BƯỚC ĐẦU TR�N CON ĐƯỜNG THIỀN
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6]
| PHƯƠNG PH�P TU CỦA TU VIỆN CHƠN KH�NG h�g Buổi n�i chuyện h�m nay, t�i kh�ng n�i những c�i ph�t minh mới, chỉ tr�nh b�y đường lối chủ trương của Tu viện để c�c Thiền sinh nắm vững m� tu học cho đ�ng, kh�ng c�n nghi ngờ, v� nếu c� tr�nh b�y cho người học hiểu th� tr�nh b�y được ch�nh x�c v� r� r�ng. Muốn r� đường lối tu h�nh của Tu viện Chơn Kh�ng, th� trước hết phải nh�n, lui về lịch sử Phật gi�o Trung Hoa. Phật gi�o Trung Hoa từ đời Tấn tới đời Đường chia ra mười t�ng ph�i. Về sau, từ thời Nguy�n, đời Minh, đời Thanh c�n lại c� bốn t�ng l�: Thiền, Gi�o, Tịnh, Mật. Gi�o tr�m cả Thi�n Thai t�ng, Hoa Nghi�m t�ng, Tam Luận t�ng, Ph�p Tướng t�ng... N�i chung, c�c t�ng c� chủ trương học kinh, học luật, học luận đều thuộc về Gi�o. C�n Thiền t�ng, Tịnh độ t�ng, Mật t�ng th� c� chủ trương ri�ng. Tuy chia ra l�m bốn t�ng hoằng h�a, nhưng c� hai t�ng nổi bật l� Gi�o v� Thiền. Gi�o chỉ cho những vị tu sỹ chuy�n học v� tr� tụng kinh điển, ch�a n�o học v� tr� tụng kinh điển th� được coi như tu theo Gi�o. C�n Thiền thời bấy giờ l� nhắm thẳng Thiền Thoại đầu, do chư Tổ d�ng L�m Tế từ đời Tống xiển dương. Hai b�n Thiền v� Gi�o c� chủ trương kh�c nhau n�n c�ng k�ch lẫn nhau. Thiền th� c�ng k�ch Gi�o l� kiến giải su�ng, chỉ học hiểu m� kh�ng thực h�nh. Gi�o th� c�ng k�ch Thiền l� Thiền ngu dốt, kh�ng th�ng gi�o l�, v� Thiền chuy�n tu thoại đầu chủ trương độn c�ng phu. Nghĩa l� Thiền sinh chỉ tin v�o vị thầy hướng dẫn, vị hướng dẫn cho một c�u thoại đầu, thiền sinh phải d�ng hết t�m lực kh�n c�u thoại đầu đ� cho tới ng�y ngộ chớ kh�ng học kinh điển, ngoại trừ những buổi khai thị của vị thầy th� mới tham học. Do đ�, hai t�ng c� cớ để c�ng k�ch lẫn nhau. C�n Tịnh Độ t�ng v� Mật t�ng th� c� chủ trương đường lối ri�ng, n�n ở đ�y kh�ng b�n tới. X�t ra, Thiền v� Gi�o b�n n�o cũng c� c�i ưu, nhưng cũng kh�ng tr�nh khỏi c�i khuyết. Gi�o ưu ở học kinh điển, nhưng khuyết ở chỗ học hiểu m� kh�ng h�nh, chỉ đem kinh điển ra giảng n�i tụng đọc th�i. Kinh luật Phật dạy để cho người thực h�nh, chớ kh�ng phải dạy để giảng thuyết su�ng hay tụng đọc su�ng m� kh�ng thấy ch�n l�. Thiền chuy�n kh�n thoại đầu, được c�i ưu l� dồn hết t�m lực trong c�u thoại đầu, kh�ng bị chi phối bởi những kiến giải. Nhưng v� kh�ng học kinh điển, n�n chỉ tu đến khi n�o ngộ mới c� thể ra gi�o h�a được, nếu chưa ngộ th� l�c đ� đ�nh chịu độn c�ng phu! Thiền được coi l� một t�ng ph�i kh�ng trọng gi�o. Bởi kh�ng trọng gi�o n�n l�m v�o c�i lỗi lớn l� tu m� kh�ng th�ng gi�o l� Phật, v� sau lại vấp th�m c�i lỗi thứ hai nữa l�: V� kh�ng trọng gi�o chỉ chuy�n kh�n thoại đầu để chờ ngộ đạo, song mỗi ph�p hội c� năm bảy trăm thiền sinh, m� người ngộ đạo chỉ một hai th�i, những người kh�ng ngộ đạo th� sao? Đ� ch�nh l� c�i nh�n l�m cho thiền thoại đầu biến c�c ch�a Thiền t�ng th�nh Tịnh độ sau n�y: Tại sao vậy? V� khi kh�n thoại đầu m� kh�ng ngộ th� tốt hơn l� trở lại niệm Phật, v� niệm Phật nhẹ nh�ng �t học hơn kh�n thoại đầu. V� dụ kh�n c�u: "Niệm Phật l� ai?" Thiền sinh dồn hết t�m lực v�o c�u hỏi m� kh�ng trả lời được, để chờ ngộ... Người kh�n thoại đầu th� tin v�o lời của vị thầy chỉ dạy, hướng theo đ� tu cho tới khi ngộ đạo, chớ kh�ng tr�ng cậy v�o kinh Phật. Về sau c� nhiều người cho rằng tin Phật nhất l� Phật A Di Đ�, trong bốn mươi t�m lời nguyện c� lời nguyện "Ai niệm danh hiệu Ng�i sẽ được Ng�i đ�n về Cực Lạc". Tin v� Tu như vậy dễ hơn. Do đ�, người tu thiền dần dần chuyển sang Tịnh độ. Ch�nh ở Việt Nam c�c ch�a Thiền t�ng sau n�y biến th�nh ch�a Tịnh độ cũng v� l� do đ�.Kh�ng phải ai kh�n thoại đầu cũng đều ngộ, nếu kh�ng ngộ th� cả đời tu kh�ng s�ng sủa. Hai t�ng Thiền Tịnh đều c� c�i ưu v� c�i khuyết, Tịnh độ ưu l� tin v�o Đức Phật Ai Di Đ�, khuyết l� c�i Cực lạc th� qu� xa. C�n Thiền thoại đầu khuyết l� kh�ng tin Phật m� chỉ tin v�o vị Thiền sư hướng dẫn, ưu l� ngộ ngay nơi ch�nh m�nh. Đ� l� ưu khuyết của hai t�ng Thiền Tịnh. Về sau Tịnh độ c� phần hưng thịnh v� thiền thoại đầu thiền sinh tu l�u ng�y thấy nhọc nhằn m� kh�ng ngộ đạo, lần lần chuyển sang Tịnh độ niệm Phật nhẹ nh�ng dễ hơn. Đ� l� l� do m� người sau phải suy nghĩ. Gi�o th� nặng về kinh chỉ học, tr� tụng thuyết giảng su�ng m� kh�ng ứng dụng tu h�nh. Thiền th� chỉ kh�n thoại đầu m� kh�ng chịu học kinh, v� học kinh điển sợ trở th�nh kiến giải. Cả hai đều c� t�nh c�ch th�i qu�, cho n�n Tu viện Chơn Kh�ng chủ trương Thiền Gi�o song h�nh. Về Gi�o, thiền sinh phải học kinh, luận, sử. Về Thiền, th� phải thực nghiệm tu tập. C�c Thiền sư thường n�i Gi�o l� lời Phật n�i hay l� miệng của Phật, Thiền l� t�m của Phật, t�m v� miệng của Phật kh�ng hai. V� t�m v� miệng của Phật kh�ng hai n�n Thiền v� Gi�o kh�ng hai, v� vậy Tu Viện Chơn Kh�ng ch�ng t�i chủ trương Thiền Gi�o song h�nh. Từ l�u t�i thường n�i với tất cả Thiền sinh rằng: Đối với Tam Bảo, t�i c� niềm tin rất s�u, cho n�n l�c n�o cũng gắng l�m cho ngọn đ�n Phật ph�p s�ng tỏ, kh�ng muốn bị lu mờ. Nếu ch�ng ta chuy�n tu Thiền thoại đầu th� qu�n học kinh luận, m� qu�n học kinh luận th� v� t�nh phế Ph�p bảo mười người tu thoại đầu chắc g� mười người ngộ, hay năm người ngộ, hay một hai người ngộ? Nếu kh�ng ngộ th� ngọn đ�n Phật ph�p dần dần tắt mất, đ� l� điều tu sỹ ch�ng ta phải thận trọng. Ở Việt Nam, trong thời ch�ng t�i tu học th� Phật gi�o chia tổng qu�t l�m ba nh�m (chia th�nh nh�m chớ kh�ng chia th�nh ph�i). Nh�m thứ nhất lấy kinh điển Phật l�m nghề sanh nhai, đi tụng t�n để c� tiền sanh sống, được gọi l� Thầy c�ng Thầy đ�m, nh�m n�y cũng kh� đ�ng. Nh�m thứ hai l� những người tốt, nhưng v� �t học ham tu n�n nặng về t�n ngưỡng, tu một c�ch m� qu�ng, tu m� kh�ng hiểu gi�o l�, cho n�n chỉ biết c�ng rằm c�ng v�a, tụng kinh t�nh bộ, lạy tam thi�n Phật, lạy Ph�p Hoa từng chữ. Tu nhiều l� c�ng nhiều, lạy nhiều, tụng nhiều. Đ� l� chủ trương của nh�m thứ hai, gồm một số ch�a ở th�n qu�, v� ở th�nh thị c�ng c�. Nh�m thứ ba l� những người học c� cấp bằng, hiểu gi�o l� đạo Phật như triết học. Đ� l� trường hợp của ch�ng t�i học ở Phật học viện, học rất nhiều m�n, học c� chương tr�nh, c� thi cử đ�ng ho�ng. Bởi lo thi cử n�n ai nấy cắm đầu học, học để thi lấy bằng! Rốt cuộc trong khi học gi�o l� Phật, cũng kh�ng c� th� giờ để tu. Việc tu th� gượng gạo, một ng�y 24 giờ, một hai thời c�ng phu cho qua ng�y th�i, chớ kh�ng c� sự chuy�n tu. Đến khi m�n kh�a học ra trường phải đi giảng dạy, m� giảng dạy th� phải tổ chức. Vừa lo giảng dạy vừa lo tổ chức cho gi�o hội n�n cũng kh�ng c� th� giờ tu. Vậy nh�m thứ ba n�y được ưu điểm l� c� học, nhưng lại cũng thiếu tu. Hồi hội Phật học Nam Việt cất ch�a X� Lợi, c� xin Sư cụ Ph�p chủ Kh�nh Anh hai c�u đối để ghi trong giảng đường. Sư Cụ cho hai c�u :" Học m� kh�ng tu l� đ�y đựng s�ch, tu m� kh�ng học l� tu m�". Hai c�u đối đ�, đến nay vẫn c�n ghi ở giảng đường ch�a X� Lợi. Sư cụ nhắm hai nh�m người: nh�m nặng t�n ngưỡng ham tu m� kh�ng học, lấy c�ng tụng lễ lạy l�m tr�n, tu một c�ch m� qu�ng, v� nh�m nữa l� ở Phật học viện, học cốt ghi nhớ cho nhiều để ra giảng dạy lo l�m việc kh�ng tu được g� hết, giống như c�i đ�y đựng s�ch. Đ� l� tệ trạng Phật gi�o Việt Nam l�c bấy giờ, ch�nh t�i l� người trong cuộc. Suy nghiệm thấy c�i lỗi thiếu s�t của m�nh n�n t�i nhập thất chuy�n tu v� chủ trương lập tu viện. T�i lập tu viện m� kh�ng cất ch�a, v� sợ cất ch�a Phật tử tưởng như c�c ch�a kh�c sẽ mời đi c�ng đi tụng. V� để tr�nh hai c�i lỗi: học trở th�nh c�i đ�y đựng s�ch, tu m� kh�ng biết Phật Tổ dạy c�i g� cứ tu m�. N�n t�i dung hội cả học lẫn tu để hướng dẫn cho Thiền sinh trong tu viện. V� học m� biết ứng dụng sở học để tu th� kh�ng phải l� c�i đ�y đựng s�ch, v� tu m� c� học hiểu th�ng suốt gi�o l� n�n kh�ng phải l� tu m�. Như vậy, chủ trương m� Tu viện Chơn Kh�ng đang thực hiện l� "Thiền Gi�o song h�nh". Học ở Phật học viện th� phải nhớ, phải thuộc để thi cử. C�n học ở Tu viện l� để hiểu tự tham cứu tu h�nh, kh�ng bắt phải nhớ, phải l�m b�i, phải thi cử. Bởi học phải nhớ phải l�m b�i, phải thi cử n�n t�m bị rối, c�n học để ứng dụng tu h�nh th� kh�ng c� g� phiền bận. Ở đ�y, t�i giảng kinh, luận, sử cho qu� vị nghe, ai nhớ được bao nhi�u th� nhớ, v� nhớ được bao nhi�u ứng dụng tu bấy nhi�u. Học để thi cử v� học để tu kh�c nhau ở chỗ đ�. V� vậy, tu viện chủ trương tu "tri vọng" chớ kh�ng dạy kh�n thoại đầu. Tại sao? V� học v� tu song h�nh, nếu kh�n thoại đầu l� phải bỏ học, m� bỏ học tức nhi�n phế gi�o, n�n kh�ng thể ứng dụng thoại đầu được, đ� l� l� do thứ nhất. L� do thứ hai như t�i đ� kể, t�i kh�ng phải l� người được kế truyền t�ng Lấm Tế, n�n t�i kh�ng dạy tu thoại đầu. V� chủ trương của Thiền thoại đầu l� lấy ngộ l�m chỗ cứu c�nh. Nhưng ngộ th� phải nhiều lần, giải ngộ th� v� số, tiểu ngộ th� năm bảy lần, chứ kh�ng phải ngộ một lần l� xong. Cho n�n người tu thiền thoại đầu đến chỗ cứu c�nh l� triệt ngộ, người đ� mới l� người xuất c�ch, c� thể hoằng h�a được. Ở đ�y, ch�ng t�i chủ trương tu l� "tỉnh gi�c" chứ kh�ng n�i ngộ. Q�y vị phải hiểu cho thật kỹ chỗ n�y. Tỉnh gi�c l� l�c n�o cũng biết đ�ng kh�ng lầm. Từ l�u, ch�ng ta nhận lầm c�i tứ đại n�y l� th�n m�nh, c�i suy tư, nghĩ tưởng, cảm thọ, ph�n biệt l� t�m m�nh. V� cho tứ đại hư giả l� th�n m�nh, vọng tưởng l� t�m m�nh, n�n bị n� sai sử chạy hết nơi n�y đến chỗ nọ. Khi biết r� n� l� duy�n hợp hư giả, l� vọng tưởng kh�ng phải l� m�nh (ng�) đ� l� tỉnh; qu�n, nhận c�i v� thường sanh diệt đ� l� m�nh, để n� dẫn đi đ� l� m�. Một ph�t tu l� một ph�t tỉnh, tỉnh từng ph�t từng gi�y n�n kh�ng c� c�i ngộ mạnh mẽ như kh�n thoại đầu. Thứ đến l� trong khi học kinh nghe lời Phật Tổ dạy c� thể tỉnh, nhận ra c�i n�o chơn c�i n�o giả, đ� l� tỉnh gi�c chớ kh�ng phải đại ngộ. Tỉnh l� biết c�c ph�p kh�ng phải thật, c�n c�i thật th� chưa nhận ra. Vậy n�n, đường lối tu ở đ�y l� hằng tỉnh hằng gi�c. Bởi v� l�u nay ch�ng ta quen thấy c�i g� cũng thật, m� vạn vật nguy�n l� duy�n hợp hư dối, thấy n� thật l� m�. Bởi m� cho n�n đuổi theo vật chạy hết chỗ n�y đến chỗ kh�c, do đ� m� khổ đau. B�y giờ tỉnh gi�c, thấy r� c�c ph�p đều duy�n hợp hư dối. Hoặc l� qu�n cảnh vật huyễn h�a, hoặc qu�n sắc th�n duy�n hợp hư dối, hoặc qu�n vọng tưởng kh�ng thật cũng l� huyễn. Như vậy trong giờ ph�t n�o cũng sống trong sự tỉnh gi�c, đ� l� tu. C�n thiền thoại đầu, khi tham thiền th� chết sống với c�u thoại đầu, l�c đ� dồn hết t�m lực v�o c�u thoại đầu, kh�ng tỉnh kh�ng gi�c. Trong thời gian khối nghi chưa vỡ, thiền sinh ở trong trạng th�i tối tăm, v� vậy khi ngộ th� mạnh lắm. C�n tu "tri vọng" do tỉnh gi�c từng ph�t gi�y, cho n�n c� tỉnh th�m ch�t nữa cũng thường, kh�ng thấy quan trọng. Song, giờ n�o tu giờ đ� tỉnh. Giả sử trong tu viện năm mười người tu, năm mười người đ� tuy chưa triệt ngộ, nhưng c� tỉnh gi�c th� tu h�nh c� tiến, do điều phục được phiền n�o, n�n c� đủ niềm tin v� nương theo lời Phật Tổ vẫn c� thể giảng dạy cho người sau c�ng tu tập. Đ� l� điểm đặc biệt. Nếu tham thoại đầu m� chưa ngộ, th� kh�ng dạy được, v� đang dồn t�m lực v�o c�u thoại đầu. Do đ�, c� những vị Thiền sinh lo tu qu�n cắt m�ng tay, r�u t�c ra d�i, tham thiền qu�n hết mọi việc, n�n khi chưa ngộ th� kh�ng l�m g� cả. Ở đ�y tu viện chủ trương phải thường xuy�n tỉnh gi�c, tuy chưa chứng ngộ, nhưng gi�c ngộ tới đ�u th� chỉ dạy người sau tu tới đ�, m� y theo lời Phật Tổ dạy chớ kh�ng phải dạy ri�ng theo � m�nh. Vậy, chủ trương của tu viện Chơn Kh�ng chẳng phải chỉ chuy�n tu m� kh�ng c� sự lợi tha. C�n người tham thoại đầu hoặc 5 năm, 10 năm, 20 năm mới ngộ, đ� l� người c� phước lớn. C�n nếu tu 5 năm, 10 năm, 20 năm m� kh�ng ngộ coi như cuộc đời chịu chết trong độn c�ng phu. Vẫn biết rằng kh�ng ngộ th� th�i, nhưng chưa ngộ th� cả đời tu kh�ng l�m được g� lợi �ch cho đời. Hơn nữa, thời cuộc kh�ng cho ph�p người tu ai đến học đạo cũng bảo "Tham đi" m� cần phải l� giải, l� giải th� phải học, vừa học vừa tu. Kh�n thoại đầu kẹt ở chỗ kh�ng học, ngoại trừ những người học rồi, chỉ chuy�n tu th� được. Đ� l� sự kh�c biệt của đ�i b�n. Chủ trương tu "tri vọng" của Tu viện Chơn Kh�ng xuất xứ từ đ�u? Đ� l� vấn đề quan trọng. Sau n�y, c� một số người lầm cho rằng: Tu theo Tổ sư thiền l� phải kh�n thoại đầu, tu m� học kinh luận th� kh�ng phải thiền Tổ sư. Đ�y, t�i xin đặt c�u hỏi: Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn c� phải l� Tổ sư kh�ng? Ng�i đ� từng dạy đệ tử tụng kinh Kim Cang v� cũng từng giảng kinh Kim Cang cho Lục Tổ nghe v� ngộ đạo. Vậy, Ng�i l� Tổ sư hay chẳng phải Tổ sư? Hiện tại c� một số người cứ cho rằng kh�n thoại đầu mới l� Tổ Sư Thiền, kh�ng kh�n thoại đầu kh�ng phải Tổ sư thiền, đ� l� điều lầm lẫn rất lớn. Lại, c� người cho rằng học kinh kh�ng thể ngộ đạo, điều đ� cũng kh�ng đ�ng. Ch�nh Ng�i Huyền Gi�c trước do xem kinh Duy Ma Cật m� ngộ đạo, sau mới tới Lục Tổ để ấn chứng. Học kinh kh�ng ngộ l� v� theo lối học từ chương để thi cử. Người do tu tập t�m dần dần thanh tịnh, đọc qua kinh Phật ho�t nhi�n t�m s�ng ra nhận được l� ch�n thật. Như trường hợp Ng�i Huyền Sa nhập thất tu, Ng�i nghi�n cứu kinh Lăng Nghi�m m� ngộ đạo, hoặc như Ng�i Ph�p Loa thuộc ph�i Tr�c L�m Y�n Tử cũng do đọc kinh Lăng Nghi�m m� được ngộ. Như vậy, quan niệm tu thiền học kinh kh�ng ngộ l� kh�ng đ�ng. Học kinh bằng c�ch vừa nghi�n cứu vừa tu, th� c� thể nh�n nơi kinh m� ngộ đạo. Trong kinh Ph�p Bảo Đ�n, Ng�i Ph�p Đạt chưa thấy đạo đến hỏi l� kinh Ph�p Hoa. Sau khi được Lục Tổ giải nghi, Ng�i nhận được yếu chỉ, Ng�i mới hỏi rằng: Hiểu được l� kinh khỏi tr� tụng được chăng? Lục Tổ đ�p: Kinh đ�u c� l�m chướng ngại �ng. Vậy, Tổ bảo tụng kinh hay kh�ng tụng? Đạt được l� đọc kinh c� hại g�? Như vậy, Ngũ Tổ đ� dạy đệ tử tụng kinh. Lục Tổ cũng đ�u c� cấm tụng kinh. Lục Tổ ngộ đạo từ nơi kinh Kim Cang, cho n�n trong b�i kệ V� tướng của Lục Tổ c� c�u: "T�ng th�ng cập thuyết th�ng, như nhật xử hư kh�ng". T�ng th�ng l� thiền m� thuyết l� gi�o, Thiền v� Gi�o cả hai đều th�ng suốt giống như mặt trời giữa hư kh�ng s�ng rỡ. Để thấy, chủ trương của chư Tổ đ�u c� phế bỏ kinh. Người sau kh�ng nghiệm tới nguồn gốc, cứ nhắm mắt m� lớn tiếng c�ng k�ch, thật l� một việc l�m qu� sai lầm! T�ng T�o Động, t�ng L�m Tế, t�ng n�o kh�ng phải l� Tổ sư thiền? Ng�i Đại Huệ thuộc t�ng L�m Tế chỉ tr�ch t�ng T�o Động về "mặc chiếu, vậy chủ trương của t�ng T�o Động c� sai kh�ng? Sự c�ng k�ch đ� chẳng qua l� do tinh thần ức dương của người truyền đạo, cứ đề cao sở trường của m�nh, v� đ� bẹp ph�p tu của kẻ kh�c. Nếu c� người tới hỏi đạo, m� khen ph�p tu của kẻ kh�c th� l�m sao tr�nh b�y được sở trường của m�nh. Ai kh�ng biết ph�p tu Tịnh Độ v� tu Thiền đều từ kinh Phật dạy. Vậy m� c� người tới hỏi Thiền với vị tu Tịnh Độ liền bị dọa coi chừng đi�n, tu Thiền kh� lắm, m� khen ph�p tu Tịnh Độ. C�n người tu Thiền th� n�i Tịnh Độ qu� nặng t�n ngưỡng, tu c�n mượn phương tiện, kh�ng mạnh. Đ� l� do tinh thần ức dương của người truyền đạo. Người sau thấy Ng�i Đại Huệ b�c "mặc chiếu" của t�ng T�o Động, tưởng tu "mặc chiếu" l� sai, đ� l� một c�i lầm lớn của người sau, kh�ng chịu nghi�n cứu tường tận. Nghe người trước khen ch� th� theo đ� m� khen ch�, chứ kh�ng hiểu được gốc ngọn. Đường lối của tu viện Chơn Kh�ng l� Thiền Gi�o song h�nh, nếu hiểu đ�ng l�m đ�ng th� đ�u c� kh�c chủ trương "t�ng th�ng thuyết th�ng" của Lục Tổ, t�ng th�ng thuyết th�ng như mặt trời chiếu s�ng giữa hư kh�ng c� lỗi lầm g�? Đ� l� chủ yếu m� người tu phải hiểu phải thấy cho thật r�. Do đ�, khi lập tu viện, t�i chủ trương Thiền Gi�o song h�nh, hai b�n phải nương nhau, nương Gi�o để th�ng Thiền, nhờ tu thiền s�ng được kinh. Cả hai hỗ tương nhau chớ kh�ng t�ch rời. Nhờ vậy, nếu chưa tu được vi�n m�n vẫn c� thể n�u cao ngọn đ�n ch�nh ph�p chớ kh�ng l�m cho tắt mất. Nhờ c� Gi�o l�m nền tảng căn bản th� kh�ng xiển dương theo ức thuyết. Nếu chỉ kh�n thoại đầu, kh�ng học kinh, nghi t�nh chưa vỡ l�m sao d�m ra giảng dạy? N�n hiểu đường lối tu h�nh ở đ�y l� vừa học, vừa tu, vừa c� thể hoằng h�a. C�i thấy biết của m�nh l� c�i thấy biết nương nơi c�i thấy biết của Phật Tổ, đồng thời chi�m nghiệm ứng dụng lời Phật Tổ để thấy r� lẽ thực của c�c ph�p. Ng�i Huệ Khả thưa Tổ Bồ Đề Đạt Ma: - T�m con bất an, xin thầy dạy con phương ph�p an t�m. Tổ Bồ Đề Đạt Ma nh�n thẳng v�o mặt Huệ Khả bảo: - Đem t�m ra đ�y ta an cho. Huệ Khả sửng sốt nh�n lại kh�ng thấy t�m, thưa: - Con t�m t�m kh�ng thể được. Tổ Bồ Đề Đạt Ma bảo: - Ta đ� an t�m cho ngươi rồi. Huệ Khả liền khế ngộ. Huệ Khả n�i t�m bất an l� n�i c�i vọng t�m xao xuyến rối bời m� l�u nay ai cũng chấp n� l� t�m m�nh, n�n thấy bất an. V� khi Sơ Tổ bắt ch�ng ta nh�n thẳng mặt vọng t�m thấy n� tự tan biến lặng lẽ, tức biết n� hư vọng th� t�m an. Vậy, chủ trương "biết vọng" c� căn cứ r� r�ng kh�ng phải ức thuyết. Một h�m, Ng�i Huệ Khả bỗng nhi�n đại ngộ, bạch với Tổ Bồ Đề Đạt Ma: - Nay con c�c duy�n đều bặt. Tổ Bồ Đề Đạt Ma n�i: - Coi chừng lạc v�o kh�ng. Huệ Khả thưa: - Con thường biết r� r�ng n�i kh�ng thể đến. Tổ Bồ Đề Đạt Ma n�i: - Đ�y l� chỗ truyền của chư Phật, chớ n�n hồ nghi. Vậy, vọng tưởng lặng th� "c�i liễu liễu thường tri" hiện tiền, đ� l� chỗ cứu c�nh vi�n m�n, gọi l� như như. Tu "biết vọng" cho ch�ng ta kinh nghiệm l� nh�n m�nh c�ng kỹ th� thấy lỗi m�nh c�ng nhiều. T�i v� dụ, c� một đ�i cổ Phật, m� tượng cổ Phật bị quỷ khi�ng quăng mất, c�n c�i đ�i trống n�n ng�y n�o quỷ n� cũng nhảy l�n m�a h�t. Bấy giờ, c� người ph�t t�m s�ng b�i, liền thỉnh tượng cổ Phật an vị tr�n đ�i. Vừa để tượng l�n l� quỷ n� đem quăng xuống, th�nh thử an vị kh�ng được. Họ mới cầu cứu c�c thầy tu tới trị gi�m con quỷ. Thầy tu Tịnh Độ viết s�u chữ Nam M� A Di Đ� Phật d�n l�n c�i đ�i, quỷ n� hơi sợ, thầy d�n xong thầy đi, quỷ giật tượng cổ Phật xuống, leo l�n đ�i m�a may nữa. Thầy tu Mật t�ng đến d�n c�u ch� "A�n ma ni b�t di hồng", n� cũng sợ nhưng khi thầy đi vắng, n� cũng giật tượng xuống trồi đầu l�n nhảy m�a. Thiền sư tới d�n c�u "Niệm Phật l� ai?" d�n rồi lại lơ lơ l� l�, n� cũng giật tượng cổ Phật xuống leo l�n nhảy m�a nữa. Một Thiền sư kh�c tới, vị n�y kh�ng viết kh�ng d�n, m� ngồi đ�, đứa n�o trồi đầu l�n, �ng chỉ v�o mặt n� n�i: m�y l� quỷ! N� thụt đầu lặng mất. L�c đầu n� c� sợ, nhưng khi n�o �ng ng� lơ n� lại trồi đầu l�n m�a nhảy. N�n �ng phải ngồi đ� m� canh chừng ho�i. Vậy, trong c�c sư trị quỷ vị n�o c�ng hiệu hơn? Vị n�o cũng c�ng hiệu nhưng phải c� mặt thường trực, nếu kh�ng c� mặt thường trực th� hết c�ng hiệu. Tu thiền thoại đầu cũng phải chăm chăm kh�ng lơi lỏng mới c� c�ng hiệu. Tu Tịnh Độ niệm Phật cũng phải chuy�n ch� kh�ng qu�n mới c� c�ng hiệu. Tu Mật t�ng tr� ch� mi�n mật, kh�ng gi�n đoạn mới c� c�ng hiệu. C�n thiền biết vọng lu�n lu�n phải tỉnh phải gi�c mới c� c�ng hiệu. Vậy, ph�p m�n n�o cũng kh�ng dễ. C�c ph�p tu c� đề mục xem chừng như dễ tu, thiền thoại đầu c� c�u thoại đầu để kh�n, Tịnh Độ c� c�u Nam M� A Di Đ� Phật để nhớ, Mật t�ng c� c�u ch� để tr�. Nhờ nương v�o phương tiện m� qu�n nghĩ nhớ đến những việc kh�c, vọng tưởng kh�ng khởi. C�n tu "biết vọng" d�ng tr� nh�n thẳng, kh�ng c� phương tiện để nương, mới tu xem chừng kh�, những tật xấu, những tưởng bậy mu�n đời mu�n kiếp cứ trổi dậy, thấy r� r�ng th� ra m�nh xấu xa, tu dở qu�! N�i kh� n�i dễ l� do nhận định thiển cận, thật sự th� ph�p n�y cũng như ph�p kia kh�n thoại đầu, niệm Phật, tr� ch�, nhờ b�m s�t phương tiện để dừng vọng tưởng, n�n kh�ng thấy vọng tưởng khởi. Nhưng nếu tu kh�ng chuy�n lơi lỏng th� vọng tưởng cũng trồi l�n th�nh dở. Tri vọng th� d�ng tr� nh�n thẳng, mọi vọng niệm tốt xấu trồi l�n, ngay đ� thấy tường tận. Đ� l� chỗ �ch yếu, thiền sinh tu phải biết r�. Tuy nhi�n, đối với người sơ cơ, tu nương theo phương tiện th� dễ thực h�nh hơn l� "biết vọng", v� d�ng tr� nh�n thẳng n�n đ�i hỏi người sống mạnh về tr�. Biết vọng tưởng, vọng tưởng lặng th� n� tự chơn. X�t về phương tiện, ph�p m�n niệm Phật được giải th�ch "đạp gai lấy gai m� lể", kh�n thoại đầu th� n�i "d�ng độc để trị độc". V� đ�ng tinh thần của đạo Phật, tu đến chỗ rốt r�o l� v� niệm, c�n niệm l� c�n sanh tử, d� l� niệm �c hay niệm thiện. Lục Tổ khai thị Huệ Minh: "Kh�ng nghĩ thiện kh�ng nghĩ �c c�i g� l� bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Nghĩ thiện nghĩ �c đều l� niệm, m� c�n niệm th� kh�ng phải l� bản lai diện mục, c�n niệm l� c�n bệnh. V� vậy, niệm Phật hay tr� ch� được xem như d�ng gai để lể gai, d�ng c�y gai niệm Phật để lể những c�y gai vọng tưởng đi�n đảo kh�c. C�c c�y gai vọng tưởng được lể hết th� c�y gai niệm Phật phải bỏ lu�n. Nếu những c�y gai vọng tưởng được lể hết rồi, m� c�y gai niệm Phật c�n giữ lại cũng c�n bệnh. Cho n�n d�ng phương tiện tu phải biết cho tường tận. Do đ�, trong nh� Thiền n�i con mắt bị bụi dơ b�m th�nh bệnh, m� mạt v�ng tuy qu� rơi v�o cũng bệnh, con mắt trong suốt kh�ng bị d�nh một vật g� mới l�nh mạnh. Ph�p m�n niệm Phật, phải niệm tới chỗ v� niệm, tức l� c�u A Di Đ� Phật cuối c�ng cũng bu�ng lu�n. T�m nhất như mới l� chỗ cứu c�nh. Tu thoại đầu được coi l� "d�ng độc trị độc". Tại sao gọi l� độc? V� kh�n thoại đầu l� để khởi nghi một vấn đề kh�ng trả lời được. M� nghi l� một trong s�u m�n căn bản phiền n�o, d�ng phiền n�o để tu l� d�ng độc chứ g�? Khi nghi một vấn đề g� mạnh th� qu�n hết những việc kh�c. C�c Tổ kinh nghiệm, d�ng nghi để lấn �p, đối tr� loạn tưởng, n�n c�c Ng�i mới đưa ra c�u nghi vấn "niệm Phật l� ai?" hay "trước khi cha mẹ chưa sinh ta l� c�i g�?" hoặc "tất cả trở về một, một trở về chỗ n�o?" Bất cứ c�u n�o miễn nghi vấn mạnh th� n� lấn �p hết mọi loạn tưởng kh�c, lần lần n� kết th�nh khối, khối nghi vỡ vọng tưởng hết th� ngộ đạo. Đ� l� d�ng độc nghi để trừ v� số độc vọng tưởng. Nếu nghi t�nh chưa vỡ, th� cứ ở trong trạng th�i nghi, m� c�n nghi th� kh�ng l�m g� được. Như vậy, để thấy r� mỗi ph�p tu c� c�ng hiệu ri�ng của n�. Tu thoại đầu, niệm Phật hay tr� ch� th� nặng về t�n (tin). C�n tu tri vọng th� nặng về tr�, d�ng tr� thấy r� kh�ng lầm, n�n hằng tỉnh hằng gi�c từng ph�t từng gi�y. Nếu qu�n th� t�nh sống dậy, t�nh sống dậy th� tr� mờ đi. Cho n�n tu muốn tiến, phải kh�o tỉnh gi�c lu�n lu�n, thiếu tỉnh gi�c th� tu kh�ng tiến được. Tu "biết vọng", với những người sơ cơ, kh� tin m�nh hết vọng tưởng, chỉ c� những người đ� nhận ra "�ng chủ" mới tin m�nh c� thể hết vọng tưởng, vọng tưởng hết t�m chơn hiện, kh�ng nghi ngờ. C�n người chưa nhận ra "�ng chủ", khi vọng tưởng lặng rồi phải biết th�m rằng vọng tưởng lặng tức t�m thể như như. Nhiều người tu ch� t�m v�o một chỗ để cho y�n, c� khi kẹt trong c�i y�n đ� gọi l� si định (định kh�ng s�ng). Vậy n�n, vọng tưởng lặng phải tạm biết đ� l� t�m thể như như, để kh�ng mắc kẹt trong si định. C�i lặng lẽ l� t�m thể như như hiện tiền, n� liễu liễu thường tri th� kh�ng bị kẹt ở trong v� k�. Tu "biết vọng" vấp một lỗi nữa l� lo kềm t�m cho vọng tưởng lặng, thở kh�ng s�u n�n l�i nơi ngực b�n cho l� đau tim. Giai đoạn đầu tu hơi thở rất quan trọng, phải thở s�u tới bụng dưới, ch� � hơi thở nhẹ, đều, dần dần vọng tưởng dấy, biết l� vọng tưởng, kh�ng theo. Tu như vậy l� kh�ng sai, kh�ng bệnh. Tu "biết vọng" nếu cảm thấy buồn hoặc đau đầu c� thể khởi qu�n, qu�n c� hai c�ch: - Qu�n kh�ng: L� qu�n tất cả ph�p duy�n sanh như huyễn, th�n duy�n sanh như huyễn, cảnh duy�n sanh như huyễn kh�ng thật. Qu�n x�t r� r�ng tường tận, qu�n m�i như vậy, đ� l� ph�p "đoạt cảnh bất đoạt nhơn" của Ng�i L�m Tế. - D�ng qu�n tu chỉ: Qu�n tất cả ph�p như huyễn kh�ng thật, n�n kh�ng để t�m nghĩ tưởng. Niệm vừa khởi liền qu�n tất cả ph�p như huyễn th� vọng niệm tự lặng, nếu vọng niệm khởi nữa cũng qu�n như vậy, th� t�m được an định. Chẳng những qu�n l�c ngồi thiền, m� đi đứng l�m việc cũng qu�n như thế. Đ� l� trước qu�n sau chỉ. Như kinh Vi�n Gi�c dạy tu chỉ qu�n gh�p, chỉ trước qu�n sau, nhẹ vui, �t buồn. Nh�n thẳng vọng niệm ho�i th� buồn n�n t�y sự tu tiến m� ứng dụng. Đ� l� điều thiết yếu của đường lối tu của tu viện Chơn Kh�ng. Người sở dĩ kh�ng hết vọng tưởng l� v� c�ng phu chưa vi�n m�n. Nếu như thế m� tu tập nhứt định vọng tưởng lần lần thưa, vọng tưởng thưa rồi sẽ hết, kh�ng nghi ngờ. ] |