BƯỚC ĐẦU TR�N CON ĐƯỜNG THIỀN
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6]
| S�CH TẤN TU h�g Mỗi năm tất cả người tu ch�ng ta, �t nhất phải c� một lần �n lại chuyện cũ v� chuẩn bị cho việc mới. N�i một c�ch dễ hiểu, l� qua một năm, những c�i dở ch�ng ta phải chừa, chuẩn bị cho năm tới được tốt được s�ng sủa hơn, đ� l� bổn phận của người tu. Ng�i Trần T�n T�c l� đệ tử của tổ Ho�ng B�, c� n�i : "Việc lớn (Giải tho�t lu�n hồi sanh tử. ) chưa s�ng như đưa ma mẹ. Việc lớn đ� s�ng như đưa ma mẹ." C�u n�y, tất cả Tăng ni Phật tử phải nghiền ngẫm, ứng dụng tu tập để kh�ng vấp phải lỗi lầm, cho xứng đ�ng l� một người tu. Tất cả người tu, ai cũng mong một ng�y n�o đ� ch�ng ta sẽ s�ng được "việc lớn". Nếu "việc lớn" m� chưa s�ng th� ch�ng ta phải cố gắng nỗ lực tiến tu để được s�ng. Nếu "việc lớn" tuy đ� s�ng kh�ng phải ngang đ� dừng lại m� c�n phải tiếp tục hu�n tu cho đến vi�n m�n. Đ� l� điều m� h�m nay t�i muốn nhắc cho qu� vị r�. Cổ đức c� n�i : Chưa đến "v� t�m", cần phải đến. Đ� đến v� t�m, "v�" cũng th�i. Khi chưa được "v� t�m", chưa s�ng được "việc lớn" ch�ng ta phải nỗi lực tiến tu để được s�ng, để được v� t�m, nhưng khi đ� được "v� t�m" rồi, chữ "v�" cũng phải bu�ng lu�n. Chớ kh�ng phải đến chỗ "v� t�m" rồi ngang đ� l� đủ, l� xong. Vậy để khai triển cho s�ng tỏ nghĩa n�y, t�i xin tuần tự n�u từ c�i dở đến c�i hay, để tất cả Tăng Ni v� Phật tử kinh nghiệm ứng dụng tu tập khỏi sai lầm v� được kết quả tốt đẹp. Bịnh thứ nhất của người tu Phật hiện nay l� khinh lờn; đa số người tu khi mới v�o đạo, cư sĩ cũng như xuất gia, l�c đầu phấn khởi, hăng h�i, thấy chỗ đạt đạo ở trước mắt, kh�ng xa. Nhưng, qua năm thứ hai, năm thứ ba dần dần giảm nhuệ kh�, kh�ng c�n phấn khởi hăng h�i, bắt đầu khinh lờn lơi lỏng. Người xưa thường n�i: "Nhứt ni�n Phật hiện tiền, nhị ni�n Phật thăng thi�n". Năm đầu mới v�o đạo thấy đạo kh�ng kh�, nhưng qua năm thứ hai, năm thứ ba hay nhiều năm nữa tinh thần phấn khởi hăng h�i của buổi đầu dần dần xuống dốc, rồi c�ng ng�y c�ng bu�ng lung ph�ng t�ng. Trong giới tu sĩ ban đầu xuất gia, ai cũng c� ước nguyện tu phải giải tho�t trong hiện đời. Nhưng, xuất gia được v�i ba năm, hơi quen, thỉnh thoảng cũng c� chuyện hơn, chuyện thua, chuyện phải, chuyện quấy, yếu từ từ. Yếu �t �t th� c�n đỡ, c� nhiều người qu� yếu, yếu đến đổi bị rầy bị ch�, đ� l� do kh�ng giữ được t�m ban đầu. Nếu giữ được t�m ban đầu, th� đạo kh�ng xa, giải tho�t gần kề. Qu�n t�m ban đầu đạo c�ng ng�y c�ng xa, giải tho�t c�ng ng�y c�ng kh�. Trong kinh A H�m, Phật n�i người mới xuất gia giống như c� d�u mới về nh� chồng; đối với cha mẹ chồng, chị chồng, em chồng đều qu� đều nể, kh�p n�p cung k�nh. Nhưng ở đ�i ba năm, c� con rồi, đối với cha chồng th� coi kh�ng ra g�, mẹ chồng th� kh�ng c�n sợ nữa, chị chồng em chồng th� ăn hiếp lu�n, cả �ng chồng cũng kh�ng nể. Người tu hiện tại cũng vậy, mới v�o đạo cạo t�c, đối với H�a thượng, Thượng tọa th� kh�p n�p cung k�nh, c�c sư huynh th� nể nang dễ dạy. Tu đến một năm, hai năm, ba năm; thấy H�a thượng, Thượng tọa, c� khi qu�n c�i đầu, cho đến sai bảo cũng kh�ng th�m l�m nữa. Đ� l� c�i bịnh khinh lờn, n�n tu kh�ng tiến. V� vậy, m� Phật dạy ch�ng ta phải nhớ t�m ban đầu. Trong kinh Phật dạy c�c thầy Tỳ kheo mỗi s�ng phải nhớ rờ đầu m�nh một lần, rờ để nhớ đầu m�nh trọc, kh�ng c�n nghĩ tới chuyện thế gian nữa. Phật dạy ch�ng ta tr�n đường tu đừng c� niệm khinh lờn. Nếu c� niệm khinh lờn th� ban đầu tu tiến bộ, nhưng sau rồi l�i, l�i cho tới kh�ng c�n tu được nữa. Đ� l� bịnh thứ nhất của người tu. Bịnh thứ hai l� tự m�n. Tự m�n l� được �t cho l� đủ. C� những người mỗi ng�y tụng kinh được hai thời c�ng phu, học được �t bộ kinh, coi như đ� đủ cho m�nh l�m Phật sự, h�i l�ng với c�i m�nh đ� học đ� được, cho đ� l� sở trường m� kh�ng cố gắng nỗ lực để tiến. Như vậy, tự gh�p m�nh ở trong phạm vi hẹp h�i để rồi cả một đời tu kh�ng tiến bộ. Thiền sư Thanh ở Dũng Tuyền, Ng�i n�i với ch�ng rằng: "T�i ở trong đ�y 49 năm c�n c� khi tẩu t�c, c�c �ng chớ n�i to, người kiến giải th� nhiều, người h�nh giải th� �t, mu�n người kh�ng c� một. Kiến giải ng�n ngữ cần biết suốt, nghiệp thức chưa hết sẽ bảo đi trong lu�n hồi vậy". Ng�i l� một thiền sư đ� ngộ đạo, Ng�i đ� ở 49 năm tr�n n�i Dũng Tuyền, c�n c� khi tẩu t�c, tức l� t�m chạy bậy như tr�u hoang. Huống l� người mới v�o đạo v�i ba năm, tự thấy m�nh đ� xong việc, ăn to n�i lớn, tưởng m�nh l� Th�nh, đ� l� điều kh�ng n�n. Ng�i n�i: "Người kiến giải th� nhiều", tức l� người học hiểu th� nhiều m� h�nh th� �t, tuy mu�n người hiểu chưa c� được một người h�nh. Ng�i n�i vậy kh�ng c� nghĩa cấm kh�ng cho người tu c� kiến giải. Ng�i dạy: Kiến giải, ng�n ngữ cần phải biết suốt, phải th�ng, nhưng nếu thức t�nh chưa hết, th� sẽ đi trong lu�n hồi. Người xưa biết được bịnh của người sau, n�n nhắc nhở cho ch�ng ta biết, tr�n đường tu kh�ng phải đơn giản một sớm một chiều l� xong việc, kh�ng phải học hiểu l� rồi, m� c�n phải h�nh phải sống được, đ� mới l� điều thiết yếu. Hiện tại, c� một số Tăng Ni học hiểu, hiểu rồi cứ ăn to n�i lớn, tưởng đ� l� hay, nhưng kh�ng ngờ vẫn c�n thức t�nh, khi chết sẽ đi trong lu�n hồi như bao nhi�u người chưa tu kh�c. Cho n�n qu� vị phải x�t n�t, cố gắng vượt qua lỗi đ�. Bịnh thứ ba l� bịnh thụ hưởng. C� một số người, tu được năm năm, mười năm, thọ giới cụ t�c l�m trụ tr�, tự coi m�nh xứng đ�ng l� người l�nh đạo. Từ đ� sanh ra thụ hưởng, nghĩ tới ăn chơi vui đ�a, chạy theo dục lạc, m� kh�ng nghĩ tới việc tiến tu. Đ� l� điều rất nguy hiểm cho đạo. V� ch�ng ta tu cốt l� dứt sạch phiền n�o, m� phiền n�o th� ph�t xuất từ dục lạc, nếu c�n hưởng thụ dục lạc th� phiền n�o l�m sao m� sạch được! Vậy n�n người n�o tu h�nh m� nặng thụ hưởng, người đ� thế n�o rồi cũng bị dục lạc l�m chủ; m� dục lạc l�m chủ th� đời n�y kh�ng thể tiến được, mai kia cũng kh� m� trả nợ �o cơm. Cho n�n: Học đạo chẳng th�ng l� Đem th�n đền tin th� Trưởng giả tuổi t�m mốt C�y kia chẳng sanh nhĩ B�i kệ n�y thuật lại việc một Tỳ kheo tu h�nh tương đối tốt, c� một trưởng giả thấy vậy qu� k�nh, thường ng�y c�ng dường y thực đầy đủ. Nhưng vị Tăng chưa s�ng được "việc lớn", sau khi chết, th�n trở lại đền nợ th� chủ bằng c�ch "t�i sanh th�nh một th�n c�y", mỗi ng�y mọc nấm cho trưởng giả ăn, tới khi �ng trưởng giả t�m mươi mốt tuổi, nấm mới hết mọc. C�u chuyện cho thấy rằng, nếu tu m� kh�ng s�ng được đạo, kh�ng dứt được thức t�nh d� c� cố gắng cũng kh�ng giải tho�t được. Nếu thụ hưởng nhiều, th� họa cũng lắm, như vị Tỳ kheo n�y tu tốt nhưng kh�ng s�ng được l� đạo vẫn phải t�i sanh th�nh hoa b�u để trả nợ �o cơm. Đ� l� trả nợ nhẹ. Nếu ch�ng ta nợ nặng hơn th� phải mang th�n xấu x� c� l�ng c� sừng đi trong lục đạo để trả nợ cho đ�n na th� chủ. V� vậy, tất cả người tu ch�ng ta phải nhớ rằng kh�ng phải chỉ tụng một hai thời kh�a c�ng phu, hay chỉ th�nh một �ng trụ tr� tu sơ s�i ngo�i h�nh tướng l� xong việc tu. M� phải thấy được đạo, sống được với đạo, mới mong tho�t ly sanh tử. Đ� l� điều thiết yếu m� t�i mong tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử phải nhớ lấy. Đừng c� h�i l�ng, đừng c� tự m�n, để rồi phải chi�u họa về sau. B�y giờ trở lại "việc lớn chưa s�ng như đưa ma mẹ", qu� vị thường thấy khi đưa đ�m ma mẹ, tr�n gương mặt của những người con rất �u sầu �o n�o, họ thật buồn b� khổ đau. Cũng vậy, đối với người tu chưa s�ng được "việc lớn", ng�y n�o, th�ng n�o, năm n�o, cũng phải �m ấp l�ng thao thức, niệm niệm quyết ch� tu h�nh. Điều g� chưa hiểu phải học cho hiểu, l� n�o chưa th�ng phải nghi�n cứu cho th�ng, như vậy khả dĩ c�n tiến đuợc. Nếu "việc lớn" chưa s�ng m� cứ chơi hết ng�y hết th�ng, th� kh�ng mong g� đạt được sở nguyện. Thế n�n, "việc lớn" chưa s�ng l�c n�o cũng phải �m ấp lo buồn, phải nỗ lực, phải cố gắng để đạt cho được đến kỳ c�ng. Như vậy, mới xứng đ�ng một người xuất gia tu Phật. N�� kh�ng như vậy th� uổng một đời tu, lại c�n l�m cho người đời ch� cười, khinh bỉ gi�o l� cao si�u của Phật. Ch�ng ta kh�ng c� quyền nghĩ rằng m�nh tu lai rai để đời sau tu nữa m� phải quyết ch� tu giải tho�t trong đời n�y. Nếu chưa xong, �t ra tập kh� cũng phải m�n rồi đời sau tiếp tục tu một c�ch dễ d�ng. Xưa, c� những thiền sư mỗi khi chiều xuống, x�t m�nh tu chưa tiến, c�c Ng�i rơi lệ. C�n ch�ng ta mỗi khi chiều xuống th� cứ cười hỉ hạ, mặc t�nh thời gian tr�i qua... Tại sao c�c Ng�i kh�ng tiến th� kh�c, c�n ch�ng ta kh�ng tiến lại cười? T�m niệm người xưa v� t�m niệm người nay kh�c nhau ở chỗ đ�. Người xưa quyết ch� cầu giải tho�t, hạnh nguyện chưa xong th� kh�ng vui, đ� kh�ng vui th� đ�u c� thảnh thơi cười đ�a. Qua một ng�y m� kh�ng tiến c�c Ng�i thấy đau khổ x�t xa đến độ phải rơi nước mắt. Người thời nay, d� kh�ng được như người xưa, th� �t ra một ng�y qua, thấy m�nh tu kh�ng tiến, l�ng nao nao, tự tr�ch m�nh h�n nh�t, kh�ng gan dạ. Đ�u qu� vị kiểm lại một năm qua, thấy m�nh tu tiến nhiều hay �t? Nếu kiểm lại m�nh tu kh�ng tiến được ch�t n�o, th� phải hổ thẹn kh�ng an l�ng. Tu cốt l� phải tiến chứ kh�ng phải đứng một chỗ, đứng một chỗ c� nghĩa l� l�i. Huống l� c� nhiều người lại c�n bước l�i nữa, như thế thật l� qu� tệ ! Qua một năm rồi, x�t lại kh�ng tiến m� vẫn an nhi�n vui vẻ, th� e rằng năm tới cũng như năm cũ, rồi nhiều năm v� cả cuộc đời tu kh�ng tiến bộ. Do đ�, h�m nay l� ng�y cuối năm, kiểm lại, ai thấy m�nh kh�ng tiến được ch�t n�o, phải tự hổ thẹn. Nguyện năm tới lập lại cuộc đời, kh�ng l�i th�i như năm cũ nữa, như vậy mới khả dĩ c� điều kiện để vươn l�n. Mỗi người ch�ng ta phải lập nguyện cho mạnh, lập ch� cho vững, để năm tới sống xứng đ�ng l� người tu c� trọng tr�ch tự gi�c gi�c tha. Đ� l� điều m� t�i mong mỏi nơi qu� vị. "Việc lớn đ� s�ng như đưa ma mẹ". C� một số tu sĩ lầm tưởng rằng một khi đạt được l� đạo, ngang đ� l� th�nh Phật th�nh Tổ. Sự thực chưa phải như vậy. Sau đ�y l� b�i kệ n�i l�n � nghĩa đ�: Đốn ngộ tuy đồng Phật Đa sanh tập kh� th�m Phong đ�nh ba thượng dũng L� hiện niệm du x�m. "Đốn ngộ tuy đồng Phật" nghĩa l� chỗ ngộ của Phật v� chỗ ngộ của m�nh kh�ng kh�c. Nhưng "đa sanh tập kh� th�m", tức l� nhiều đời tập kh� của m�nh s�u d�y; hồi xưa tham, s�n, si, phiền n�o nhiều, c�n ghi đậm n�t ở th�i quen. B�y giờ tuy ngộ được l� đạo, nhưng đối duy�n x�c cảnh cũng c�n tham cũng c�n s�n cũng c�n si, chưa hết. "Phong đ�nh ba thượng dũng", giống như gi� đ� dừng rồi m� mặt biển s�ng vẫn vỗ v�o bờ. "L� hiện niệm du x�m", đối với đạo l� đ� thấy được lẽ thật, nhưng m� vọng niệm vẫn c�n dấy khởi ho�i. Như vậy, đừng tưởng rằng m�nh ngộ được l� đạo l� rồi việc, m� c�n phải nỗ lực tiến tu trong tất cả giờ. Khi vọng niệm sạch t�m kh�ng c�n bị quấy nhiễu, t�nh gi�c kh�ng c�n bị che mờ, chừng đ� mới khả dĩ hợp đạo. Nếu ngang đ� m� h�i l�ng tự m�n l� bịnh lớn. Kinh Trung A H�m c� ghi: Một người ngoại đạo tới hỏi Phật: - Thưa Ng�i Cồ Đ�m, những đệ tử của Ng�i đ� ngộ đạo, những người đ� c� đến Niết b�n hết hay chăng? Phật trả lời: - C� người đến Niết b�n, c� người kh�ng đến Niết b�n. Người ngoại đạo lấy l�m lạ hỏi: - Tại sao đ� ngộ đạo rồi, c� người được đến Niết b�n, lại c� người kh�ng đến? Phật v� dụ: C� người bị t�n độc bắn v�o tay, mời thầy thuốc tới mổ lấy t�n ra, khử độc, băng b� kỹ c�ng, thầy thuốc dặn n�n giữ g�n đừng cho nhiễm tr�ng. Nhưng người đ� nghĩ rằng t�n độc đ� nhổ ra, d�ng thuốc khử độc rồi, c�n lo sợ g� nữa. Ngang đ� tha hồ su�ng pha ăn, l�m; vết thương bị nhiễm tr�ng, h�nh hạ rồi chết. Người thứ hai cũng bị t�n độc v� cũng được nhổ ra khử tr�ng v� băng b�, y sĩ cũng dặn d� như trước. Người thứ hai biết giữ g�n, từ khi đ� kh�ng d�m để dơ, để nhiễm tr�ng, lần lần vết thương k�o da non rồi l�nh hẳn. Hai người c�ng bị t�n độc, c�ng được mổ lấy t�n ra khử độc như nhau. Vậy, tại sao một người chết , một người l�nh? Cũng vậy, người tu ngộ đạo rồi, m� ngang đ� biết nghe lời Phật Tổ dạy lo tiến tu, giữ đạo hạnh, c�ng ng�y c�ng thanh tịnh trong s�ng th� sẽ đến Niết b�n. C�n người ngộ đạo rồi, ngang đ� tự m�n, su�ng pha l�m những việc tr�i với đạo, lần lần bị � nhiễm rồi thối đọa. Như vậy, q�y vị đừng tưởng ngộ rồi l� xong. Bởi v� "đa sanh tập kh� th�m", ngộ đạo th� ngộ, m� tập kh� vẫn c�n nếu m� l�n la với th�i cũ th� bị nhiễm �. N�n tu phải hiểu cho thấu đ�o điều đ�, đừng tưởng ngộ rồi l� xong việc. Bởi vậy, n�n n�i "việc lớn đ� s�ng như đưa ma mẹ" l� vậy. Đ�y, t�i dẫn lời của Thiền sư Truy�n Sở ở n�i Thanh Phong. C� vị tăng hỏi: - Việc lớn đ� s�ng v� sao như đưa ma mẹ? Ng�i đ�p: - Chẳng gặp gi� xu�n hoa chẳng nở Đến khi hoa nở lại thổi rơi Qu� vị thấy c� giống c�u: - "Chưa đến "v� t�m" cần phải đến Đ� đến v� t�m "v�" cũng th�i". Khi hoa nở, đợi gi� xu�n thổi cho hoa rụng lu�n, mới l� xong việc. Người xưa rất cẩn thận d� dặt chỉ dạy cho ch�ng ta những kinh nghiệm để tu, Ng�i Tử Thuần Đơn H� l�m tụng: Gia sơn quy đ�o mạc nhơn tuần. Kiệt lực dần thần phụng nhị th�n Cơ tận, c�ng vong, ơn nghĩa đoạn Tiện th�nh bất hiếu xiển đề nhơn. Dịch: Gia sơn về đến chớ dần d� Gắng sức sớm h�m dưỡng mẹ cha Cơ hết, c�ng qu�n �n nghĩa dứt Bỗng th�nh bất hiếu người xiển đề. "Gia sơn về đến chớ dần d�", nghĩa l� người tu như người trở về qu� hương, c�i hy vọng thiết tha nhất của họ l� về cho tới nh�. Về tới nh� để l�m g�? Về tới nh� để "gắng sức" sớm h�m dưỡng mẹ cha", chớ kh�ng phải về để chơi. Nu�i dưỡng mẹ cha rồi, nếu m� c�n nghĩ m�nh l� con c� hiếu, l� kẻ c� c�ng cũng chưa được n�n n�i: "Cơ hết, c�ng qu�n ơn nghĩa dứt", tới đ�, cơ phương tiện, c�ng gi�p đỡ cha mẹ kh�ng c�n thấy nữa. Th� "bỗng th�nh bất hiếu người xiển đề". Tại sao c�u kết lạ vậy? Ch�ng ta thường nghe trong kinh n�i xiển đề l� người bất t�n, tức l� kh�ng đủ l�ng tin, ở đ�y sao gọi người con bất hiếu l� xiển đề? Xiển đề c� ba loại: 1. Người phạm tội ngũ nghịch gọi l� xiển đề. 2. Người đối với Tam Bảo kh�ng c� một t� l�ng tin cũng gọi l� xiển đề. 3. Người như ngu như ng�y kh�ng c�n thấy c� Phật ở tr�n để m� k�nh, c� ch�ng sanh ở dưới để m� xem thường cũng gọi đ� l� xiển đề. Người đối với Tam bảo kh�ng c�n cung k�nh l� người thấy Phật v� ch�ng sanh b�nh đẳng n�n gọi đ� l� xiển đề. Cũng như ở tr�n n�i: Cơ hết, c�ng qu�n �n nghĩa dứt Bỗng th�nh bất hiếu người xiển đề. Nếu người tu m� c�n thấy m�nh l� người đắc đạo, l� người ngộ đạo, th� người đ� c�n bệnh. V� ngộ đạo m� c�n thấy m�nh ngộ đạo l� c�n ng� v� ng� sở n�n c�n kẹt. Người chưa ngộ đạo m� vỗ ngực xưng ta l� người thấy đạo ngộ đạo, người đ� lại thuộc hạng người lừa thầy dối bạn gạt ch�ng sanh, l�m tổn hại Phật Ph�p. Q�y vị n�n biết r� hạng người n�y. Kinh Kim cang c� đoạn: "Ph�p thượng ưng xả, h� huống phi ph�p". Tới chỗ rốt r�o, ph�p ch�n ch�nh c�n phải bu�ng xả huống l� phi ph�p. Lời Phật dạy giống như chiếc thuyền đưa người qua s�ng, tới bờ rồi thuyền cũng bỏ, như vậy mới xong việc. C�n nếu tu tới đ� m� h�i l�ng tự m�n th� kh�ng thể n�o tr�nh khỏi c�i lỗi "v�c thuyền kh�ng l�n bờ đi". Lại cũng một Thiền sư kh�c; Ng�i Thanh Long, nhơn nơi � n�y l�m một b�i tụng: Bần tử dụ trung tằng chỉ ch� Linh b�nh t�n khổ uổng ta đ� Kh�c th�y phương tiện th�n ph�n ph� Triết mạc nhơn tuần sử tả khoa. Dịch: Trong dụ kẻ ngh�o từng chỉ r� Lang thang cay đắng luống tr�i qua Được b�y phương tiện v� giao ph� Th�i chớ lơ l� khiến mất xa. Ng�i Thanh Long cũng nhắc ch�ng ta rằng: "Trong dụ kẻ ngh�o từng chỉ r�". Con người chẳng kh�c n�o kẻ c�ng tử trong kinh Ph�p Hoa. "Lang thang cay đắng luống tr�i qua". Kẻ c�ng tử đ� trong thời gian lang thang ở xứ lạ qu� người, l� l�c chịu mu�n ng�n cay đắng. Nhưng b�y giờ t�m được lối trở về v� về đến nh�, vượt qua hết mọi cay đắng rồi, vẫn chưa xong việc m� c�n phải: "Được b�y phương tiện v� giao ph�". �ng trưởng giả d�ng phương tiện dẫn dụ kẻ c�ng tử để trao sự nghiệp giao kho t�ng cho g�n giữ. Vậy m� cũng vẫn chưa xong, c�n phải: "Th�i chớ lơ l� khiến mất xa". Người con được giao ph� phải bảo quản sự nghiệp �ng cha được c�n m�i m�i. Dụ ch�ng c�ng tử trong kinh Ph�p Hoa dạy rằng: nếu tu đến chỗ "s�ng được việc lớn" m� kh�ng chịu nỗ lực cố gắng tu nữa th� một ng�y n�o đ� cũng bị rơi v�o chỗ tối tăm trở lại. "S�ng được việc lớn" rồi, phải nỗ lực cố gắng cho đến bao giờ vi�n m�n c�ng hạnh của người tu mới l� xong việc. Khi nhắc tới đ�y, t�i khuy�n tất cả qu� vị đừng bao giờ cho rằng m�nh thấy được đạo l� xong việc, m� phải h�nh đạo v� hằng sống được với đạo. Người sống được với đạo th� m�nh v� đạo kh�ng hai, l�c đ� tự m�nh đ� giải tho�t, kh�ng phải đợi tới khi chết mới giải tho�t, th� qu� mơ hồ xa x�i. Đ� l� điểm m� tất cả người tu phải thấy. Kh�ng n�n h�i l�ng tự m�n ở c�i ngộ c�i hiểu của m�nh, m� phải nỗ lực hằng sống cho được với c�i m� m�nh đ� ngộ, th� mới khả dĩ xứng đ�ng l� người cầu giải tho�t. Kết luận, t�i xin lập lại: Vị đ�o v� t�m tu yếu đ�o K� đ�o v� t�m v� d� hưu. Dịch: Chưa đến "v� t�m", cần phải đến Đ� đến v� t�m, "v�" cũng th�i. Người tu ở trong hai trường hợp: Nếu c�n m� tối, chưa thấy được đạo, phải nỗ lực học h�nh, tham vấn, tu tập. Khi đến chỗ "v� t�m" rồi, ch�nh "c�i v�" cũng phải bu�ng nữa, th� mới đến chỗ m�nh v� mu�n vật kh�ng hai. Nếu c�n thấy "c�i v�" th� c�n kẹt ở nước "v� sanh của rồng chết". Đ� l� chỗ m� ch�ng ta phải biết. H�m nay, t�i nhắc lại lời dạy của Ng�i Trần T�n T�c để cho tất cả q�y vị người tại gia cũng như xuất gia tự x�t lại m�nh coi tu c� tiến hay kh�ng. Nếu tu đ� c� tiến th� năm tới cũng phải cố gắng để kh� hơn. C�n nếu, người n�o cảm thấy rằng đ� qua một năm m� kh�ng tiến ch�t n�o, th� ngang đ�y chuẩn bị cho năm tới phải nỗ lực ph�t nguyện mạnh mẽ để tu b� lại những thiếu s�t của năm qua, v� xứng c�ng trong năm tới. Như vậy mới kh�ng uổng c�ng một kiếp tu h�nh. ] |