HOA V� ƯU
(Tập II)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]
| ĐỨC TỪ BI V� NHẪN NHỤC
H�m nay nh�n qu� thầy ch�a Bửu Thọ mời ch�ng t�i về dự lễ an vị đức Bồ-t�t Qu�n Thế �m v� khai đại hồng chung của ch�a, n�n t�i sẽ giảng về đề t�i Đức từ bi v� nhẫn nhục. Bởi v� t�n tượng Bồ-t�t Qu�n Thế �m tượng trưng cho hạnh từ bi trong đạo Phật. Từ bi v� nhẫn nhục l� hai ph�p tu tối thiết yếu của người Phật tử cũng như người xuất gia. Từ bi l� ban vui, cứu khổ. Người c� l�ng từ bi l� người thương tất cả ch�ng sanh b�nh đẳng như nhau. V� thương mọi người n�n đem hết cả t�m tư sức lực của m�nh l�m cho mọi người được vui, hết khổ, n�n gọi l� ban vui, cứu khổ. Ở đời ai kh�ng c� khổ, hoặc nhiều hoặc �t th�i. Chư Phật v� Bồ-t�t thương muốn cho ch�ng ta hết khổ n�n c�c Ng�i dạy ch�ng ta tu. V� vậy từ bi l� hạnh thiết yếu trong đạo Phật. Kế đến l� nhẫn nhục. Bởi c� từ bi m� thiếu nhẫn nhục th� kh�ng bao giờ thực hiện được hạnh từ bi. Nhẫn nhục l�c n�o cũng ở b�n cạnh từ bi, kh�ng thể ri�ng rẽ được, n�n t�i giảng chung từ bi v� nhẫn nhục. Trong kinh Ph�p Hoa Phật c� dạy, muốn v�o nh� Như Lai tức phải c� l�ng từ bi, muốn mặc �o Như Lai tức phải nhẫn nhục. T�m lại, muốn v�o nh� Phật, mặc �o Phật phải tu hạnh từ bi v� nhẫn nhục. Nếu kh�ng c� từ bi, kh�ng c� nhẫn nhục th� kh�ng thể v�o nh� Phật, mặc �o Phật được. N�n người Phật tử thiếu từ bi th� chưa phải Phật tử. Đ�y l� vấn đề m� qu� Phật tử cần phải hiểu. N�i từ bi theo nghĩa cứu khổ ban vui, qu� Phật tử cảm thấy kh� hiểu. Để gần gũi v� dễ hiểu hơn, t�i c� thể n�i từ bi l� t�nh thương v� mọi người chớ kh�ng phải v� m�nh. Ch�ng ta ai cũng c� t�nh thương, nhưng t�nh thương v� m�nh nhiều hơn v� mọi người. V� dụ ta đi đ�u trễ xe hoặc trễ đ�, c� một người tử tế mời v�o nh� uống nước, ăn cơm để chờ tới chuyến đ�, chuyến xe sau. Họ xử sự rất tốt n�n ta n�i người đ� dễ thương qu�. Tại v� họ tốt với m�nh n�n m�nh n�i dễ thương. Nếu người ấy xấu với m�nh th� m�nh kh�ng thương. Như vậy để thấy t�nh thương của ch�ng ta đi đ�i với bản ng�. T�nh thương đ� kh�ng gọi l� từ bi. Đến bao giờ ch�ng ta thấy người lem luốc, xấu x�, kh�ng lễ độ, đ�i khổ m� ta vẫn thương. Ch�ng ta cho ch�n cơm, ổ b�nh m�, d� họ kh�ng c�m ơn nhưng ch�ng ta vẫn thấy vui. Đ� l� t�nh thương của l�ng từ bi, thấy người khổ m�nh thương, m�nh gi�p m� kh�ng cần đền đ�p. L� người Phật tử biết học Phật, tu Phật th� n�n tập mở rộng t�nh thương. Ai khổ, ai đ�i th� ch�ng ta thương, kh�ng v� bản ng�, kh�ng đợi người gi�p m�nh, m�nh mới thương lại. Đ� l� t�nh thương của l�ng từ bi. C�n v� m�nh th� chưa phải từ bi. N�n hiểu cho tường tận, chớ thương người n�y, thương người kia rồi cho đ� l� từ bi th� kh�ng thể được. Bởi từ bi hệ trọng như vậy n�n người Phật tử bước ch�n v�o đạo phải tập mở rộng l�ng thương mọi người. Đ� l� tập t�m từ bi. C� t�m từ bi rồi th� ch�ng ta tu mới c� thể tiến được. C�n chưa c� từ bi th� kh�ng thể n�o ch�ng ta tiến được tr�n đường tu. Tại sao từ bi phải đi đ�i với nhẫn nhục? Như ở thế gian c� người con hiếu thảo, thương cha mẹ nhưng gia cảnh ngh�o l�m kh�ng đủ ăn. Bấy giờ Gi�m đốc một x� nghiệp nhận v�o l�m, trong x� nghiệp anh ta bị rầy, bị quở nhiều thứ, x�c chạm tới tự �i. Nhưng v� thương cha mẹ thiếu thốn n�n vẫn chịu đựng, nhịn nhục l�m c� tiền để nu�i cha mẹ. Do đ� phải ẩn nhẫn, cực khổ, nhục nh� chớ kh�ng d�m bỏ việc. Như vậy t�nh thương gi�p cho ch�ng ta c� sức chịu đựng, sức nhẫn nại. Đ� gọi l� nhẫn nhục. Nếu ch�ng ta kh�ng thương cha mẹ th� khi gặp cảnh bị rầy la, khinh bạc liền bỏ qu�ch, cần g� phải l�m, chỗ n�y kh�ng được kiếm chỗ kh�c. Nhưng v� thương cha mẹ cho n�n nhẫn chịu mọi sự phiền h�, x�c phạm. Đ� l� v� t�nh thương m� phải nhẫn nhục. Một v� dụ nữa, như người phụ nữ gặp �ng chồng bạo h�nh, nhưng đ� c� với nhau hai, ba mặt con. Người chồng bạo h�nh chịu hết nổi th� lẽ ra phải ly dị nhưng v� thương con, sợ con bơ vơ kh�ng c�n đủ cha mẹ, việc học h�nh sa s�t v. v� Thương con m� nhẫn nhịn sự bạo h�nh của chồng. Như vậy cũng v� t�nh thương m� phải chịu đựng. Trường hợp trước l� người con hiếu, v� thương cha mẹ m� nhận chịu những kh� khăn, khinh bỉ. Trường hợp sau v� thương con m� kh�ng bỏ được người bạn từng h�nh hạ m�nh, chịu đựng mọi điều v. v� N�n biết, nhờ t�nh thương m� người ta c� thể nhẫn chịu những c�i kh� nhẫn. Nếu kh�ng c� t�nh thương th� chắc rằng con người sẽ kh�ng đủ sức để vượt qua những cảnh kh� khổ. Sống trong đời ch�ng ta muốn l�m điều l�nh, điều tốt nhưng chắc g� được mọi người t�n th�n. Cho n�n muốn l�m điều l�nh điều tốt để gi�p mọi người, th� trước ch�ng ta phải tập c� l�ng thương mạnh mẽ đối với mọi người. Đ� l� từ bi. Kế phải c� sức nhẫn nại, chịu đựng những kh� khăn. Ch�ng ta kh�ng n�n hiểu lầm nhẫn nhục l� điều xấu, theo quan niệm của nhiều người, nhẫn l� phải chịu nhục. Theo t�i th� kh�ng phải vậy. Nhẫn nhục l� một sức mạnh chớ kh�ng phải yếu đuối. Thế gian thường cho rằng người l�m việc g� bị la rầy, quở mắng nhưng vẫn r�ng chịu đựng l� người yếu đuối, nhu nhược, v� kh�ng d�m chống cự lại, đ�i khi c�n bảo l� ngu. Nhưng trong đạo Phật kh�ng phải vậy. Đạo Phật dạy nhẫn nhục l� một sức mạnh. Nếu ch�ng ta để � sẽ thấy ở những ng�i ch�a xưa thường viết c�u Đại H�ng Bửu Điện, tức l� điện b�u thờ đấng Đại H�ng. Đức Phật l� đấng Đại H�ng, nhưng Ng�i c� đ�nh dẹp ai đ�u m� t�n vinh l� Đại H�ng? Trong kinh Ph�p C�, Phật c� dạy thế n�y: Thắng một vạn qu�n kh�ng bằng thắng m�nh Thắng m�nh mới l� chiến c�ng oanh liệt nhất Nghĩa l� người n�o thắng được m�nh mới gọi l� người h�ng. Thắng giặc b�n ngo�i chưa phải l� h�ng. Như vậy nhẫn nhục l� việc dễ hay kh�? Bị người sỉ nhục, mắng nhiếc ta, ta sỉ nhục, mắng nhiếc lại l� dễ hay nhịn nhục l� dễ? Mắng lại l� dễ chớ bỏ qua kh� lắm. Đừng n�i chi người lớn, trẻ con khi bị ức hiếp n� tức giận la lối dễ hay l�m thinh dễ? Như vậy khi tr�i �, nổi giận la lối con n�t l�m cũng được, c�n nhẫn nhịn, người lớn đ�i khi l�m chưa nổi nữa. Qua đ� th� biết c�i n�o kh�! Kh� m� l�m được n�n gọi l� Đại H�ng. Đức Phật được gọi l� Đại H�ng v� Ng�i nhẫn được những điều kh� nhẫn. Trong kinh kể lại, c� lần đức Phật tr�n đường du h�a, một thầy B�-la-m�n lẽo đẽo theo sau chửi nhưng Phật cứ thong thả đi. �ng tức qu� chận lại hỏi: - Ng�i Cồ Đ�m! Ng�i c� điếc kh�ng? Phật đ�p: - Kh�ng. - Kh�ng điếc sao �ng nghe t�i mắng chửi m� kh�ng c� phản ứng? - Ta kh�ng điếc. Việc mắng chửi của �ng c� li�n hệ g� với ta đ�u. Phật liền n�i v� dụ: - Như nh� �ng c� giỗ mời b� con quyến thuộc tới dự. Khi họ sắp về, �ng g�i qu� b�nh tặng. Những người ấy kh�ng nhận th� qu� đ� về ai? �ng B�-la-m�n đ�p: - Nếu họ kh�ng nhận th� qu� đ� về t�i chớ về ai. Phật bảo: - Cũng vậy, �ng chửi ta m� ta chẳng nhận th� những lời mắng chửi đ� xin gửi lại cho �ng. Người ta cứ nghĩ rằng nhịn l� thua, nhưng trường hợp vừa kể, đức Phật c� thua kh�ng? Chửi Ng�i m� Ng�i kh�ng chống cự lại th� hậu quả tự trở về người chửi. Ch�ng ta thử tập khi bị mắng chửi m� ch�ng ta cứ lặng lẽ l�m thinh kh�ng n�i g� hết th� rốt cuộc người n�o tức hơn. Người bị chửi tức hay người chửi tức? Cho n�n tưởng rằng tranh hơn thua l� hay, kh�ng ngờ c�ng tranh l� c�ng l�n s�u v�o phiền n�o. Chẳng kh�c n�o như lửa ch�y m� cứ chế th�m dầu ho�i. C�n một b�n n�ng giận, một b�n im lặng, kh�ng c� lời th�ch đố nhau th� l�m g� c� chuyện đấu tranh để dẫn đến những việc tai hại lớn lao. R� r�ng nhẫn nhịn l� điều hết sức quan trọng, kh�ng phải việc thường. Người biết nhẫn nhịn l� người l�m được việc lớn, c�n người kh�ng nhẫ�n nhịn được th� kh�ng l�m được việc g� hết. Cho n�n ch�ng ta muốn l�m được điều hay điều tốt th� phải c� đức nhẫn nhịn mạnh mẽ, như vậy việc l�m mới th�nh c�ng. Ch�ng ta ai cũng biết c�u chuyện Quan �m Thị K�nh. T�i lược kể điểm hay đặc biệt của b� Quan �m Thị K�nh. Theo sử s�ch Trung Quốc th� b� thuộc gia đ�nh kh� giả, c� danh gi�, chồng b� l� một nho sinh hiếu học. Gia đ�nh hai b�n cũng m�n đăng hộ đối. Một h�m nh�n chồng học h�nh mệt mỏi n�n nằm ngủ trưa. B� nh�n thấy c� sợi r�u mọc ngược l�n tr�n kh� coi, n�n lấy k�o định hớt gi�m sợi r�u. Nhưng vừa đưa k�o đụng v�o th� �ng giật m�nh chụp tay la: "�m s�t t�i". �ng la l�n như vậy th� cả nh� đều tin theo, n�i b� định d�ng k�o �m s�t �ng chồng. Việc đ� c� oan kh�ng? V� �ng ngủ mơ m�ng kh�ng tỉnh t�o n�n bị đụng v�o da liền giật m�nh hoảng hốt, thấy b� đang cầm k�o th� la l�n n�i vợ �m s�t m�nh. D� b� c� n�i g� cũng kh�ng ai tin hết. Cuối c�ng gia đ�nh b�n chồng giao trả b� về cha mẹ của b�, v� l� n�ng d�u hư. Cha mẹ b� cũng kh�ng biết n�i sao hơn n�n đ�nh đem con về. Về nh� m�nh rồi, b� nghĩ sự tủi nhục v� l� con nh� thế phiệt m� b�y giờ mang tiếng giết chồng, nhưng kh�ng biết l�m sao minh oan được. V� vậy b� định đi tu để khỏi mang tai tiếng cho cha mẹ. Hồi xưa ở Trung Hoa chưa c� ph�i nữ đi tu, chỉ c� ph�i nam th�i. N�n muốn đi tu b� phải giả trai. Khi v�o ch�a được H�a thượng nhận cho ở, nhưng v� c� nhan sắc n�n giả trai b� cũng đẹp. Do đ� động l�ng Thị Mầu, con một nh� gi�u thường lui tới viếng ch�a. Thị Mầu c� t�m kh�ng tốt n�n sau n�y gần gũi với người n� bộc của gia đ�nh, c� mang thai rồi đổ oan cho �ng đạo Kỉnh T�m, tức ph�p danh của b�. Sự việc Thị Mầu khai trước l�ng x� đ�i b� đến c�ng đường tra hỏi. B� trả lời kh�ng c� g� hết nhưng chẳng ai tin. D� bị tra khảo đ�nh đập đi kh�ng nổi nhưng b� vẫn chịu đựng, kh�ng tiết lộ m�nh l� người nữ để minh oan. Cuối c�ng l�ng mời H�a thượng đến trả b� về ch�a nu�i dạy lại. Như vậy mới thấy sức chịu đựng phi thường của b�. Khi về ch�a, H�a thượng kh�ng biết sự việc thế n�o n�n xử sự với b� kh�c l�c trước. B� kh�ng được ở trong ch�a m� phải ở h�nh lang. Thời gian sau Thị Mầu sanh đứa con trai, c� bồng đứa b� đến ch�a giao cho b� n�i rằng: "Con của �ng nay t�i giao trả cho �ng". Ch�ng ta thấy r� r�ng sự việc kh�ng c� g� d�nh d�ng m� b�y giờ xảy ra đến mức độ như vậy. B� can đảm nhận nu�i đứa b�, bởi b� nghĩ người tu d� cho c�ng phu nhiều m� kh�ng c� l�ng từ bi th� cũng kh�ng xứng đ�ng. V� ch�ng sanh, v� cứu một mạng người n�n b� chấp nhận hết mọi nhục nh�, mọi h�nh phạt. Cho n�n trong một đoạn thơ truyện Quan �m Thị K�nh c� c�u n�y: D� x�y ch�n bậc ph� đồ, Kh�ng bằng l�m phước cứu cho một người. Ph� đồ tức l� c�i th�p, � c�u n�y n�i d� x�y th�p ch�n tầng, kh�ng bằng cứu một sinh mạng con người. Nghĩ vậy n�n b� đ�nh �m đứa nhỏ nu�i. Sự việc n�y c�ng l�m cho H�a thượng nghi ngờ, nếu kh�ng phải con của b� th� sao nhận l�nh nu�i. Sống trong ho�n cảnh ấy b� vẫn �m thầm chịu đựng. Mỗi ng�y ẵm đứa b� đi khắp x�m l�ng xin sữa b�, chịu đựng mọi khinh bỉ, ch� bai của thi�n hạ. B� ki�n nhẫn nu�i cho đứa b� lớn l�n. Thời gian chịu nhục nh� kh�ng biết l� bao nhi�u. Một đứa trẻ kh�ng c� li�n hệ m�u mủ g� hết m� v� l�ng từ bi muốn cứu một mạng sống, kh�ng để cho n� chết n�n b� phải chịu nhục nh�, đủ thứ xấu xa. Tới khi đứa b� lớn rồi, từ đ� b� mới được tu h�nh y�n ổn, v� đến l�c l�m chung mọi người ph�t hiện b� l� người nữ th� b� đ� đắc quả vị Bồ-t�t. Người đời sau thường gọi l� Quan �m Thị K�nh. Đ� l� t�i kể tổng qu�t, b�y giờ t�i nhấn mạnh th�m tinh thần nhẫn nhục của b� để ch�ng ta noi theo tu tập. Thứ nhất, b� nhẫn khi bị chồng vu oan. Việc ngẫu nhi�n th�i m� bị h�m oan như thế. Nếu người kh�ng c� can đảm, bị oan ức đ� c� thể tự tử. Thường người ta cho rằng tự tử l� gan, nhưng t�i th� n�i ngược lại, tự tử l� kh�ng can đảm. Bởi v� xấu hổ chịu đựng kh�ng nổi, kh�ng đủ sức nhẫn n�n mới tự tử, nếu đủ sức nhẫn th� đ�u c� tự tử. B� kh�ng tự tử m� sống v� tu. Đ� l� một đức nhẫn nhục lớn. Thứ hai, khi đi tu bị người ta vu oan l� quan hệ với Thị Mầu c� thai. Điều đ� hết sức v� l� v� b� l� người nữ. Nếu muốn minh oan rất dễ, chỉ cần n�i t�i l� người nữ th� mọi việc đều �m xu�i hết. Nhưng v� muốn được tiếp tục tu h�nh, b� kh�ng muốn lộ t�ng t�ch m�nh l� người nữ, n�n phải nhận l�nh sự h�nh hạ, đ�nh đập, khảo tra. Trường hợp trước nhẫn để được sống v� tu. Trường hợp thứ hai, v� sự tu n�n cam chịu khổ nhọc. V� đến giai đoạn cuối c�ng l� l�ng từ bi thương đứa b� ra đời kh�ng c� cha mẹ nu�i dưỡng. Sợ n� chết tội n�n nhận nu�i, chịu nhục nh�, kh�ng phải một ng�y m� cả mấy chục năm trời. Ch�nh v� l�ng từ bi n�n b� đ� c� sức ki�n nhẫn phi thường như vậy. Khi đ� vượt qua sức chịu đựng đ� b� liền th�nh tựu Bồ-t�t. Ch�ng ta thấy l�ng từ bi, sức nhẫn nhục vượt hơn tất cả người thường t�nh. Do đ� th�nh tựu được Bồ-t�t hạnh. B�y giờ ch�ng ta t�n vinh b� l� Phật B� Quan �m. Như vậy, người chịu đựng được l� người mạnh mẽ, c� một sức nhẫn phi thường. Cho n�n tu muốn đến nơi đến chốn đ�i hỏi ch�ng ta phải c� đủ hai mặt, vừa c� l�ng từ bi vừa c� đức nhẫn nhục. Từ bi nhẫn nhục đủ th� ch�ng ta mới tu tiến, mới th�nh c�ng. C�n chỉ c� từ bi m� thiếu nhẫn nhục th� kh� th�nh c�ng. V� dụ như ch�ng ta thấy người ngh�o khổ muốn gi�p đỡ nhưng họ kh�ng biết mang ơn. Vậy l� ch�ng ta kh�ng muốn gi�p nữa. Đ� l� ch�ng ta l�m việc l�nh, việc tốt m� chưa c� đức nhẫn nhục n�n dễ l�i lắm. Đ� l� t�i n�i Bồ-t�t Qu�n Thế �m ở trong truyện thơ Quan �m Thị K�nh. B�y giờ t�i n�i Bồ-t�t Qu�n Thế �m tr�n h�nh tượng m� qu� vị đang thờ. Ch�ng ta đến ch�a lễ Bồ-t�t Qu�n Thế �m thường thấy Ng�i dưới h�nh thức người nữ, nhưng thật ra Bồ-t�t kh�ng c� nam nữ. Trong kinh Phổ M�n c� n�i r�, Bồ-t�t Qu�n Thế �m khi cần độ đồng nam th� hiện th�n đồng nam. Khi cần độ đồng nữ th� hiện th�n đồng nữ, cần độ Tể Quan th� hiện th�n Tể Quan. Như vậy Ng�i kh�ng c� th�n nhất định l� nam hay nữ, m� t�y theo căn cơ ch�ng sanh th�ch th�n g� th� hiện ra th�n ấy. Song v� người nữ gi�u t�nh thương, Ng�i thường hiện th�n nữ. V� vậy khi n�i về t�nh thương, người ta hay n�i như mẹ hiền thương con. Cha cũng thương nhưng c� khi phải răn, phải đ�nh. C�n mẹ thương thường vuốt ve m� �t đ�nh. Do đ� m� n�i mẹ hiền, �t n�i cha hiền. Cha nghi�m n�n hay gọi nghi�m phụ, mẹ hiền n�n hay gọi từ mẫu. Do đ� l�ng từ thường được tượng trưng qua người nữ. Ng�i Qu�n Thế �m tu hạnh từ bi n�n Ng�i hiện th�n người nữ để thể hiện hạnh nguyện của m�nh. Kế đ� ch�ng ta thấy tr�n tay tr�i Ng�i cầm tịnh b�nh, tay phải cầm c�nh dương. Như vậy � nghĩa như thế n�o? B�nh l� để chứa nước cam lồ. T�i xin đọc lại một đoạn nguy�n văn chữ H�n trong Từ bi Thủy s�m: "Th�y dương liễu nhi biến s�i cam lồ. Trừ nhiệt n�o ĩ giai đắc thanh lương. Tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh. Thuyết ph�p độ tho�t ư lục đạo". Như vậy l� Ng�i cầm c�nh dương rưới nước cam lồ từ trong tịnh b�nh. Nước cam lồ v� c�nh dương tượng trưng cho c�i g�? Chữ cam l� ngọt, lộ l� sương. M� sương đọng tr�n l� c�y, nước đ� trong sạch v� ngọt gọi l� cam lồ. Nước cam lồ l� tượng trưng cho t�m từ bi. T�m ấy trong sạch, dịu ngọt như cam lồ. V� vậy từ bi tới đ�u th� lửa nhiệt n�o tắt ngụm tới đ�. Ngọn lửa phiền n�o của ch�ng ta ch�y hừng hực n�n chỉ c� nước từ bi mới dập tắt được. Phiền n�o n�ng giận l� s�n. Muốn cho hết s�n, qua được cơn n�ng giận phải c� l�ng từ bi. N�n nước cam lồ tượng trưng cho l�ng từ bi. Khi ta gặp khổ đau, người c� l�ng từ bi khuy�n dạy ta sẽ giảm. Những ch�ng sanh đang trong cảnh đ�i thiếu, đủ thứ tai nạn, gặp được những người c� l�ng từ bi th� họ sẽ được cứu gi�p. Cho n�n khổ đau chỉ c� l�ng từ bi mới đưa đến sự b�nh an. Nước cam lồ đem rưới cho mọi người được m�t mẻ th� phải nhờ c�nh dương. C� người lấy c�nh tr�c hay c�nh tre thay thế c�nh dương để rưới nước cam lồ. Nhưng sự thật � nghĩa nước cam lồ chỉ rưới được qua c�nh dương. Tại sao vậy? V� c�nh dương nhỏ, mảnh, khi gặp gi� th� n� uyển chuyển nhưng m� kh�ng g�y. Như vậy để n�i l�n � nghĩa người c� đức nhẫn nhục, gặp cảnh kh� khăn lu�n t�y thuận, nhẫn nại, kh�ng chống đối. Mới nh�n như yếu, lại dẻo dai chịu đựng, kh�ng bị g�y, bị thua. Như vậy h�nh ảnh c�nh dương n�i l�n đức nhẫn nhục. V� nhẫn nhục mới c� thể đem nước cam lồ hay l�ng từ bi chan rải cho mọi người được. Nếu kh�ng c� nhẫn nhục th� kh�ng bao giờ chan rải được l�ng từ bi. R� r�ng từ bi v� nhẫn nhục nương nhau th� l�m việc g� cũng th�nh tựu. C� từ bi m� thiếu nhẫn nhục hay ngược lại, c� nhẫn nhục m� thiếu từ bi cũng kh�ng được. Cho n�n trong kinh n�i cầm c�nh dương Ng�i rưới nước cam lồ l�n khắp cả. Trừ nhiệt n�o, Ng�i l�m cho mọi người đều được tắm trong d�ng suối thanh lương. Nghe tiếng k�u m� cứu khổ cho tứ sanh. Ng�i thuyết ph�p độ khắp cả lục đạo. Qua đ� ch�ng ta thấy h�nh tượng Ng�i cầm c�nh dương rải nước cam lồ l�n tất cả mọi người, đ� l� đem l�ng từ bi chan rải khắp mu�n lo�i. Do sức mạnh của l�ng từ bi m� ti�u diệt được l�ng s�n hận của con người. Ch�ng ta sống nếu kh�ng c� l�ng từ bi th� kh�ng thể n�o thực hiện được những điều đức Phật đ� dạy. T�i nhắc lại khi đức Phật c�n tại thế, c� lần tr�n đường gi�o h�a, gặp một nh�m c�n đồ mắng chửi thậm tệ, nhưng Ng�i vẫn thản nhi�n, kh�ng c� th�i độ n�o tỏ vẻ kh� chịu hay bất m�n. Nhưng t�n giả A Nan chịu kh�ng nổi, liền thưa với Phật: - Bạch Thế T�n, ch�ng ta n�n đi nơi kh�c. Phật bảo: - B�y giờ đi chỗ n�o A Nan? Ng�i A Nan thưa rằng: - Đi chỗ n�o kh�ng c� người chửi mắng m�nh th� mới c� thể truyền đạo. Phật bảo: - Giả sử ch�ng ta đi đến chỗ kh�c cũng c� người mắng chửi nữa th� l�m sao A Nan? Ng�i A Nan thưa: - Như vậy th� ch�ng ta t�m lại những nơi đ� từng gi�o h�a như th�nh X� Vệ hoặc những nơi c� đệ tử của Ng�i. Phật bảo: - N�y A Nan! Nếu l� thầy thuốc giỏi th� c� n�n treo tấm bảng trước nh� rằng: "Ở đ�y chỉ nhận chữa những bệnh th�ng thường, c�n bệnh nặng th� mời đi nơi kh�c"? Ng�i A Nan thưa: - Kh�ng Phật hỏi: - Tại sao vậy? Ng�i A Nan thưa: - Thầy thuốc giỏi th� trị bệnh nặng, c�n bệnh thường c� g� quan trọng. Phật bảo: - Cũng vậy, người ta đang bệnh ta phải trị cho họ, chừng n�o họ kh�ng cần th� ta mới đi. Ng�i A Nan n�i: - Họ đang chửi m�nh th� họ đ�u cần m�nh. Những người c�n đồ nghe n�i vậy liền thức tỉnh l�n tiếng: - Bạch Ng�i, ch�ng con cần Ng�i. Do đ� đức Phật đ� ở lại gi�o h�a độ những người đ�. C�u chuyện đ� cho ch�ng ta thấy, Phật d� h�a độ ch�ng ta nhưng kh�ng phải tới đ�u người ta cũng k�nh ngưỡng như nhau. Ngay cả đức Phật đi gi�o h�a cũng gặp nhiều cay đắng, bị trở ngại đủ thứ hết, nhưng Ng�i cũng thản nhi�n chịu đựng. Nhờ vậy Ng�i mới th�nh đạo v� truyền b� Phật ph�p cho tới ng�y nay. Ch�ng ta l� h�ng đệ tử của Phật th� phải học gương s�ng của Ng�i. V� thương những người khổ hay người ngang ngạnh n�n d� họ c� g�y kh� khăn, l�m điều hung dữ, ch�ng ta vẫn phải độ họ, kh�ng n�n giận họ. Trong đạo Phật l�c n�o cũng nhắc nhở người Phật tử lu�n cố gắng thực hiện cho được tinh thần từ bi nhẫn nhục. Chưa h�nh được hạnh đ� th� ch�ng ta chưa phải l� đệ tử của Phật. Thật ra ch�ng ta ai cũng c� l�ng từ bi, nhưng l�ng từ bi đ� bị hạn chế. V� dụ c� người đi xem h�t thấy c�c diễn vi�n bi lụy rơi nước mắt họ cũng kh�c theo, như vậy th� c� t�nh thương, thấy cảnh khổ mới kh�c. Nhưng c� điều lạ l� thấy cảnh khổ tr�n s�n khấu th� kh�c, m� thấy người khổ thật ở ngo�i th� thản nhi�n. N�n c�i kh�c đ� l� do c�c diễn vi�n kh�o gợi cảm x�c của m�nh, c�n những cảnh khổ kh�ng gợi được cảm x�c th� kh�ng kh�c, chỉ thương v� tội nghiệp th�i. Đ� l� do l�ng từ bi c�n bị ảnh hưởng trong t�nh cảm ri�ng tư. Cho n�n ch�ng ta hiểu đạo Phật rồi tập theo đức từ bi, ch�ng ta sẽ được những điều lợi �ch lớn. Tất cả những g� ch�ng ta l�m lợi cho người kh�c, mới thấy như thiệt th�i nhưng thực t�nh ch�ng ta gi�p cho mọi người, rồi sau n�y m�nh sẽ được mọi người gi�p lại. M�nh xử sự tốt với mọi người th� người sẽ xử sự tốt với m�nh. Cũng c� người thắc mắc sao t�i xử sự tốt với người m� người lại xử sự xấu với t�i? Ch�ng ta kh�ng n�n vội nghĩ "l�m ơn lại mắc o�n". Sự thật kh�ng phải như vậy. T�i thường v� dụ như trước kia ch�ng ta l�m khổ ai đ�, b�y giờ m�nh ph�t t�m hiền l�nh tốt, nhưng sự cải tiến của m�nh chưa xứng với việc m�nh l�m khổ người khi trước. Do đ� d� ch�ng ta gi�p người nhưng họ vẫn kh�ng mang ơn ch�ng ta m� lại c�n hầm hầm nữa chứ. Cho n�n hiểu được nh�n quả rồi th� kh�ng giận họ m� phải biết v� việc l�m của m�nh chưa xứng đ�ng, chưa thật qu�, chưa cao thượng n�n người chưa vừa l�ng. C� người n�i từ trước tới giờ t�i chưa từng l�m khổ ai ch�t n�o, nhưng ch�ng ta n�n nhớ trong nh� Phật n�i những sự việc xảy ra với ch�ng ta kh�ng chỉ xảy ra trong đời n�y m� c� sự li�n hệ tới nhiều đời trước nữa. Ng�y nay ch�ng ta tử tế với người nhưng biết đ�u trước kia ch�ng ta l�m khổ người qu� nhiều. Sự o�n hờn của qu� khứ c�n n�p trong t�ng thức của người, b�y giờ gặp lại, d� ch�ng ta c� l�m điều l�nh điều tốt, nhưng chưa xứng với việc cũ n�n họ kh�ng h�i l�ng, kh�ng th�ng cảm với ta. Hiểu như vậy ch�ng ta chỉ tr�ch m�nh chớ kh�ng tr�ch người. Nhờ thế việc tu h�nh mới kh�ng trở ngại. Hiểu được như vậy, tất cả ch�ng ta ai cũng � thức được rằng cuộc đời của m�nh nếu được tốt đẹp xứng đ�ng, đ� l� ch�ng ta biết từ bi, biết thương người, biết cứu gi�p người. Kh�ng phải ch�ng ta chỉ biết bằng lời n�i su�ng th�i m� c�n phải c� sức chịu đựng, nhẫn nhục. T�i kể th�m c�u chuyện nữa, c� lần đức Phật đi khất thực, một thầy B�-la-m�n theo sau chửi bới thậm tệ m� Phật vẫn thản nhi�n đi. Thầy B�-la-m�n bực tức chạy l�n trước chận đường hỏi: Cồ Đ�m! Ng�i thua t�i chưa? Phật liền trải tọa cụ ngồi xuống, n�i b�i kệ: Người hơn th� th�m o�n Kẻ thua ngủ chẳng y�n Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ. Ng�i n�i ai c�n thấy hơn, thấy thua l� c�n khổ. Hơn người th� o�n hờn, c�n thua người th� đ�m đến trằn trọc ngủ kh�ng được. Chỉ người bỏ được hơn thua th� được an ổn, hạnh ph�c. Như t�i đ� n�i, ch�ng ta t�n đức Phật l� đấng Đại H�ng, v� trong trường hợp n�o Ng�i cũng nhịn hết, kh�ng hề chống cự hoặc h�nh hạ ai. Ng�i chỉ nhẹ nh�ng nhắc nhở gi�o h�a th�i. V� vậy Ng�i kh�ng hờn, kh�ng giận, kh�ng o�n th�. Sức chịu đựng đ� gọi l� Đại H�ng. Đức Phật l� đấng Đại H�ng, ch�ng ta �t ra cũng l�m được tiểu h�ng v� ch�ng ta l� con Phật. Vậy trong gia đ�nh cho tới ngo�i x� hội ch�ng ta phải sống v� tu như thế n�o? Nếu ở gia đ�nh, người chồng lớn tiếng th� vợ phải nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn kh�ng c� nghĩa l� xấu hổ, l� thua s�t. Nhẫn nhịn người ngo�i c�n kh�ng thua, huống nữa l� nhẫn nhịn người trong nh�. Ch�ng ta nhẫn nhịn được tức l� ch�ng ta tự chế ngự được sự n�ng giận của m�nh. Nhịn người lớn hơn hoặc bằng m�nh th� dễ, c�n nhịn những người nhỏ hơn mới thật l� kh�. C� những người nhỏ k�m đức hạnh, ăn n�i th� lỗ, chẳng lẽ ch�ng ta lại đi c�i v� với họ sao? Cho n�n nhịn tất cả, lớn nhỏ g� cần nhẫn nhịn th� ch�ng ta cứ nhẫn nhịn. N�n nhớ từ bi nhẫn nhục kh�ng chỉ đối với người ngo�i m� c�n đối với trong gia đ�nh nữa. Được vậy ch�ng ta mới biết tu, mới gọi l� đệ tử của đấng Đại H�ng được. Nếu muốn trở th�nh một Phật tử ch�n ch�nh th� phải c� t�m từ bi, c� đức nhẫn nhục. Đ� l� Phật tử m� người động tới mỗi việc đều nổi giận hoặc thấy kẻ đ� khổ kh�ng thương kh�ng gi�p, th� c� xứng đ�ng gọi l� Phật tử chưa? Trong kinh Phật thường hay nhắc nhở ch�ng ta phải c� l�ng từ bi thương ch�ng sanh, phải chịu đựng những kh� khổ để t�m trong s�ng, thanh tịnh. Đ� l� điều kh�ng thể thiếu được. Ch�ng ta c�n phải biết rằng tr�n đường tu lu�n gặp chướng duy�n. Nếu kh�ng hiểu ch�ng ta sẽ nghĩ, chẳng lẽ m�nh kh�ng c� phước? Người tu hạnh nhẫn nhục m� đến đ�u cũng được qu� k�nh th� chưa thể h�nh hạnh nhẫn nhục. V� như đức Phật nếu kh�ng c� người mạ lị th� l�m sao ch�ng ta thấy được đức t�nh cao cả của Ng�i. Nhờ c� kẻ c�n bướng d�m mắng chửi Ng�i, ch�ng ta mới thấy được nhẫn lực phi thường của Ng�i. Ch�ng ta tu m� c� người k�nh, c� người chửi, c� người khinh, ch�ng ta cũng tự nhi�n như vậy, mới gọi l� người thật tu. Đa số Phật tử ng�y nay cứ ngỡ tu l� c�ng k�nh, l� l�m phước m� kh�ng biết tu l� x�y dựng cho bản th�n m�nh một c�i t�m từ bi nhẫn nhục. V� vậy những trở ngại tr�n đường tu, t�i kh�ng gọi trở ngại m� gọi thắng duy�n. Nhờ c� người chửi m�nh m� tr�n được hạnh nhẫn nhục. Nếu kh�ng th� ch�ng ta đ�u c� biết m�nh nhẫn được hay kh�ng. Qu� Phật tử tu đừng sợ kh�, đừng sợ bị thử th�ch. Bởi v� thử th�ch ch�nh l� cơ hội tốt để ch�ng ta thể hiện tinh thần tu h�nh của m�nh. Tu l� c� sức an nhẫn, c� sức chịu đựng mọi thử th�ch, chớ kh�ng phải tu l� để đ�n nhận mọi thứ an l�nh hết. Bởi người tu cũng như ch�o thuyền ngược nước, ngược gi�. Nếu ch�ng ta thả lơi th� thuyền sẽ tr�i ra tới biển. C�n nếu ra sức ch�o chống th� ch�ng ta mới đến được tận nguồn, tận nơi ch�ng ta muốn. Người tu h�nh muốn chi được nấy th� c�n g� tu nữa. Phật tử đến ch�a lạy xin Phật cho con l�m ăn ph�t đạt, mọi việc đều tốt đẹp, con c�i học h�nh giỏi v. v� Xin mọi thứ chớ kh�ng chịu tu. Như vậy l� xin hay tu? Nếu xin Phật kh�ng được th� đ�m ch�n. Nghe n�i c� B� Ch�a xứ linh lắm, chạy qua xin B�. Xin Phật kh�ng được th� xin B�. Người như vậy l� chưa biết tu. Tu l� g�y dựng cho m�nh một đức t�nh tốt đẹp, một hạnh nguyện cao si�u, chớ đ�u phải tu l� đi xin xỏ. Phật tử ch�ng ta hay xin qu�! Đi ch�a th� đi nhưng nghe chỗ n�o linh liền chạy đi cầu xin. Đ� l� th�i thường của những người chưa hiểu được � nghĩa của sự tu h�nh. Khi hiểu được � nghĩa của sự nhẫn nhục rồi th� ch�ng ta kh�ng c�n than tu h�nh sao gặp nhiều kh� khăn qu�. Vị n�o tu gặp trở ngại n�n vui mừng n�i với huynh đệ rằng: T�i thật l� đại phước, tu gặp cả mười c�i trở ngại v� đều vượt qua hết. Vậy đ�, nhờ c� trở ngại ch�ng ta mới th�nh c�ng. Nếu kh�ng c� trở ngại th� đ�u c� th�nh c�ng. Như người tập nhảy cao, l�c đầu để c�y thấp, lần lần đưa l�n cao, như vậy người cầm c�y g�y trở ngại hay gi�p cho người tập nhảy cao? Ch�ng ta tu cũng vậy. Tu l� để mỗi ng�y được thanh tịnh, mỗi ng�y được s�ng suốt. Muốn được như vậy th� tất cả trở ngại ch�ng ta đều vượt qua, xem như tr� chơi, kh�ng c� g� đ�ng để t�m. Như vậy mới th�nh c�ng, c�n sợ khổ, sợ kh�, bị trở ngại th� tu mong cho sung sướng, chớ kh�ng phải tu để được giải tho�t. Hiểu như vậy qu� Phật tử n�n suy x�t lại cho ch�n chắn, đừng buồn, đừng sợ khi ch�ng ta gặp trở ngại hay bị bạc đ�i. Ch�ng ta phải c� sức mạnh, lập ch� cho vững, quyết t�m đi đến nơi đến nơi đến chốn. Được vậy mới l� người quyết ch� tu ch�n ch�nh. Tu c�n cầu xin l� tu t� đạo. Tu ch�n ch�nh th� phải biết chuyển sửa những điểm dở, điểm xấu của m�nh th�nh hay, th�nh tốt. Đức Phật thường dạy rằng: Ta kh�ng c� quyền ban phước gi�ng họa cho ai. Nếu Phật c� quyền ban phước gi�ng họa cho người, th� chắc rằng Phật kh�ng dạy ch�ng ta phải nhẫn nhục, phải từ bi, tu nh�n quả. G�y nh�n tốt th� được quả tốt, g�y nh�n xấu th� chịu quả xấu. Nếu Phật cho được th� ch�ng ta đ�u cần g�y nh�n, cứ lạy Phật rồi Phật cho. Vậy Phật c� cứu ch�ng ta kh�ng? Phật chỉ cho ch�ng ta một con đường, ai đi đ�ng đường th� an vui, ai đi sai đường th� đau khổ. Như qu� Phật tử khi quy y tam bảo, Phật dạy phải giữ năm giới. Nếu giữ năm giới trọn vẹn th� được l�m người tốt. C�n kh�ng giữ năm giới th� sẽ đọa v�o đường �c như địa ngục v. v� Giữ năm giới l� tu, kh�ng giữ năm giới l� kh�ng tu. Phật chỉ dạy ch�ng ta tu, chớ kh�ng phải đưa ch�ng ta v�o lo�i người hay xuống địa ngục, ngạ quỷ. Con đường Phật vạch ra l� để cho ch�ng ta đi, chớ kh�ng phải Phật d�ng thần th�ng ban phước gi�ng họa cho ch�ng ta. Hiểu như vậy mới l� hiểu đạo. Hiểu rồi qu� Phật tử ứng dụng tu th� c� lợi �ch v� c�ng. Bằng ngược lại, tuy đi ch�a nhưng kh�ng được lợi �ch bao nhi�u. T�m lại, ch�ng ta tu Phật l� phải mở rộng l�ng từ bi v� đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục từ bi đ� phải từ sự tu sửa của ch�ng ta, chớ kh�ng phải ở đ�u đem đến. C�ng phu c� được ch�nh l� do sự hu�n tập h�ng ng�y m� th�nh tựu. V� vậy ch�ng ta n�n tập đức từ bi nhẫn nhục trong cuộc sống, trong từng gi�y ph�t để ch�ng ta c� đủ đạo lực khi gặp c�c chướng duy�n. Ng�y n�y, giờ n�y ch�ng ta thấy thua thiệt nhưng phước đức sẽ s�u d�y ở nhiều đời nhiều kiếp sau, kh�ng bao giờ mất. Kh�ng c� một vị Phật n�o ngẫu nhi�n m� th�nh Phật. C�c Ng�i đều do tu m� th�nh Phật, kh�ng c� vị Bồ-t�t n�o bỗng dưng th�nh Bồ-t�t. Tất cả đều qua biết bao năm th�ng tu h�nh mới được. V� vậy, l� đệ tử Phật, ch�ng ta cố gắng tu tập cho xứng với � nghĩa Phật đ� dạy. Mong tất cả ghi nhớ v� thực h�nh cho, để đạt được kết quả như sở nguyện. ]
|