HOA V� ƯU
(Tập II)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]
| NGƯỜI KH�O TU PHẬT SẼ ĐƯỢC B�NH AN HẠNH PH�C
Đề t�i ch�ng t�i n�i chuyện h�m nay l� Người kh�o tu Phật sẽ được b�nh an hạnh ph�c. Với đề t�i n�y ch�ng t�i chia ra l�m hai phần: Một, người Phật tử kh�o tu hay Tăng Ni kh�o tu Phật sẽ được b�nh an v� hạnh ph�c qua sự g�n giữ giới luật của Phật dạy. Hai, ch�ng ta tu Phật được b�nh an v� hạnh ph�c qua tr� tuệ Phật chỉ dạy. Trước hết t�i n�i về phần giới luật. C�c Phật tử khi quy y Tam bảo rồi đều nguyện giữ năm giới, tức l� năm điều răn cấm của đức Phật. V� đức Phật thấy tường tận những nguy�n nh�n g�y ra đau khổ cho con người, n�n Ng�i chỉ bảo c�c h�ng đệ tử ph�t t�m tu theo, để tr�nh quả đau khổ do mỗi người v� t�nh hay cố � tạo n�n. V� vậy Ng�i c� năm điều răn cấm. Người ta hay đặt vấn đề: Tại sao đạo Phật l� đạo gi�c ngộ, đạo tự do m� phải giữ giới luật. Đ� giữ giới luật tức l� c� sự r�ng buộc. Như vậy l� mất tự do rồi. Thật sự kh�ng phải thế, m� ch�nh nhờ giữ giới luật n�n ch�ng ta mới được tự do. T�i th� dụ, Phật tử khi ra đường, nhất l� c�c ch�u thanh ni�n cỡi xe Honda, nếu kh�ng giữ luật lệ th� sẽ t�ng v�o nhau rồi chết ch�m phải kh�ng? Như vậy, muốn tr�nh tai nạn giao th�ng người đi đường phải biết giữ luật đi đường. Nhờ thế mọi người mới kh�ng t�ng v�o nhau, kh�ng l�m khổ cho nhau. Ngược lại, nếu kh�ng c� luật lệ th� ch�ng ta sẽ g�y ra tai họa l�m khổ cho m�nh, cho người. Như vậy giữ luật đi đường l� b� buộc hay t�n trọng tự do? Nếu cho đ� l� b� buộc kh�ng muốn giữ th� người đi đường xảy ra tai nạn nhiều, n�n điều n�y ch�ng ta cần phải chi�m nghiệm lại. Cũng vậy, người tu Phật nếu kh�ng c� giới luật th� sẽ bu�ng lung ph�ng t�ng v� dẫn đến những việc l�m tr�i đạo l�, tu h�nh kh�ng tới đ�u. Phật v� l�ng từ bi muốn cho h�ng đệ tử từ tại gia cho đến xuất gia, ai ai cũng c� một khu�n khổ, một lối đi đ�ng đắn, kh�ng bị dẫm đạp l�n nhau, kh�ng bị đụng chạm lẫn nhau, v� vậy Ng�i chế ra giới luật. Giới luật l� nền tảng của đạo đức, giới luật cũng l� con đường đưa tới sự an lạc giải tho�t, nếu kh�ng c� giới luật th� kh� mong được giải tho�t. Ch�ng ta đều biết năm giới l� giới luật đầu ti�n của h�ng Phật tử tại gia: 1. Kh�ng được s�t sanh 2. Kh�ng được trộm cướp 3. Kh�ng được t� d�m 4. Kh�ng được n�i dối 5. Kh�ng được uống rượu mạnh, kh�ng h�t � phiện, x� ke, ma t�y, c�c chất say nghiện v. v� Nếu người Phật tử phạm giới s�t sanh, s�t sanh đ�y l� giết người th� kẻ ấy c� được b�nh an kh�ng? Nhất định l� kh�ng. M� kh�ng b�nh an th� cuộc đời cũng kh�ng c� hạnh ph�c. Do đ� muốn đời tu của ch�ng ta được b�nh an th� phải giữ giới kh�ng s�t sanh. Giữ giới như thế kh�ng những bản th�n ch�ng ta được b�nh an m� mọi người chung quanh cũng được b�nh an. Ngược lại cứ s�t phạt nhau th� cuộc sống sẽ hỗn độn, tang t�c. Do đ� v� sự b�nh an v� hạnh ph�c của gia đ�nh m�nh v� mọi người n�n ch�ng ta giữ giới kh�ng s�t sanh. Đ� l� giới thứ nhất. Giới thứ hai, kh�ng được trộm cướp. Một người khi đ� ăn trộm, ăn cướp của kẻ kh�c th� người đ� c� b�nh an kh�ng? Dĩ nhi�n l� kh�ng. Họ phải nghĩ, phải lo, phải sợ v� ng�y n�o đ� họ sẽ bị ph�t gi�c, rồi phải bị t� v. v� Trong l�ng người đ� l�c n�o cũng bất an. M� đ� bất an th� kh�ng c� hạnh ph�c. Người ta cứ ngỡ rằng l�m c� nhiều tiền, nhiều của l� hạnh ph�c, nhưng mấy t�n ăn trộm, ăn cướp được nhiều tiền nhiều của c� hạnh ph�c kh�ng? Hay cứ trốn chui trốn nhủi, r�y đ�y mai đ�, lẩn tr�nh c�ng an, cảnh s�t. Như vậy l�m sao b�nh an, l�m sao hạnh ph�c được. Cho n�n nếu người Phật tử phạm giới trộm cướp rồi th� sẽ bất an, kh�ng c� hạnh ph�c. Như vậy giữ giới kh�ng trộm cướp l� bảo vệ đời m�nh được b�nh an v� hạnh ph�c. Đ� l� giới thứ hai. Giới thứ ba, kh�ng được t� d�m. Nghĩa l� người Phật tử sau khi c� gia đ�nh, c� chồng vợ rồi, kh�ng được ngoại t�nh với kẻ kh�c. Nếu ngoại t�nh với kẻ kh�c l� phạm tội t� d�m. Qu� Phật tử hoặc l� chồng hoặc l� vợ đ� quy y giữ năm giới m� c�n ngoại t�nh với kẻ kh�c th� gia đ�nh c� an ổn kh�ng? Hay đ� l� nguy�n nh�n dẫn đến gia đ�nh tan n�t. Đ� l�m cho gia đ�nh tan n�t th� bản th�n người phạm giới bất an v� cả gia đ�nh cũng bất an theo. Đ� l� một nỗi khổ lớn. Như vậy người Phật tử giữ g�n giới kh�ng t� d�m th� gia đ�nh b�nh an, hạnh ph�c. Do đ� ch�ng ta thấy giữ giới kh�ng t� d�m l� bảo vệ hạnh ph�c cho gia đ�nh chớ kh�ng phải chuyện thường. Nếu x�t kỹ, ng�y nay giữ giới kh�ng t� d�m c�n tr�nh được tai họa của căn bệnh Sida nữa. Sở dĩ con người bệnh tật khổ đau l� cũng tại l�i th�i mới sanh chuyện như vậy. R� r�ng nhờ giữ giới m� ch�ng ta c� được sự b�nh an ch�n thật v� gia đ�nh cũng được hạnh ph�c an vui. Giới thứ tư l� giới kh�ng n�i dối. N�i dối ở đ�y t�i chỉ hạn cuộc trong ba nguy�n nh�n: 1 - V� tham n�n n�i dối để lừa đảo, gạt gẫm người mưu lợi cho m�nh, g�y hại cho người. 2 - V� l�ng n�ng giận, n�i để người bực tức. 3 - V� hiểm độc n�n n�i dối để vu oan, cho người phạm luật n�y, tội kia v. v� Kẻ dối gạt như vậy trong l�ng c� b�nh an kh�ng? Ch�ng ta dối gạt th� sớm chầy g� người cũng biết sự gian dối của m�nh. Tuy l� dối gạt được, lấy của người đem về cho m�nh nhưng trong l�ng ch�ng ta lu�n bất an. Đ� bất an th� l�m sao c� hạnh ph�c. V� thế người tu phải giữ kh�ng n�i dối để khỏi phải ray rứt trong l�ng, t�m được b�nh an. T�m được b�nh an th� mới vui tươi hạnh ph�c. N�n những người đi�u ngoa, xảo tr� lừa bịp thi�n hạ, tuy thấy như gi�u sang, tiền của nhiều nhưng kh�ng y�n ổn, bởi v� chưa biết ng�y n�o họ sẽ v� kh�m. Đ� l� tai họa đối với người lường gạt của cải. Người hay n�i dối c�n c� th�m một tai họa n�y nữa. Khi kẻ gian dối n�i kh�ng thật, lần đầu người ta tin nhưng sau đ� người ta biết m�nh n�i dối th� những lần sau kh�ng ai tin nữa cả. Đến khi ch�ng ta c� n�i thật người ta vẫn kh�ng tin. Như vậy ch�ng ta đ� đ�nh mất l�ng tin của người. Đ� mất l�ng tin của mọi người th� cuộc sống của ch�ng ta bị lạc l�ng như người đi trong sa mạc. Bởi v� ta n�i kh�ng ai tin hết, th�nh ra kh�ng ai th�ng cảm với ta. Cho n�n n�i dối l� tạo sự bất an ở l�ng m�nh v� mọi người. Từ đ� người xa l�nh m�nh v� m�nh trở th�nh c� độc. Đ� l� tai họa từ lời n�i dối m� ra. Thế n�n, Phật tử ch�ng ta giữ giới kh�ng n�i dối l� để bảo vệ t�m hồn của m�nh được b�nh an, cuộc sống được y�n ổn, vui tươi hạnh ph�c, chớ đ�u phải r�ng buộc. Giới thứ năm, kh�ng được uống rượu. Bởi v� người uống rượu say th� kh�ng c�n th�ng minh, tr� tuệ mờ tối, giống như người đi�n. Ch�ng ta thấy những kẻ uống rượu say đi ra đường bị mấy đứa trẻ tr�u cười. V� họ kh�ng c�n tư c�ch của một người lớn s�ng suốt, n�i bậy n�i bạ, đi kh�ng vững, l�m tr� hề cho trẻ con th� c�n gi� trị g� của một con người nữa. Hơn nữa, khi đ� say sưa rồi th� điều kh�ng n�n n�i lại n�i, điều kh�ng n�n l�m lại l�m, mất hết tư c�ch một con người. Kẻ ấy khi hết say được bạn b� nhắc lại h�nh động, ng�n ngữ s�i quấy trước th� trong l�ng bất an, hối hận. Đ� l� n�i trường hợp nhỏ, chưa xảy ra chuyện g� lớn m� đ� bị lương t�m cắn rứt rồi. Thời nay lại c� những người th�ch l�m �ng ti�n con, h�t � phiện để được dạo chơi trong cảnh phi�u di�u hư ảo. Khi c� tiền h�t th� thảnh thơi, l�c hết tiền th� khổ sở, vất vưởng. Việc l�m đ� vừa tạo khổ cho m�nh, tạo khổ cho gia đ�nh v� tạo khổ cho x� hội nữa. Ai đ� rơi v�o con đường x� ke, ma t�y rồi th� họ sống trong nỗi bất an lớn. Chẳng những bất an m� c�n tiều tụy, chết lần chết m�n nữa. Như vậy người Phật tử ph�t nguyện giữ giới kh�ng uống rượu mạnh, kh�ng uống say, kh�ng h�t � phiện, x� ke, ma t�y, ch�nh l� tự bảo vệ cho m�nh được b�nh an, cho gia đ�nh được hạnh ph�c. Năm giới t�i vừa kể qua l� giới của Phật tử tại gia. Phật v� thương x�t ch�ng ta, muốn đệ tử của Ng�i được b�nh an, hạnh ph�c n�n chế giới, chớ kh�ng chế giới để ch�ng ta bị hạn cuộc trong khu�n khổ v� mất tự do. Thế n�n Phật tử phải hiểu r� giữ giới l� để được an l�nh thảnh thơi. Đ� l� mục đ�ch ch�nh của Phật. Do đ� giữ năm giới l� bước đầu để Phật tử tiến l�n. Th�m một bước nữa, người Phật tử khi đ� giữ năm giới trong sạch rồi, muốn tiến l�n th� phải giữ th�m mười giới, tức l� thập thiện. Thập thiện l� mười điều l�nh, gi�p người Phật tử được an vui hơn, tự tại hơn trong đời n�y v� đời sau. Mười điều l�nh đ� gồm: Th�n c� ba điều: 1. Kh�ng s�t sanh 2. Kh�ng trộm cướp 3. Kh�ng t� d�m Miệng c� bốn điều: 1. Kh�ng n�i dối 2. Kh�ng n�i hai lưỡi (c� thể d�ng từ b�y giờ l� kh�ng n�i ly gi�n) 3. Kh�ng n�i lời hung �c 4. Kh�ng n�i lời th�u dệt � c� ba điều: 1. Bớt tham 2. Bớt s�n 3. Bớt si (c� chỗ n�i bớt t� kiến) T�i n�i bớt th�i chớ chưa sạch nổi. Đ� l� mười giới của h�ng cư sĩ. Sau khi tu năm giới thấy được b�nh an, hạnh ph�c th� phải tu tiến l�n thập thiện, giữ mười giới. C�c giới về th�n, miệng, qu� Phật tử đ� tạm hiểu rồi. Ở đ�y t�i n�i về �: Bớt tham, bớt s�n, bớt si. Ch�ng ta thử kiểm lại xem, một ngư�i tham lam l�m c�i g� cũng muốn được lợi nhiều hơn thi�n hạ. Như vậy l�ng người đ� c� b�nh an kh�ng? Bởi muốn hơn, muốn nhiều n�n phải t�nh to�n nhiều. M� t�nh to�n nhiều th� lao lực bất an. Đ� l� cảnh thuận, nếu gặp nghịch duy�n v� tham lợi nhiều nhưng bị thất bại th� c�ng bất an hơn. Đ� l� những người lương thiện, ham m� chuyện l�m ăn. C�n kẻ tham lam gian lận th� đ� hiện r� cho ch�ng ta thấy qua mấy vụ �n gần đ�y của c�c nh� gi�m đốc ở th�nh phố đ�. L�m gi�m đốc, nh� lầu xe hơi b�ng lộn nhưng rồi kết th�c bị ngồi t�, kh�ng biết vợ con sẽ ra sao! Như vậy, do l�ng tham qu� đ�ng n�n đưa đến kết quả khổ cũng qu� nhiều. Thế n�n đệ tử Phật phải hạn chế bớt l�ng tham. Trong nh� Phật lu�n nhắc đến c�u: "Người biết tu h�nh phải biết thiểu dục tri t�c". Nghĩa l� �t muốn v� biết đủ. Trong kinh n�i r�: "Tri t�c chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, vi du an lạc. Bất tri t�c chi nhơn, tuy xử thi�n đường diệc bất xứng �". Nghĩa l� người biết tri t�c d� nằm tr�n b�i cỏ cũng vẫn thấy vui vẻ. C�n người kh�ng biết tri t�c d� được l�n thi�n đường ở với trời Đế Th�ch cũng vẫn kh�ng vừa �. R� r�ng Phật dạy ch�ng ta sống thiểu dục tri t�c, bởi v� ch�ng sinh ở thế gian lu�n lu�n bị th�n năm ấm x�i giục đ�i hỏi đủ thứ. Như c�i lưỡi ch�ng ta cứ ăn rau muống luộc chấm nước tương ho�i th� ch�n lắm, n�n l�u l�u phải c� đậu hủ mới được. Đ� l� trong ch�a, c�n qu� Phật tử ở ngo�i đời cứ ăn c� kho quẹt ho�i, chịu kh�ng? Phải c� c� chi�n n�y nọ nữa. Như vậy khi c�i lưỡi đ�i hỏi, ch�ng ta chiều n� th� được c�i n�y n� đ�i c�i kh�c, cứ đ�i th�m ho�i kh�ng c�ng. Lỗ mũi cũng vậy, th�ch những m�i thơm. Nhưng một m�i thơm ngửi ho�i cũng ch�n, muốn t�m m�i thơm kh�c. Do đ� người ta chế đủ thứ nước hoa m� c� thỏa l�ng thi�n hạ đ�u. Bởi l�ng tham kh�ng c� đ�y. Đến con mắt, ưa th�ch những thứ đẹp. Đẹp nhiều thứ, đẹp của đồ đạc vật dụng hoặc l� sắc đẹp của con người. Nếu chiều n� th� sao? Đồ đạc sắm đầy nh� cũng chưa vừa �. Bởi v� thế gian đ�u c� dừng, c�i n�y qua rồi liền chế c�i kh�c đẹp hơn, th� chừng n�o ch�ng ta mới thỏa m�n sự đ�i hỏi của con mắt. Như vậy r� r�ng mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n đ�i hỏi đủ thứ chuyện, nếu ch�ng ta chiều n� ho�i th� chừng n�o mới chịu dừng? Suốt đời cũng kh�ng c� ng�y dừng. Thế n�n muốn được b�nh an ch�ng ta phải hạn chế bằng c�ch tiết dục hay thiểu dục. Phật dạy ch�ng ta thiểu dục tri t�c để qu�n b�nh tạm đủ cho cuộc sống, kh�ng đ�i hỏi qu� đ�ng. Ch�nh sự đ�i hỏi qu� đ�ng đ� đưa đến bất an. Giả sử c� người con mắt th�ch vật g� liền được, lỗ tai th�ch tiếng hay liền được, rồi mũi, lưỡi, th�n th�ch g� được nấy th� người đ� c� sống được bảy, t�m mươi tuổi kh�ng? T�i đọc sử thấy vua ch�a hồi xưa t�m một người sống được năm mươi tuổi cũng kh�, đừng n�i tới bảy, t�m mươi tuổi. Tại thụ hưởng nhiều thứ qu�, m� c�ng nhiều vật chất th� c�ng sanh bệnh. Cụ thể như thời đại của ch�ng ta ng�y nay, ai th�ch ăn ngon, ăn nhiều th� bị huyết �p cao hoặc l� tiểu đường v. v� Như vậy rốt cuộc hưởng thụ nhiều chỉ đưa tới kết quả kh�ng tốt th�i. Cho n�n sống c�ng đơn giản c�ng tốt. Khi t�i ra Bắc, gặp c�c cụ gi� ngo�i ấy, c� cụ đ� hơn bảy mươi tuổi m� leo n�i Y�n Tử như bay. Trong khi c�c vị miền Nam leo n�i, người n�o người nấy thở h�o hển, c� khi kh�ng nổi nữa, phải nhờ người kh�c b� phụ mới l�n được. Như vậy r� r�ng được ưu đ�i nhiều thức ăn ngon sẽ đưa đến hậu quả th�n b�o ph�, nặng nề, nhiều bệnh hoạn. C�n phần nhiều c�c cụ ngo�i Bắc ở qu� sống rất đạm bạc, n�n người mảnh khảnh nhẹ nh�ng, rất khỏe v� dẻo dai. Ch�ng ta thử tưởng tượng một cụ gi� bảy, t�m mươi tuổi m� nặng t�m, ch�n chục k� sẽ khổ như thế n�o. Chẳng những khổ cho bản th�n m�nh m� c�n khổ l�y cho những người chung quanh nữa. Với một trọng lượng như vậy m� ng� bệnh th� kh�ng ai đỡ nổi. Thật l� khổ. Như vậy, kh�ng phải được hưởng thụ, được thỏa m�n nhiều l� tốt m� ch�ng ta phải biết điều h�a, biết tiết dục th� cuộc sống mới an l�nh. Cho n�n đối với ngũ dục, c�ng tham c�ng khổ, c�ng nhiều phiền h�. Người n�o �t tham tức l� thiểu dục th� người đ� nhẹ nh�ng, khỏe khoắn b�nh an. Đ� l� hạnh ph�c. Đến phần s�n, tức l� n�ng giận. Một khi cơn n�ng giận nổi l�n rồi th� sau đ� phải ăn năn hối hận. Phật tử ở gia đ�nh hay ra đường gặp việc g� tr�i � nổi s�n l�n, rồi c�i v� đ�nh đập nhau. Như vậy c� b�nh an kh�ng hay l� bất an? Ở gia đ�nh c�i v� đ�nh đập nhau bất an, ra đường c�i v� đ�nh đập nhau cũng bất an. Như vậy người n�o s�n nhiều th� bất an nhiều, c�ng mất hạnh ph�c, c�ng bất hạnh. Giới tu sĩ cũng vậy, trong kinh Phật dạy: "Người tu m� c�n n�ng giận th� chẳng kh�c n�o bầu trời xanh c� sấm chớp". Người thế gian v� tham lam ngũ dục, nếu tham lam được th� họ tham th�m, tham lam kh�ng được th� nổi s�n. C�n người xuất gia đ� ch�n ch� ngũ dục v�o ch�a tu th� đ�u c�n l�ng tham lam. Như vậy tại sao lại nổi s�n? Kh�ng c� l� do g� m� nổi s�n th� cũng giống như trời trong m� nổi sấm chớp vậy. Đ� l� hiện tượng bất thường, v� vậy người tu kh�ng c� quyền s�n. Tham lam dụ như m�y đen, m�y đen n�n c� sấm chớp. Thế gian c� tham lam v� như trời c� m�y đen, tham kh�ng được nổi s�n l�n th� c� sấm chớp. Người tu kh�ng c�n tham lam ngũ dục tức kh�ng c� m�y đen m� lại hiện sấm chớp, kh�ng phải hiện tượng bất thường l� g�? N�n người tu c�ng phải d� dặt. T�i c� nghe người ta d�ng danh từ "thầy ch�a lửa" để chỉ những vị Tăng n�ng nảy, hay s�n giận. Thầy ch�a lửa v� động tới liền la o�c o�c. Người tu m� để cho thi�n hạ gọi như vậy c� tốt kh�ng, c� thể dạy đệ tử được kh�ng? Nếu đệ tử nổi s�n m� m�nh l� lửa th� l�m sao dạy cho n� nguội được. V� vậy mấy huynh đệ c�n trẻ r�ng tu, giữ g�n đừng để s�n hận nổi l�n. Đ� l� một hiện tượng bất thường của giới tu sĩ ch�ng ta vậy. D� Phật tử tại gia hay xuất gia phải giảm s�n hận, kh�ng cho n� tăng trưởng. Tu như vậy mới đi tới chỗ an l�nh tự tại. Trong nh� Phật c� c�u "Tăng hận bất c�ch t�c", nghĩa l� Tăng giận kh�ng qu� một đ�m. Ch�ng ta c� giận nhưng giận �t th�i, phải mau hết. Người thế gian giận từ cha tới con. V� cha giận n�n x�i con giận theo để b�o th�. C�n người tu c� g� tr�i � lắm chỉ giận một ch�t th�i, ngủ qua đ�m s�ng dậy liền hết. Theo t�i giận một đ�m cũng qu� rồi, đừng giận c�ng hay. T�i nhắc lại một lần nữa, ch�ng ta tu c�ng hạn chế sự n�ng giận trong nội t�m th� c�ng hay, c�ng tốt. C�ng hạn chế n� tức l� c�ng bảo vệ cho m�nh được b�nh an, hạnh ph�c. Ngược lại, kh�ng hạn chế s�n hận th� tạo nh�n đau khổ cho m�nh, cho mọi người. Đ� l� điều thứ hai. Thứ ba l� si m�, trong Thập thiện n�i kh�ng t� kiến. T� kiến tức l� một nh�n của si m�, v� dạy cho Phật tử n�n n�i kh�ng t� kiến. Đối với h�ng xuất gia l� bớt si. Si l� g�? Si l� m� muội. M� muội đ� nguy hiểm như thế n�o? L�u nay ch�ng ta quen đọc theo chữ H�n l� tham, s�n, si. Với c�i nh�n của t�i th� phải đảo ngược lại l� si, tham, s�n. Người c� học đạo l� sẽ thấy điều n�y rất r�. V� như th�n n�y duy�n hợp hư giả, v� thường tạm bợ, nhưng ch�ng ta cứ ngỡ th�n m�nh l� thật. Nghĩ như vậy tức l� si! Si tức l� ngu, nhưng c� ai n�i anh hay chị ngu liền nổi giận. R� r�ng ch�ng ta kh�ng thấy đ�ng lẽ thật, ngu m� ch�ng ta kh�ng chịu ngu. Đ� l� si lại th�m si. Người thế gian si m� thật đ�ng thương. Cha mẹ tắt thở, ra tiệm mua c�i h�m nhưng c� ai hỏi anh hay chị đi đ�u đ� th� đ�p t�i đi nhắc c�i thọ cho ba t�i hay mẹ t�i. Thọ l� sao? Thọ l� sống dai. Đ� tắt thở đi mua h�m m� lại n�i sống dai. Để thấy ch�ng ta ngu tới cỡ n�o, thật l� si m� đ�o để! Th�m một điều tệ nữa. Cha mẹ chết liền đến thầy đồ coi ng�y, coi giờ. Họ n�i �ng b� đi nhằm ng�y tr�ng, bảo con ch�u phải ho�n lại năm bảy ng�y, đừng ch�n, gặp ng�y tr�ng sợ trong nh� c� người chết theo. Điều n�y t�i phản đối kịch liệt. Tại sao cha mẹ khi c�n khỏe mạnh, đi đ�u con c�i cũng đ�i đi theo. Nhưng khi cha mẹ chết, cả gia đ�nh mấy chục người m� nghe n�i nhằm ng�y tr�ng c� thể c� người chết theo, liền kh�ng chịu ch�n. Th�m một việc t�n nhẫn nữa l� xin thầy d�n b�a ch�, cấm cha mẹ kh�ng được về nh�, sợ về sẽ dẫn th�m người. Nếu thần thức cha mẹ c�n lang thang, quanh quẩn đ�u đ� sẽ buồn tức biết mấy. Con c�i g� m� bất hiếu lạ! Cha mẹ chết l� tại hết duy�n n�n phải đi, đ�u phải tại ng�y giờ m� con c�i cấm kh�ng cho về. Ch�ng ta thấy c� t�n nhẫn qu� kh�ng? Ch�nh v� si m� đ� m� con người đối xử với nhau qu� t�n nhẫn, kh�ng ch�t thương x�t. Đ� yếm b�a ch� kh�ng cho về, rồi ba ng�y sau mở cửa mả. Mở cửa mả đi đ�u? Thật l� �ch kỷ. Từ si m� sanh ra �ch kỷ, t�n nhẫn đủ cả. Việc n�y ri�ng đối với t�i đ� thử nghiệm qua rồi. Bởi v� thầy ch�ng t�i l� H�a thượng Viện trưởng mất ng�y 20 th�ng Chạp v� Gi�o hội định ng�y 25 th�ng Chạp th� thi�u. L�c đ� c� một �ng thầy coi ng�y n�i 25 th�ng Chạp l� ng�y tr�ng. Nếu thi�u H�a thượng th� một l� anh em trong gia đ�nh phải chết, hai l� đệ tử phải chết. Nghe vậy Gi�o hội l�ng t�ng kh�ng biết giải quyết thế n�o, liền gọi t�i l�n v� t�i l� trưởng tử. Qu� Ng�i kể lại sự việc v� hỏi t�i: "B�y giờ Thanh Từ nghĩ sao? ". T�i thưa: - Xin ph�p qu� H�a thượng cho con đi thỉnh � Sư b�c v� Sư c� của con xem sao. T�i xuống gặp H�a thượng trụ tr� ch�a Phật Quang l� anh ruột của Thầy t�i v� thưa: - Bạch thầy! Ng�y mai thi�u Thầy con nhằm ng�y tr�ng. Thầy coi ng�y bảo c� thể trong gia quyến c� người bị chết. Thưa thầy, vậy Thầy c� sợ chết kh�ng? Ng�i n�i rằng: - T�i muốn chết thế cho Thầy �ng đ� m� chết kh�ng được, tại sao t�i lại sợ chết. T�i y�n l�ng t�m tới Sư b� Bảo An l� chị của Thầy t�i v� thưa: - Thưa Sư b�! Ng�y mai l� ng�y tr�ng, nếu thi�u Thầy con th� trong gia quyến c� người chết hoặc đệ tử phải chết, vậy Sư b� c� sợ chết kh�ng? Sư b� n�i: - T�i gi� rồi, kh�ng sợ chết g� hết, chừng n�o chết cũng được. T�i rất mừng. Như vậy Sư b�, H�a thượng Phật Quang l� hai vị chị em ruột trong th�n quyến kh�ng sợ chết, c�n t�i l� đệ tử lớn cũng kh�ng sợ chết. Do đ� t�i quyết định tr�nh với Gi�o hội ng�y 25 th�ng Chạp thi�u. Vậy m� c� thấy ai chết đ�u. Ch�ng ta v� si m� cố chấp, sợ chết m� c� ai khỏi chết đ�u. Tất cả qu� vị c� mặt đ�y, người n�o kh�ng chết? Ai cũng chết hết th� sợ c�i g�. Đ�u phải việc chỉ ri�ng m�nh chịu, ai cũng phải tới. Việc đến th� cứ cười m� đi, c� g� đ�u phải sợ. Bởi v� đ� l� con đường tất yếu ai cũng phải qua cả. N�n t�i n�i nếu người th�n của m�nh chết nhằm ng�y tr�ng th� ch�ng ta n�n mừng khi được ch�n ng�y đ�. Nhờ thế m� gia đ�nh được sum họp, cha đi rồi mẹ đi, con c�i cũng đi theo hết, như vậy c�ng vui chớ sao. C�n để một người đi bơ vơ, bao nhi�u người ở lại cứ kh�c, c� vui g�! Như vậy ng�y tr�ng c�ng tốt, kh�ng c� g� xấu hết. Người gan một ch�t sẽ n�i thế. Sợ chết l� si m� v� ai cũng phải chết th� sợ l�m chi. Nếu ch�ng ta thấy được lẽ thật, ch�ng ta kh�ng bị những si m� �m ảnh l�m những điều kh�ng đ�ng lẽ thật, cư xử với nhau kh�ng c�n t�nh nghĩa nữa. Đ� l� t�i n�i về si m�. Người tu cần phải d� dặt hạn chế cho � bớt tham, bớt s�n, bớt si. B�y giờ trở lại việc người giữ năm giới trong sạch, khi chết sẽ về đ�u. Về điểm n�y Phật gi�o c� chia ngũ thừa: 1. Nh�n thừa 2. Thi�n thừa 3. Thanh văn thừa 4. Duy�n gi�c thừa 5. Bồ-t�t thừa Nếu giữ tr�n năm giới l� tu Nh�n thừa. Do tu Nh�n thừa n�n đời n�y l�m người, đời sau chết trở lại l�m người tốt hơn nữa. Như vậy kh�ng c� g� sợ sệt. Chiếc xe cũ hư, ch�ng ta bỏ sắm chiếc xe mới tốt hơn. L�c sống b�nh an, khi ra đi cũng b�nh an. Đ� l� điều qu� b�u của sự tu. Nếu tiến hơn nữa Phật tử tu thập thiện, giữ th�n, miệng, � thanh tịnh như đ� n�i. Th�n kh�ng l�m ba việc �c, miệng kh�ng n�i lời xấu, � bớt tham s�n si, người đ� chết sẽ sanh về c�i trời Lục dục thi�n, cao hơn c�i người một bậc. Như vậy người tu giữ giới của Phật, khi sống được b�nh an hạnh ph�c, l�c chết hoặc trở lại l�m người tốt hơn hoặc sanh l�n c�i trời rất vui sướng. Thế c� phải l� ch�ng ta tạo dựng hạnh ph�c cho m�nh trong đời n�y v� cả đời sau nữa kh�ng? Vậy m� kh�ng chịu tu th� kh�ng biết n�i sao. Tu để được hạnh ph�c trong đời n�y v� tiếp những đời sau. Đ� l� ch�ng ta kh�n ngoan thấy xa, l�m được lợi �ch cho m�nh, cho người. C�n tu m� chẳng biết ra sao ở ng�y mai th� kh�ng phải l� người s�ng suốt. Đ� l� t�i n�i giới luật gi�p cho con người được b�nh an hạnh ph�c trong hiện đời v� mai sau. Đến phần thứ hai l� tr� tuệ gi�p cho b�nh an hạnh ph�c. Đạo Phật chủ trương tu l� phải mở con mắt tr� tuệ. V� con mắt tr� tuệ s�ng th� đau khổ mới dừng. Nếu mắt tr� tuệ kh�ng s�ng th� ch�ng ta kh� diệt hết mầm đau khổ. Ch�ng ta lu�n ảo tưởng rằng m�nh l� người kh�n ngoan, s�ng suốt, th�ng hiểu tất cả. V� ảo tưởng như thế n�n khi bị người ta n�i anh hay chị ngu th� nổi n�ng l�n liền. Từ đ� rồi sanh sự c�i v� đủ thứ chuyện. Như vậy ch�ng ta thật kh�n hay ngu. Lẽ ra khi nghe n�i anh hay chị ngu, Phật tử ch�ng ta phải trả lời rằng: "Thưa v�ng, t�i rất l� ngu. Bởi v� tr�n nh�n gian n�y mu�n ng�n việc m� t�i chỉ biết c� ch�t �t th�i, l�m sao d�m nhận m�nh kh�n được". Người xưa n�i c�ng học c�ng thấy dốt. C�ng học lẽ ra c�ng th�ng minh sao lại c�ng thấy dốt? V� tr�n thế gian c� mu�n ng�n ức việc nhưng ch�ng ta chỉ biết một phần nhỏ x�u. Như vậy kh�ng dốt l� g�? Biết m�nh ngu v� nhận m�nh ngu th� c� ai giận đ�u. Đằng n�y ngu m� kh�ng chịu ngu, cứ tưởng m�nh kh�n th� c� thật kh�n kh�ng? V� như người giỏi về Anh văn nhưng c�c sinh ngữ kh�c như Trung Hoa hay Nhật Bản v. v� th� kh�ng biết. Như vậy người ấy cũng chỉ kh�n một phần nhỏ th�i, đ�u phải l� thật kh�n. Biết chỉ một phần trong mu�n triệu phần, l�m sao gọi l� kh�n được. Do đ� ai muốn d�nh kh�n l� đ� ngu rồi. C�n người ngu m� biết m�nh ngu th� chưa phải thật ngu. M�nh ngu biết m�nh ngu l� biết bằng tr� tuệ, thấy đ�ng lẽ thật chớ kh�ng phải tưởng tượng. C�n kẻ ngu m� nghĩ m�nh kh�n l� tưởng tượng chớ kh�ng phải lẽ thật. Như c� người n�i ch�ng ta l� con b� hay con g�, con vịt đều đ�ng cả, kh�ng c� g� nhục. Bởi v� tất cả những thứ đ� đều c� trong qu� vị hết. Như qu� Thầy, qu� c� tu, nếu c� người n�i thầy l� cọng cỏ. "Thưa phải, v� t�i ăn rau". C� g� đ�u m� nhục. Lời lẽ thế gian cho rằng n�i như vậy l� l�m m�nh nhục, nhưng biết được lẽ thật th� kh�ng c� g� nhục cả. Như t�i ở Đ� Lạt, tr�n rừng th�ng, nếu ai n�i rằng thầy l� c�y th�ng. T�i gật đầu ngay: "Phải, t�i l� c�y th�ng. V� ban đ�m rừng th�ng nhả oxy ra, t�i h�t v� n�n t�i c� dự phần trong đ� rồi". Về điểm n�y với cặp mắt khoa học, người ta thấy m�nh với m�i trường sống kh�ng t�ch rời nhau m� c�n li�n hệ chặt chẽ với nhau nữa l� kh�c. Do đ� ch�ng ta phải d�ng tr� tuệ để thấy r�, đừng mang ảo tưởng sai lầm. Ảo tưởng sai lầm l� si m�, d�ng tr� tuệ soi tỏ si m�. Hết si m� th� hết đau khổ. Thế th�i, kh�ng c� g� quan trọng cả. Lẽ thực trong cuộc sống l� vậy. Sở dĩ ch�ng ta cho người n�y sang, kẻ kia h�n l� v� kiến chấp. Thấy người ăn mặc đẹp, ở nh� cao th� cho l� sang, người ăn mặc xấu, ở nh� thấp th� cho l� h�n. Đ� l� tưởng tượng chớ kh�ng c� sự thật. Chỉ những người m� muội đ�ng thương l� người h�n, c�n người c� tr� tuệ s�ng suốt l� người đ�ng qu�. Như vậy qu� hay h�n t�y theo tr� tuệ. H�nh d�ng b�n ngo�i kh�ng thể đ�nh gi� được lẽ thật. Lẽ thật phải được thể hiện b�n trong con người c� tr� tuệ. Ch�ng ta hiểu đạo l� rồi th� thấy th�n n�y Phật dạy l� c�i đ�y da h�i thối, n�n ai ch� m�nh h�i thối th� ch�ng ta cũng vẫn vui v� họ n�i đ�ng. "Dạ c� như thật". N�n người thấy đ�ng lẽ thật l� người lu�n b�nh an. Sở dĩ ch�ng sanh đau khổ l� v� sống trong ảo tưởng, trong si m�. Họ cứ đ�i hỏi, khen ch�, muốn được c�i n�y, c�i nọ n�n rồi khổ, v� vậy m� bất an. T�m lại muốn được b�nh an hạnh ph�c th� ch�ng ta phải kh�o tu Phật bằng hai c�ch, giữ giới ch�ng ta đ� thọ v� mở s�ng con mắt tr� tuệ, thấy đ�ng như thật. Ngược lại l� bất hạnh. V� ch�ng ta kh�ng kh�o tu n�n đến với đạo m� than khổ đủ thứ. Nếu Phật tử tu đ�ng ph�p th� ở trong đạo c�ng l�u c�ng an lạc, c�ng hạnh ph�c, chớ kh�ng c� buồn khổ. Mong tất cả Phật tử cũng như Tăng Ni qua những g� t�i tr�nh b�y, qu� vị chi�m nghiệm cho kỹ. Nếu thấy đ�ng th� cố gắng thực h�nh v� sống cho được như vậy th� chắc chắn qu� vị sẽ được b�nh an hạnh ph�c. ]
|