�n ngưỡng t�n gi�o, kh�ng tin Phật, kh�ng tin Ph�p, kh�ng tin Bồ T�t, La H�n, vượt ngo�i sự ch�n ưa Ta b� Cực lạc, vượt ngo�i sự lắng nghe học hỏi, vượt ngo�i tư duy qu�n s�t, vượt ngo�i kham nhẫn tu tập, vượt ngo�i th�ch th� biện luận. Nhưng "ph�p m�n ấy" c� thể x�c chứng Ch�nh Tr� v� chứng quả A La H�n. Như vậy, đ� l� ph�p m�n g�? C� phải ph�p m�n đ� kh�ng lệ thuộc t�n ngưỡng gi�o điều của T�n gi�o l� phải tin Tam bảo, phải ăn chay, phải lạy Phật cho c� phước? Ph�p m�n đ� kh�ng phải kham nhẫn để tu h�nh, kh�ng phải khởi t�m ch�n ng�n c�i Ta b�, ưa th�ch v� cầu sanh về Tịnh độ, kh�ng phải r�ng nghe r�ng học để th�m nhập l� đạo, kh�ng phải tư duy giản trạch gi�o nghĩa cho hay cho r�. Tất cả những điều n�u tr�n đều kh�ng li�n hệ với ph�p m�n m� Phật n�i ở đ�y. Vậy m� ph�p m�n n�y c� thể x�c chứng được Ch�nh tr� v� chứng quả A La H�n. Khi Phật n�u l�n vấn đề đ� th� c�c Tỳ kheo bạch: - Bạch Thế T�n, đối với ch�ng con, Ph�p lấy Thế T�n l�m căn bản... C�c thầy Tỳ kheo bạch Phật rằng Thế T�n l� nguồn mạch của gi�o ph�p, xin Phật chỉ dạy, chứ c�c Tỳ kheo kh�ng thể biết ph�p m�n đặc biệt đ� l� ph�p m�n g�? Phật dạy : C� một ph�p m�n, n�y c�c Tỳ kheo, do ph�p m�n ấy, Tỳ kheo ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận c� thể x�c chứng Ch�nh tr�; vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận, Phạm hạnh đ� th�nh, những việc n�n l�m đ� l�m, kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa". Ph�p m�n ấy l� g�, do ph�p m�n ấy..."... kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa?". Ở đ�y, n�y c�c Tỳ kheo, Tỳ kheo khi mắt thấy sắc, hoặc nội t�m c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si", hoặc n��i t�m kh�ng c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". N�y c�c Tỳ kheo, Tỳ kheo khi mắt thầy sắc, hoặc nội t�m c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta c� tham, s�n, si"; hoặc nội t�m kh�ng c� tham, s�n, si biết r�: "Nội t�m ta kh�ng c� tham, s�n, si". Phật dạy c� một ph�p m�n vượt ngo�i l�ng tin, vượt ngo�i ưa th�ch, vượt ngo�i kham nhẫn, vượt ngo�i nghe học, vượt ngo�i biện luận, tư duy. Ph�p m�n ấy l� khi mắt thấy sắc nơi t�m c� khởi tham, s�n, si biết r� r�ng t�m c� tham, s�n, si; nếu t�m kh�ng c� tham, s�n, si cũng biết r� l� t�m kh�ng c� tham, s�n, si. N�y c�c Tỳ kheo, biết r� ch�ng c� mặt hay kh�ng c� mặt trong t�m vị ấy, c� phải ch�ng l� những ph�p do l�ng tin được hiểu biết, hay do ưa th�ch được hiểu biết, hay do lắng nghe được hiểu biết, hay do suy tư về phương ph�p được hiểu biết, hay do kham nhẫn, th�ch th� về biện luận được hiểu biết? - Thưa kh�ng, bạch Thế T�n. Phật dạy nh�n thẳng t�m: khi căn tiếp x�c với trần, tham, s�n, si c� mặt hay kh�ng c� mặt. Phải thấy biết một c�ch r� r�ng. Nghĩa l� khi mắt thấy sắc c� niệm tham, niệm s�n, niệm si dấy khởi th� biết c� tham, s�n, si; nếu kh�ng c� niệm tham, niệm s�n, niệm si dấy khởi th� biết kh�ng tham, s�n, si. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi m�i, lưỡi nếm vị... c� tham, s�n, si dấy khởi th� biết c� tham, s�n, si, kh�ng c� tham, s�n, si dấy khởi th� biết kh�ng c� tham, s�n, si. Thấy biết r� r�ng, kh�ng cần th�m sự kiện g� kh�c. Thấy biết như thế l� tu. Đ� l� ph�p m�n g� ? Ở đ�y, t�i hướng dẫn c�c Thiền sinh trong mọi sinh hoạt hằng ng�y khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng... c� niệm dấy khởi chạy theo ngoại trần liền biết kh�ng theo, niệm kh�ng khởi cũng biết, đ� l� tu. Vậy, ph�p m� ch�ng ta đang tu v� ph�p m� Phật dạy tu trong kinh n�y c� kh�c kh�ng? Trong kinh, Phật n�i theo lối xưa ngắn gọn, chỉ n�i t�m c� tham, s�n, si th� biết t�m c� tham, s�n, si; kh�ng c� tham, s�n, si th� biết kh�ng tham, s�n, si. Về sau được triển khai r� hơn: biết niệm tham, niệm s�n, niệm si l� hư dối kh�ng chạy theo tham, s�n, si, chớ kh�ng phải biết c� tham, s�n, si m� chạy theo tham, s�n, si. Biết để m� kh�ng theo, th� c�i biết đ� mới c� gi� trị. C�i BIẾT đ� l� TR�. Trong văn kinh Phật khẳng định rất r�: "Ph�p m�n n�y kh�ng thuộc t�n ngưỡng t�n gi�o, kh�ng do học hỏi, kh�ng cần cố gắng kham nhẫn, kh�ng do suy tư... chỉ d�ng tr� tuệ m� biết". Sau đ�y Phật lại nhấn mạnh th�m: - C� phải c�c Ph�p n�y, do thấy ch�ng với tr� tuệ n�n được hiểu biết? - Thưa phải, bạch Thế T�n. - Đ�y l� ph�p m�n, n�y c�c Tỳ kheo, do ph�p m�n n�y, ngo�i l�ng tin, ngo�i ưa th�ch, ngo�i lắng nghe, ngo�i suy tư về phương ph�p, ngo�i kham nhẫn, th�ch th� biện luận, c� thể x�c chứng với Ch�nh Tr�. Vị ấy biết r�: "Sanh đ� tận, Phạm hạnh đ� th�nh, những việc n�n l�m đ� l�m, kh�ng c�n trở lui trạng th�i n�y nữa". Khi căn tiếp x�c với trần, biết c� niệm dấy khởi chạy theo ngoại trần hay kh�ng niệm dấy khởi chạy theo ngoại trần, c�i biết đ� l� tr� tuệ. B�i kinh n�y x�c định r� r�ng ph�p tu biết vọng, m� Thiền vi�n đang hướng dẫn Thiền sinh tu tập l� d�ng tr� tuệ nh�n lại t�m m�nh. Khi s�u căn tiếp x�c với s�u trần c� khởi niệm chạy theo ngoại trần hay kh�ng khởi niệm chạy theo ngoại trần. Nếu c� khởi niệm th� biết n� l� vọng tưởng chợt hiện, chợt mất, hư giả kh�ng theo. Nếu kh�ng khởi niệm th� t�m lặng lẽ, tuy lặng lẽ m� vẫn tỉnh gi�c kh�ng mờ mịt. Nh�n lại để thấy h�nh trạng của t�m m�nh, đ� l� ph�p m�n g�? Kh�ng c� một phương ph�p thứ lớp trước sau để thực h�nh m� vẫn c� tu, n�n tạm gọi l� BIẾT VỌNG. Vậy, Phật dạy tu trong kinh n�y cũng như BIẾT VỌNG m� Thiền viện đang chủ trương, kh�ng c� một phương ph�p thứ lớp trước sau để thực h�nh, m� vẫn c� c�ch tu l� d�ng tr� nh�n lại h�nh trạng của t�m m�nh để dừng mọi vọng niệm, đ� l� giải tho�t. Kinh Vi�n Gi�c thuộc hệ thống Đại thừa cũng dạy: "Tri huyễn tức ly, ly huyễn tức gi�c". Nếu biết huyễn th� l�a huyễn, m� l�a huyễn l� gi�c. Thấy vọng niệm khởi l� huyễn h�a. Kh�ng thật n�n kh�ng theo, kh�ng theo tức l� l�a vọng niệm, m� l�a vọng niệm l� gi�c, l� giải tho�t. Đ� l� sự nhất qu�n giữa Nguy�n thủy, Đại thừa v� Thiền t�ng. Ng�i Thần Quang trải qua bao nhi�u lần thử th�ch mới được Tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận l�m đệ tử. Tuy được Tổ nhận l�m đệ tử, nhưng Ng�i vẫn c�n mang trong l�ng nỗi bất an. Một h�m, Ng�i r�n r�n thưa: - Bạch H�a Thượng, t�m con kh�ng an, xin H�a Thượng dạy con phương ph�p an t�m. Tổ nh�n thẳng v�o mặt Thần Quang bảo: - Đem t�m ra ta an cho. Ng�i Thần Quang cũng như ch�ng ta, đ�i c� một phương ph�p để nương theo đ� m� thực h�nh. Nhưng Tổ dạy như vậy l� phương ph�p g� ??? Ng�i Thần Quang l�ng tin đ� đặt trọn vẹn nơi thầy, n�n Tổ dạy sao l�m vậy. B�n xoay nh�n lại để t�m t�m, t�m thật kỹ m� chẳng thấy tướng trạng của t�m như thế n�o, Ng�i thật th� thưa rằng: - Bạch H�a thượng, con t�m t�m kh�ng được. Tổ bảo: - Ta đ� an t�m cho ngươi rồi. Tổ bảo như thế l� n�i thật hay n�i dối? Ng�i d�ng ph�p g� để an t�m cho Thần Quang? V� an bao giờ? Lời Tổ n�i mới nghe qua thấy như n�i đ�a, nhưng đ� l� một tiếng s�t l�m chấn động t�m n�o Thần Quang, khiến Ng�i hốt nhi�n tỉnh ngộ thấy được c�ch an t�m, v� t�m Ng�i từ đ� được an. Thiền t�ng chủ trương "Kh�ng c� một ph�p cho người" v� "C� ph�p m�n n�o" m� Phật dạy trong b�i kinh n�y c� tr�i nhau kh�ng? Người Trung Hoa đầu ti�n (Thần Quang) được tiếp nhận yếu chỉ Thiền từ A�n Độ sang do Bồ Đề Đạt ma truyền l� ph�p m�n n�o ? Chư Tổ Thiền t�ng thuộc d�ng L�m Tế từ đời Tống t�y theo căn cơ của người d�ng c�u thoại đầu lập th�nh ph�p m�n để dạy tu. Thế m� người sau kh�ng biết, chấp ph�p m�n tu của m�nh l� tr�n hết, b�n b�i b�c ph�p tu Mặc chiếu của T�ng T�o Động v� Tri vọng truyền từ Bồ Đề Đạt Ma l� t�. Người truyền đạo như thế, mang nặng tinh thần ức dương, b�i b�c phủ nhận tất cả để c�n lại một ph�p m�n của m�nh, thật l� một việc l�m v� tr�ch nhiệm, kh�ng th�ng suốt được gốc ngọn. Phật đ� t�y căn cơ của ch�ng sanh d�ng rất nhiều ph�p m�n để gi�o h�a để độ khắp. Thế m� người sau lại b�i b�c tất cả để c�n lại một ph�p m�n của m�nh, đ� l� một việc l�m đưa đạo Phật đến chỗ ti�u diệt m� người truyền đạo kh�ng thấy c�i họa lớn đ�. B�i kinh n�y nếu nằm trong H�n tạng th� c� thể bị nghi ngờ l� do c�c Tổ Trung Hoa gầy dựng, g�y niềm tin cho người. Nhưng b�i kinh n�y chỉ c� trong kinh Nguy�n Thủy, thuộc tạng P�li m� kh�ng c� trong H�n Tạng. Như vậy, th� chư Tổ Thiền T�ng dạy kh�ng c� ph�p m�n đ�u chẳng phải kh�ng căn cứ từ cội nguồn Phật ph�p từ gi�o l� Nguy�n thủy đ� c� thời đức Phật, từ miệng Phật n�i ra. Vậy, hệ thống truyền thừa từ Phật đến Tổ Huệ Khả v� Chư Tổ Thiền t�ng sau n�y, kh�ng phải l� chuyện ngẫu nhi�n v� căn cứ. Nh�n lại t�m m�nh, trong kinh n�y, ch�nh Đức Phật đ� dạy, sau Chư Tổ tiếp tục dạy, kh�ng phải mới bịa đặt ra sau n�y. V� từ l�u, người tu quen d�ng phương tiện như sổ tức, niệm Phật, tr� ch�.... để buộc t�m, b�y giờ n�i kh�ng c� ph�p m�n th� sanh nghi, n�o biết lối tu n�y ph�t nguồn từ Đức Phật dạy. Như vậy, ph�p m�n tu kh�ng cần một phương ph�p, chỉ cần nh�n thẳng t�m m�nh n�n gọi l� trực chỉ, nếu c�n nương một ph�p như qu�n sổ tức, qu�n bất tịnh, kh�n thoại đầu... để tu th� kh�ng gọi l� Trực chỉ. Căn bản của Thiền t�ng l� chỗ kh�ng c� một ph�p để dạy người, nếu c� một ph�p th� Thiền sư đ��n�i, đ� dạy, đ�u cần đ�nh h�t l�m g�. Bởi kh�ng c� một ph�p n�n c�c Ng�i kh�o d�ng thuật chỉ thẳng, ngay đ� khiến người nhận ra ch�n t�m m�nh, n�n n�i Trực chỉ nh�n t�m, kiến t�nh th�nh Phật l� vậy. Kinh n�y kh�ng n�i th�nh Phật m� n�i th�nh A La H�n, kinh Nguy�n thủy thường gọi Phật l� bậc A La H�n Ch�nh Đẳng Ch�nh Gi�c. Vậy, qua b�i kinh n�y ch�ng ta đ� thấy r� nguồn gốc ph�p tu tri vọng m� Thiền viện đang chủ trương ph�t xuất từ đ�u rồi. Qua b�i kinh n�y, t�i xin x�c nhận lại hai điều: I. Kh�ng c� ph�p m�n Phật dạy tu m� kh�ng c� một phương ph�p thứ lớp trước sau cho người thực h�nh, chỉ d�ng tr� tuệ để thấy r� h�nh trạng của nội t�m khi s�u căn tiếp x�c với s�u trần. Trong kinh d�ng chữ tham, s�n, si. Chư Tổ th� n�i tất cả mọi vọng niệm. Hai c�ch n�i tuy kh�c nhau nhưng � nghĩa kh�ng kh�c. V� mắt thấy sắc đẹp khởi niệm ưa th�ch, đ� l� tham. Tai nghe lời th� tục, khởi niệm bực bội, đ� l� s�n. Đối cảnh t�m ngơ ngơ kh�ng biết g�, chấp cảnh l� thật, đ� l� si. Vậy, tất cả mọi � niệm dấy khởi chạy theo trần cảnh đều l� tham, s�n, si. II. Biết l� Tr� tuệ Khi thấy biết vọng tưởng, vọng tưởng lặng. C�i biết đ� l� Tr� tuệ. V� khi m�, cho vọng tưởng l� t�m m�nh n�n bị n� dẫn chạy ngược chạy xu�i rồi phiền n�o khổ đau. B�y giờ, biết bản chất của n� l� kh�ng thật l� vọng tưởng n�n kh�ng chạy theo n� nữa. Kh�ng theo n� th� tham, s�n, si dừng; tham, s�n, si dừng th� hết phiền n�o khổ đau. Người kh�ng phiền n�o khổ đau l� người tr�. Vậy, biết vọng tưởng l� tr� tuệ, đừng lầm m� nghi ngờ c�i biết đ� cũng l� vọng tưởng. Phải thấy cho thật r� điều n�y. N�n biết thấy được vọng niệm l� tr� tuệ v� từ tr� tuệ sẽ đi tới giải tho�t. V� biết vọng niệm n�n kh�ng theo, kh�ng theo n�n kh�ng nhiễm, kh�ng nhiễm l� giải tho�t. Đ� l� trọng t�m tu h�nh m� Tổ Bồ Đề Đạt Ma đ� chỉ thẳng: "Đem t�m ra ta an cho". Hồi xưa đọc qua chỗ n�y, mấy lần t�i vẫn kh�ng hiểu. V� t�i quan niệm tu l� phải c� một phương ph�p hẳn h�i, n�n t�m ho�i kh�ng được, sanh nản l�ng. Kh�ng ngờ Tổ đ� tuy�n bố trực chỉ th� c�n ph�p m�n g� nữa? B�y giờ th� thấy rất r�, chỉ cần nh�n lại h�nh trạng của nội t�m, vừa c� niệm khởi liền biết n� l� vọng niệm kh�ng theo, kh�ng vọng niệm cũng biết, đ� l� tu. Như vậy ngay khi vọng niệm hết th� ch�n t�m s�ng suốt tự hiện, m� ch�n t�m s�ng suốt đ� l� Gi�c, l� Phật. Thế m� ch�ng ta muốn thấy �ng Phật h�o quang rực rỡ với những tướng kh�c lạ, chớ kh�ng chịu nhận �ng Phật hằng s�ng hằng gi�c sẵn c� nơi m�nh. T�nh gi�c dụ như c�i gương s�ng, b�n ngo�i c� vật th� hiện b�ng trong gương, b�n ngo�i kh�ng vật th� gương kh�ng b�ng, nhưng mặt gương vẫn trong s�ng. Cũng vậy, t�nh gi�c khi kh�ng c� vọng niệm th� thanh tịnh s�ng suốt, mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, c�c căn vẫn biết kh�ng m� mờ, cũng kh�ng c� c�i lanh của đi�n đảo. Một giờ niệm kh�ng khởi l� một giờ t�m s�ng suốt thanh tịnh, l� Phật hiện tiền. V� kh�ng biết Phật l� t�nh gi�c, sẵn c� nơi tự t�m m�nh, n�n người đời tưởng tượng rồi chạy theo h�nh tướng t� điểm vẽ vời tượng Phật m�i son m� phấn l�e loẹt. Phật đ� kh�ng cho đệ tử d�ng hương hoa, phấn s�p trang điểm th�n h�nh, b�y giờ ch�ng ta lại d�ng son phấn t� điểm tượng Phật, l�m một điều hết sức tr�i ngược! Đức Phật từ gi� nếp sống xa hoa lộng lẫy ở ho�ng cung, đi v�o rừng sống một đời sống đơn giản b�nh dị. Vậy m�, ng�y nay người học Phật qu� thiển cận, cứ chạy theo c�i l�e loẹt h�o nho�ng b�n ngo�i, n�n đạo c�ng ng�y c�ng xa. C�i thật hiện hữu trước mắt th� kh�ng chịu nhận. Ch�ng ta c� thể ngồi chơi: mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe tất cả �m thanh sắc tướng b�n ngo�i m� kh�ng khởi một niệm, t�m thanh tịnh lặng lẽ khoảng 5 ph�t, 10 ph�t... ngay khi đ� t�m b�nh an l� Phật hiện tiền. N�i t�m b�nh an l� Phật hiện tiền th� thấy qu� dễ n�n mọi người kh�ng d�m tin. Song, đ� l� một lẽ thật kh�ng thể phủ nhận. Phật kh�ng xa, chỉ v� m�nh đem t�m t�m kiếm th�nh ra xa c�ch, rồi tự than: Ta sanh v�o thời mạt ph�p, c�ch Phật qu� xa, n�n kh� tu! Nếu nắm được then chốt rồi th� sự tu h�nh kh�ng kh�, gần với đạo v� c�ng, ai cũng c� thể l�m được. Chỉ cốt đối duy�n, x�c cảnh mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe... kh�ng khởi niệm chạy theo trần cảnh, t�m hằng lặng lẽ s�ng suốt đ� l� hợp đạo, l� sống với tr� tuệ, l� Phật. B�i kinh n�y gi�p cho ch�ng ta thấy r� đường lối tu của thiền viện l� d�ng tr� tuệ nh�n lại h�nh trạng của nội t�m m�nh, đ� l� một c�ch tu c� căn bản, c� nguồn cội, để ch�ng ta vững l�ng tin, kh�ng hoang mang nghi ngờ, kh�ng sợ việc tu của m�nh bị sai lạc m� nỗ lực tu tập. ]
|