Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

BƯỚC ĐẦU TR�N CON ĐƯỜNG THIỀN

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6]


T�M B�NH THƯỜNG L� ĐẠO

h�g

Từ trước t�i thường n�i "t�m b�nh thường l� đạo", song chỉ n�i tổng qu�t hoặc n�i xa gần để qu� vị thầm nhận, chớ kh�ng n�i thẳng. H�m nay t�i chỉ thẳng để qu� vị thấy v� nhận ra để ứng dụng tu h�nh.

Triệu Ch�u đến hỏi Ng�i Nam Tuyền:

- Thế n�o l� đạo?

Nam Tuyền đ�p:

- T�m b�nh thường l� đạo.

Triệu Ch�u hỏi:

- Lại c� thể nhằm tiến đến chăng?

Nam Tuyền đ�p:

- Nghĩ nhằm tiến đến l� tr�i.

Triệu Ch�u hỏi:

- Khi chẳng nghĩ l�m sao biết l� đạo?

Nam Tuyền đ�p:

- Đạo chẳng thuộc biết v� chẳng biết, biết l� vọng gi�c, kh�ng biết l� v� k�, nếu thật đạt đạo th� chẳng nghi, v� như hư kh�ng th�nh thang rỗng rang đ�u thể gắng n�i phải quấy.

Ngay đ� sư ngộ.

Mọi người tu, ai cũng nghĩ m�nh phải thấy (ngộ) được đạo, v� nghĩ rằng đạo l� c�i g� cao si�u ở ngo�i m�nh. Triệu Ch�u cũng c� t�m niệm như ch�ng ta, khi được Ng�i Nam Tuyền trả lời "t�m b�nh thường l� đạo", sư chưa đủ sức tin. Vậy, t�m b�nh thường l� t�m n�o? T�m nhớ chuyện năm xưa nghĩ chuyện năm tới c� phải l� t�m b�nh thường kh�ng? Vừa dấy niệm l� động, m� động th� bất b�nh thường. T�m b�nh thường l� t�m lặng lẽ s�ng suốt, thấy biết r� r�ng, như mặt nước phẳng lặng kh�ng gợn s�ng. Ng�i Nam Tuyền chỉ thẳng: "t�m b�nh thường l� đạo", qua lời chỉ thẳng m� Triệu Ch�u chưa nhận ra n�n hỏi "Lại c� thể nhằm tiến đến chăng?". Sư nghĩ tiến để đạt đạo, song, nghĩ tiến đến l� bất b�nh thường, m� bất b�nh thường th� kh�ng phải đạo. V� vậy, Ng�i Nam Tuyền n�i: "Nghĩ nhằm tiến đến l� tr�i". Vừa nghĩ tiến đến l� động, m� động l� bất b�nh thường n�n tr�i đạo. Nhưng Triệu Ch�u cũng chưa nhận, b�n hỏi th�m: "Khi chẳng nghĩ l�m sao biết l� đạo?" Sư cho đạo l� c�i g� phải do suy nghĩ m� biết, nay kh�ng cho suy nghĩ th� l�m sao biết đ� l� đạo? Ng�i Nam Tuyền bảo: "Đạo chẳng thuộc biết v� chẳng biết, biết l� vọng gi�c, kh�ng biết l� v� k�, nếu thật đạt đạo th� chẳng nghi, v� như hư kh�ng th�nh thang, rỗng rang đ�u thể gắng n�i phải quấy". Nghĩa l� t�m lặng lẽ s�ng suốt đ� l� đạo, vừa dấy niệm muốn biết n� l� vọng gi�c, c�n ngu ngơ kh�ng biết g� l� v� k�, cả hai đều sai. Nếu thực đạt đạo, tức l� nhận ra c�i lặng lẽ ch�n thật th� kh�ng c�n nghi ngờ g� cả, l�c đ� t�m rỗng rang th�nh thang, kh�ng thể n�i l� phải hay quấy. Vừa n�i phải quấy l� c� niệm hai b�n th� tr�i đạo. Ngay đ� Triệu Ch�u ngộ được "T�m b�nh thường l� đạo". T�i đ� n�i trắng ra qu� vị c� nhận được kh�ng?

T�i dẫn th�m một Thiền sư kh�c, S�ng T�n con nh� b�n b�nh bao, ở trước cổng ch�a. Mỗi ng�y (sư) đem �t c�i b�nh c�ng dường thiền sư Đạo Ngộ. Đạo Ngộ ăn xong thường để lại một c�i b�nh bảo:

- Ta cho ngươi ăn để �n huệ cho con ch�u.

Một h�m sư tự nghĩ: "B�nh l� ta đem đến, cớ sao H�a Thượng lại cho ngược lại ta? Biết đ�u kh�ng c� � chỉ. Sư b�n đến hỏi Đạo Ngộ.

Đạo Ngộ bảo:

- B�nh của �ng đem đến, ta cho lại �ng c� lỗi g�?

Sư nghe lời n�y, hiểu được th�m �, liền xin xuất gia. Đạo Ngộ bảo:

- Ngươi trước s�ng phước thiện, nay tin lời ta, c� thể gọi l� S�ng T�n.

Từ đ�y, sư hầu hạ lu�n b�n thầy, một h�m sư thưa:

- Từ ng�y con v�o đ�y đến nay, chưa được thầy chỉ dạy t�m yếu.

Đạo Ngộ bảo:

- Từ ng�y ngươi v�o đ�y, ta chưa từng chẳng chỉ dạy t�m yếu cho ngươi.

S�ng T�n hỏi:

- Thầy chỉ dạy ở chỗ n�o?

Đạo Ngộ bảo:

- Ngươi d�ng tr� l�n ta v� ngươi m� tiếp, ngươi bưng cơm đến ta v� ngươi m� nhận, ngươi x� lui ra th� ta gật đầu. Chỗ n�o chẳng chỉ dạy t�m yếu?

Sư c�i đầu im lặng gi�y l�u, Đạo Ngộ bảo:

- Thấy th� thẳng đ� liền thấy, suy nghĩ liền sai.

Ngay c�u n�i đ�, sư khai ngộ. Lại hỏi th�m:

- L�m sao g�n giữ?

Đạo Ngộ đ�p:

- Mặc t�nh ti�u dao, t�y duy�n ph�ng kho�ng, chỉ hết t�m ph�m chẳng c� th�nh giải kh�c.

Khi thị giả d�ng chung tr�, Thầy đưa tay nhận chung tr�, l�c đ� c� suy nghĩ g� kh�ng? Thầy đ�n nhận chung tr� m� kh�ng c� một niệm suy nghĩ, nhưng kh�ng phải l� kh�ng "biết". Khi thị giả dọn cơm x� mời, th� Thầy bước tới ngồi v� cầm đủa ăn, l�c đ� thế n�o? Ngồi ăn cơm Thầy cũng kh�ng suy nghĩ. Khi thị giả x� ch�o lui ra th� Thầy gật đầu, l�c gật đầu Thầy cũng kh�ng suy nghĩ. Như vậy, trong những động t�c hằng ng�y m� ch�ng ta kh�ng khởi một niệm nghĩ suy, đ� l� t�m yếu. T�m yếu hiện hữu r� r�ng trong mọi h�nh động, nếu nhận được chỗ đ� th� chỗ n�o kh�ng chỉ kh�ng dạy t�m yếu? Vậy, t�m yếu m� Đạo Ngộ chỉ đ�y c� kh�c với t�m b�nh thường m� Ng�i Nam Tuyền chỉ ở trước kh�ng? Tuy nhi�n, ở đ�y đặc biệt l� khi S�ng T�n c�i đầu suy nghĩ về t�m yếu th� Đạo Ngộ chỉ thẳng: "Thấy th� thẳng đ� liền thấy, suy nghĩ liền sai". Trong những h�nh động b�nh thường, ngay đ� m� nhận ra c�i ch�n thật sẵn c� nơi m�nh, vừa khởi nghĩ n� liền bị che khuất. Ngay khi đ� Sư khai ngộ. Ch�ng ta thấy t�m yếu l� g� rồi phải kh�ng? V� khi ngộ rồi, muốn g�n giữ n� phải l�m sao? Đ� l� vấn đề then chốt. Được Ng�i Đạo Ngộ dạy:

"Mặc t�nh ti�u dao, t�y duy�n ph�ng kho�ng, chỉ hết t�m ph�m chẳng c� th�nh giải kh�c". Mặc t�nh ti�u dao ở đ�y kh�ng c� nghĩa rỗi rảnh th�n dạo chơi chỗ n�y xứ nọ t�y hứng đờn ca, thổi s�o, ng�m vịnh... Người như thế l� cuồng tăng ph�ng t�ng. Ng�i Đạo Ngộ dạy t�y t�nh ti�u dao, chứ kh�ng phải t�y th�n ti�u dao, phải hiểu r� chỗ n�y. Vậy, t�nh ti�u dao l� thế n�o? T�nh thấy t�nh nghe... c� sẵn nơi mỗi người vốn kh�ng động, kh�ng giới hạn; bởi kh�ng động, kh�ng giới hạn n�n n� rỗng rang th�nh thang. V� v� th�nh thang kh�ng động kh�ng phiền cứ mặc n�, kh�ng kềm kh�ng giữ l� mặc t�nh ti�u dao. L�u nay ch�ng ta tu nghĩ l� phải kềm giữ cho t�m thanh tịnh; nếu kềm giữ l� tr�i với tự t�nh rồi. "T�y duy�n ph�ng kho�ng" l� duy�n đến th� t�y duy�n bất biến kh�ng vướng kh�ng bận, kh�ng bị duy�n trần l�m phiền nhiễu. Sơ Tổ ph�i Tr�c L�m n�i:

Cư trần lạc đạo thả t�y duy�n

Cơ tắc san hề khốn tắc mi�n

Ở trong c�i đời m� vui với đạo, tức l� vui với t�m b�nh thường, rồi t�y duy�n đ�i th� ăn mệt th� ngủ. T�y duy�n ph�ng kho�ng l� trong cuộc sống b�nh thường đến giờ ăn th� ăn, đến giờ l�m việc th� l�m việc, đến giờ ngủ th� ngủ... kh�ng c� vọng niệm l�m bận l�ng, t�m an nhi�n th�nh thang tự tại. V� dụ qu�t ch�a hay nhổ cỏ m� t�m vẫn th�nh thang rỗng rang kh�ng c� một niệm dấy khởi đ� l� t�y duy�n ph�ng kho�ng. Chớ kh�ng phải t�y duy�n ph�ng kho�ng l� đ�i v�o qu�n ăn, ăn nhậu say sưa, mệt th� nằm � ngo�i đường phố m� ngủ, gặp nữ sắc cũng kh�ng kỵ, gặp ca vũ cũng kh�ng chừa... Đ� l� cuồng tăng cuồng thiền, hiểu lầm hiểu loạn, kh�ng đ�ng lẽ thật, l�m cho người ch� cười, l�m cho người mất hết t�n t�m. Những trọng điểm n�y qu� vị lưu � để nắm vững m� tu, nếu hiểu lầm một ch�t th� họa. T�i nhắc lại, t�nh gi�c nơi mỗi người vốn lặng lẽ th�nh thang s�ng suốt, hằng ng�y sống b�nh thường, đến giờ l�m việc th� l�m việc, đến giờ ăn th� ăn, đến giờ nghỉ th� nghỉ... kh�ng khởi niệm, kh�ng kềm, kh�ng giữ, tuy nhi�n, vẫn ở trong nề nếp đạo đức. Đ� l� mặc t�nh ti�u dao t�y duy�n ph�ng kho�ng, cũng như Ng�i Nam Tuyền người d�ng tr� th� tiếp tr�, d�ng cơm th� nhận cơm, x� ch�o th� gật đầu, bu�ng hết vọng tưởng đi�n đảo của ph�m phu, đ� l� đạo. Th�ng thường, người tu h�nh chưa h�i l�ng với nếp sống b�nh thường như đ� n�i m� mong c� c�i g� phi thường, kh�c lạ của bậc Th�nh, muốn thấy h�o quang, muốn biết qu� khứ vị lai... Đ� l� bệnh, n�n Ng�i dạy "chỉ hết t�m ph�m, chẳng c� Th�nh giải kh�c" khi vọng tưởng đi�n đảo sạch rồi th� ngang đ� l� Th�nh, chớ kh�ng c� Th�nh ở ngo�i đến. Tức l� dừng được t�nh ph�m, l� vọng tưởng chủ của nghiệp l� nhơn lu�n hồi sanh tử th� giải tho�t, v� kh�ng sanh kh�ng diệt nhưng hằng tri hằng gi�c kh�ng phải Th�nh l� g�? C� nhiều người nghi sau khi vọng tưởng lặng hết th� c�n c�i g�? Chỉ cần hết vọng tưởng th� t�nh gi�c hiện tiền kh�ng cần th�m g� nữa cả. Nhưng chẳng mấy người c� đủ l�ng tin.

Đa số đều mong hết phiền n�o để c� th�m c�i g� kh�c, kh�ng ngờ hết t�nh ph�m (vọng tưởng) th� ngay đ� l� Th�nh. V� mầm sanh tử lu�n hồi hết th� đ� l� đạo l� giải tho�t, l� chỗ thiết yếu m� Ng�i Đạo Ngộ đ� chỉ dạy.

Ng�i Triệu Ch�u ngộ đạo nơi Ng�i Nam Tuyền, ngộ ngay chỗ "t�m b�nh thường l� đạo" n�n sau n�y Ng�i cũng dạy như thế.

C� vị tăng hỏi:

- Thế n�o l� Phật?

Sư bảo:

- Ở trong điện.

- Trong điện đ�u phải b�n đất đắp th�nh tượng?

- Phải.

- Thế n�o l� Phật?

- Ở trong điện.

- Con m� muội xin thầy chỉ dạy.

- Ăn ch�o xong chưa?

- Ăn ch�o xong.

- Rửa b�t đi!

Tăng nhơn đ�y đại ngộ.

Tăng muốn biết "thế n�o l� Phật", được Ng�i Triệu Ch�u chỉ "ở trong điện". Ng�i chỉ Phật t�nh kh�ng rời th�n năm uẩn (ở trong điện) thế m� tăng kh�ng nhận ra, khởi t�m so lường. Phật ở trong điện được đắp bằng b�n đất, chỉ l� tượng v� tri để thờ, kh�ng phải l� Phật m� tăng muốn biết. Ng�i Triệu Ch�u n�i "phải" l� Ng�i x�c định nơi th�n năm uẩn c� t�nh gi�c chớ kh�ng phải tượng Phật tr�n b�n. Thế m� tăng kh�ng hội lập lại c�u hỏi "thế n�o l� Phật?". Ng�i vẫn đ�p "ở trong điện". Tăng vẫn kh�ng hội, b�n thưa: "Con m� muội xin thầy chỉ dạy". Ng�i hỏi: "A�n ch�o chưa?" Tăng đ�p: "A�n ch�o xong". Ng�i bảo: "rửa b�t đi". Tăng nhơn đ�y mơi đại ngộ. Vậy, tăng ngộ c�i g�? C�i ngộ của vị tăng n�y c� kh�c với c�i ngộ của Ng�i S�ng T�n kh�ng? Ở trước, d�ng tr� th� tiếp, d�ng cơm th� nhận, x� lui ra th� gật đầu, ở đ�y ăn ch�o xong th� rửa b�t. C� phải th�n th� t�y duy�n sinh hoạt m� h�nh động, tuy nhi�n t�m vẫn b�nh thường? Chư Tổ chỉ dạy nhau l� chỉ dạy c�i m� ch�nh m�nh đ� nhận được từ nơi thầy l� "T�m b�nh thường", song mỗi vị c� mỗi thuật độc đ�o ri�ng, người căn cơ thấp k�m kh� m� biết được. Tại sao hỏi "ăn ch�o chưa?" rồi bảo "rửa b�t đi" m� lại ngộ đạo, vậy đạo ở chỗ n�o?

Sau, thiền sư Ho�ng Tr� c� l�m tụng để ca ngợi chỗ n�y:

Ch�c b�i linh giao tẩy b�t bồn

Ho�t nhi�n t�m địa tự tương ph�

Như kim tham bảo t�ng l�m kh�ch

Thả đạo kỳ gian hữu ngộ v�.

Dịch:

Ch�o xong liền dạy rửa ch�n t�,

Bỗng nhi�n t�m địa tự tương ph�

Hiện nay l� kh�ch t�ng l�m cũ

H�y n�i khoảng n�y c� ngộ kh�ng?

Thật l� xuất c�ch, người v�o đạo với t�m thao thức thiết tha cầu Phật, n�n khi hỏi "ăn ch�o xong chưa?" Thưa "ăn ch�o xong" bảo "rửa b�t đi", liền ngộ đạo. Nếu l� người kh�ng thao thức thiết tha cầu Phật, d� c� d�ng phương tiện thiện xảo thế mấy để chỉ, cũng vẫn l� kẻ dung thường kh�ng thấy được l� đạo. A�n ch�o, rửa b�t c� phải l� b�nh thường mặc t�nh ti�u dao, t�y duy�n ph�ng kho�ng kh�ng? Nếu th�ng đoạn trước đến đ�y ch�ng ta kh�ng thấy lạ.

Ng�i Động Sơn Thủ Sơ, khi c�n l� một Thiền kh�ch, đến tham vấn nơi Ng�i V�n M�n, Ng�i V�n M�n hỏi:

- �ng vừa rời chỗ n�o?

Thủ Sơ thưa:

- Rời Tra Độ.

V�n M�n hỏi:

- M�a hạ rồi ở đ�u?

Thủ Sơ đ�p:

- Ở ch�a B�o �n tại Hồ Nam.

V�n M�n hỏi:

- Rời nơi ấy l�c n�o?

Thủ Sơ đ�p:

- Ng�y 25 th�ng 8.

V�n m�n bảo:

- Tha �ng ba gậy, đến nh� tham thiền đi.

Được hỏi, Thủ Sơ đ�p một c�ch thật th�, kh�ng một ch�t đi�u ngoa, tại sao Ng�i V�n M�n n�i "tha �ng ba gậy" rồi bảo xuống nh� thiền? Thủ Sơ c� lỗi g�?

Thủ Sơ thắc mắc, h�m sau đi thẳng v�o thất Ng�i V�n M�n thưa:

- H�m qua nhờ ơn H�a Thượng tha ba gậy, con kh�ng biết lỗi tại chỗ n�o?

V�n M�n bảo:

- C�i t�i cơm! Giang T�y, Hồ Nam liền thế ấy!

Ngay c�u n�i n�y sư đại ngộ.

V�n M�n quở Thủ Sơ l� c�i t�i cơm. Giang T�y l� chỗ hoằng h�a của M� Tổ, Hồ Nam l� chỗ hoằng h�a của Thạch Đầu. "Liền thế ấy" l� sao?

Hỏi "ở đ�u", thưa "ở Tra Độ" hỏi "m�a hạ rồi ở đ�u", thưa "ở ch�a B�o A�n tại Hồ Nam". Hỏi "rời nơi ấy l�c n�o?". Thưa "ng�y 25 th�ng 8". Sự việc ấy c� phải l� b�nh thường kh�ng? Hỏi đ�u đ�p đ� r� r�ng, kh�ng suy nghĩ kh�ng phải t�m b�nh thường l� g�? Ng�i V�n M�n muốn l�m dậy s�ng n�n n�i "tha �ng ba gậy". Thuật khai ngộ của Ng�i V�n M�n qu� kỳ đặc, ng�i n�i "tha �ng ba gậy" l�m cho Thủ Sơ băn khoăn thắc mắc kh�ng biết m�nh c� lỗi ở chỗ n�o, n�n h�m sau Thủ Sơ đến phương trượng hỏi, khi hỏi bị quở "c�i t�i cơm!" Ng�i V�n M�n ch� Thủ Sơ kh�ng th�ng minh giống như c�i t�i cơm vậy. M� Tổ (Giang T�y) Thạch Đầu (Hồ Nam) cũng đều chỉ dạy c�i b�nh thường ấy th�i. Ngay đ� Thủ Sơ ngộ đạo. Qua c�u chuyện, kh�ng ai khỏi ngạc nhi�n chỗ "tha �ng ba gậy". Ch�nh nhờ c�i thuật l�m dậy s�ng đ� của Ng�i V�n M�n m� Thủ Sơ mới nhận ra c�i "ch�n thật b�nh thường" sẵn c� nơi ch�nh m�nh. C�c thiền sư đ�u c� dạy điều g� kh�c, c�c Ng�i chỉ thẳng c�i ch�n thật cho ch�ng ta l� trong mọi sinh hoạt kh�ng dấy niệm nghĩ suy l� đạo, l� t�m b�nh thường, l� Phật. Vậy, c� người n�o kh�ng c� c�i đ�? Ai cũng c� m� kh�ng d�m nhận! Sa di Cao hầu chuyện với Ng�i Dược Sơn, qua những c�u đ�p, Ng�i biết đ� l� một sa di xuất c�ch, n�n mới khoe với c�c đồ đệ lớn như V�n Nham, Đạo Ngộ. Hai vị n�y tỏ vẻ chưa tin, n�n Ng�i mới hỏi lại Sa di Cao:

- Ta nghe ở Trường An rất n�o loạn, ngươi c� biết chăng?

Sư thưa:

- Nước con an ổn.

Dược Sơn hỏi th�m:

- Ngươi do xem kinh được hay thưa hỏi được?

Sư đ�p:

- Chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được.

Dược Sơn hỏi:

- C� lắm người chẳng xem kinh, chẳng thưa hỏi sao chẳng được?

Sư đ�p:

- Chẳng n�i họ kh�ng được, chỉ v� kh�ng chịu thừa nhận.

Ng�i Dược Sơn n�i: "Ta nghe ở Trường An (thủ đ� nh� Đường) rất n�o loạn, ngươi c� biết chăng? Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". NGHE tiếng động b�n ngo�i ồn �o l� n�o. THẤY kẻ qua người lại lộn xộn l� loạn. Khi hỏi: "Ta nghe Trường An n�o loạn ngươi c� biết chăng?" Ng�i Dược Sơn muốn hỏi Sa di Cao c� thấy c� nghe sự n�o loạn b�n ngo�i kh�ng? Đ� l� c�i bẩy dọ dẫm coi sư đang chạy theo cảnh b�n ngo�i hay hằng sống với t�nh thấy t�nh nghe ch�n thật của m�nh. Sa di Cao trả lời "nước con an ổn". Người qua lại x�n xao m� t�nh thấy của Sa di Cao kh�ng x�n xao; tiếng động ồn �o m� t�nh nghe của Sa Di Cao kh�ng ồn �o. N�o loạn l� chuyện b�n ngo�i chớ t�nh thấy t�nh nghe của sư kh�ng động kh�ng loạn. Sư trả lời như thế chứng tỏ rằng Sư hằng nhớ c�i chẳng động của m�nh m� kh�ng để t�m chạy theo ngoại trần. Nếu được hỏi "c� nghe n�o loạn kh�ng?". Trả lời "c� nghe n�o loạn" l� người đ� để t�m duy�n theo cảnh vật b�n ngo�i m� qu�n c�i kh�ng động hằng hiện hữu nơi ch�nh m�nh. Như vậy, để thấy người xưa muốn trắc nghiệm xem người tham học c�n vọng ra ngoại trần hay hằng sống với c�i ch�n thật của ch�nh m�nh, chỉ n�u c�u hỏi, qua c�u trả lời th� biết người ấy thế n�o. Qua c�u trả lời của Sa di Cao, Dược Sơn chấp nhận ngay. Tuy thế, V�n Nham v� Đạo Ngộ vẫn chưa tin, ng�i Dược Sơn mới trắc nghiệm th�m: "Ngươi do xem kinh được hay do thưa hỏi được?". Sa di Cao đ�p: "Chẳng do xem kinh được, cũng chẳng do thưa hỏi được". Nếu trả lời do xem kinh hay do thầy chỉ bảo th� c�i đ� từ b�n ngo�i m� được. T�nh thấy t�nh nghe l� c�i ch�n thật c� sẵn nơi mỗi người, đ�u đợi xem kinh mới c� hay do thầy dạy mới được. N�n Sư trả lời "chẳng do xem kinh được cũng chẳng do thưa hỏi được". Mới nghe qua như phủ nhận c�ng ơn chỉ dạy của Thầy Tổ. Nhưng lẽ thực l� như vậy. Thầy Tổ chỉ l� người khơi dậy đ�nh thức để ch�ng ta xoay lại nhận ra c�i ch�n thật đ� c� sẵn m� từ l�u nay ch�ng ta bỏ qu�n. Ng�i Dược Sơn hỏi tiếp: "c� lắm người chẳng xem kinh chẳng thưa hỏi sao chẳng được?". Để x�c định lần nữa, Ng�i Dược Sơn bẻ lại: "�ng n�i chẳng do xem kinh chẳng do thưa hỏi m� được, vậy biết bao người kh�ng xem kinh kh�ng thưa hỏi sao chẳng được?" Sư đ�p: "Chẳng n�i họ kh�ng được, chỉ v� kh�ng chịu thừa nhận th�i". Ai cũng c� sẵn c�i t�nh biết ch�n thật, m� v� kh�ng chịu nhận n�n coi như kh�ng được. Được hay kh�ng được l� do biết thừa nhận hay kh�ng thừa nhận; nếu biết thừa nhận th� tự tại giải tho�t, c�n kh�ng thừa nhận th� chạy theo ngoại cảnh phiền n�o khổ đau đi m�i trong lu�n hồi sanh tử.

Để kết th�c buổi n�i chuyện h�m nay t�i dẫn chuyện ng�i Tử Hồ bắt ăn trộm, chuyện n�y rất l� th� n�n t�i hay kể, mỗi lần kể l� mỗi lần mới. Trong ph�p hội của ng�i Tử Hồ c� tr�n 500 tăng ch�ng. Một h�m, giữa đ�m bỗng ng�i la to:

- A�n trộm, ăn trộm.

Ch�ng k�o nhau chạy đến, ng�i chụp �m vị tăng đến đầu ti�n n�i:

- Bắt được rồi, bắt được rồi.

Vị Tăng bị bắt hoảng hốt thưa:

- Dạ con, kh�ng phải, kh�ng phải.

Ng�i n�i:

- Phải, phải, chỉ tại �ng kh�ng d�m nhận th�i.

Trong ph�p hội cả 500 người ai cũng c� c�i ch�n thật m� kh�ng d�m nhận, buộc l�ng ng�i phải d�ng phương tiện kỳ đặc chụp �m một vị tăng la to l� ăn trộm. Tăng đ�nh ch�nh: "Dạ con, chớ kh�ng phải ăn trộm". Ng�i n�i: "Phải, phải, chỉ tại �ng kh�ng d�m nhận th�i". Tăng n�i "Kh�ng phải" l� kh�ng phải ăn trộm. Ng�i n�i: "phải, phải" l� chỉ cho mọi người ai cũng c� sẵn t�nh gi�c ch�n thật. Tr� n�i "kh�ng phải", thầy n�i "phải, phải", nghe như c�ng đối đ�p nhau, nhưng � hai b�n thật l� kh�c xa mu�n dặm. H�nh ảnh thầy chụp tr� n�i l� "ăn trộm", tr� đ�nh ch�nh: "dạ con, kh�ng phải ăn trộm". Thầy lại khẳng định: "phải, phải, tại ngươi kh�ng d�m nhận". Thật thủ thuật qu� kỳ đặc n�i l�n l�ng từ bi đ�o để bao giờ ch�ng ta qu�n được!

Chư Tổ xưa d�ng nhiều phương tiện kỳ đặc, để chỉ cho người học đạo nhận ra t�nh gi�c ch�n thật sẵn c� m� từ l�u tự bỏ qu�n. Ri�ng t�i kh�ng c� phương tiện thiện xảo, n�n mới dẫn chuyện của người xưa để nhắc cho q�y vị nhớ v� nhận ra c�i ch�n thật của m�nh, hầu tho�t ly sanh tử dứt khổ đau.

Qua những c�u chuyện m� t�i vừa dẫn giải, nếu q�y vị nhận được t�nh gi�c ch�n thật nơi ch�nh m�nh, qu� n� như hạt minh ch�u v� gi�, th� lời dẫn giải của t�i h�m nay l� hữu �ch, tức l� t�i l� kẻ c� c�ng. Nếu qu� vị kh�ng nhận được hay nhận được m� xem thường, cho rằng ai ai cũng c�, th� c� g� quan trọng rồi vẫn cứ sống bu�ng tr�i theo dục lạc đi m�i trong lu�n hồi sanh tử th� t�i l� kẻ c� tội. V� muốn cho qu� vị c� đủ l�ng tin m� tiến tu để trở th�nh người hữu dụng, n�n t�i kh�ng ngại rụng hết l�ng m�y v� q�y vị m� chỉ thẳng.

]

 

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6]

[Trang chu] [Kinh sach]