Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập II)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]


PHẬT PH�P

TRỊ TẬN GỐC T�M BỆNH

Thiền viện Tr�c L�m - 2000

 

Lần n�y cũng như c�c lần trước, đo�n b�c sĩ l�n thăm bệnh cho Tăng Ni của Thiền viện, sau đ� c� xin t�i một thời ph�p ngắn, năm nay cũng như vậy. Kỳ trước t�i n�i phương thuốc trị từng t�m bệnh của con người, kỳ n�y t�i n�i phương thuốc trị tận gốc rễ của t�m bệnh.

Như trước t�i đ� n�i, nếu người tham tiền của th� d�ng thuốc bố th� trị; tham sắc đẹp th� d�ng thuốc qu�n bất tịnh trị v. v� H�m nay trị tận gốc rễ của t�m bệnh m� chỉ d�ng một thang thuốc th�i. Như vậy thang thuốc n�y hơi kh�, v� từng thứ thuốc trị từng thứ bệnh th� ch�ng ta dễ nhận, dễ hiểu, dễ ứng dụng. C�n chỉ một phương thuốc m� trị tất cả bệnh n�n kh� sử dụng. Phương thuốc n�y như thế n�o?

Qu� vị nghe ch�m ng�n của Thiền t�ng:

Bất lập văn tự,

Gi�o ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nh�n t�m,

Kiến t�nh th�nh Phật.

Ch�m ng�n đ� n� ảnh hưởng tới phương thuốc n�y rất s�u đậm. Trước khi n�i đến thuốc, t�i chỉ cho qu� vị thấy gốc bệnh ph�t sinh từ đ�u. Như tham s�n si th� c� thuốc trị tham s�n si. Nhưng tham s�n si ph�t nguồn từ đ�u? Tham s�n si từ t�m niệm dấy khởi.

Th� dụ như thấy một đ�a hoa, nếu ta chỉ thấy đ�a hoa kh�ng th�i, th� c� tham kh�ng? Kh�ng. Đằng n�y thấy đ�a hoa rồi khởi niệm "Hoa n�y đẹp hay xấu. " Nếu đẹp th� ch�ng ta muốn h�i về chưng, hoặc bẻ cầm tay chơi. Muốn h�i về chưng hoặc bẻ cầm tay chơi, m� ai ngăn kh�ng cho th� giận. Do thấy đẹp dấy l�ng tham. Dấy l�ng tham kh�ng được th� nổi s�n. Như vậy tham, s�n ph�t nguồn từ ph�n biệt đẹp xấu. N�n � thức ph�n biệt đẹp xấu l� nh�n đưa tới bệnh tham, s�n.

Như vậy muốn trị tất cả tham s�n si, phải trị từ đ�u? Từ t�m ph�n biệt. Thấy hoa chỉ thấy hoa, đừng khởi ph�n biệt đẹp xấu. Kh�ng ph�n biệt đẹp xấu th� kh�ng c� tham, s�n. Kh�ng tham, s�n l� kh�ng tạo nghiệp. V� tham, s�n l� nghiệp sanh tử, nếu hết tham, s�n th� nghiệp sanh tử kh�ng c�n. Đ� l� n�i một th� dụ nhỏ. Ngo�i ra tất cả c�c thứ kh�c cũng vậy.

Cho n�n trị bệnh tham, s�n l� trị ngọn chứ kh�ng phải gốc. Khởi t�m ph�n biệt mới l� gốc đưa tới tham, s�n. B�y giờ muốn trị gốc bệnh đ�, ch�ng ta phải trị bằng c�ch n�o? Đ� l� chỗ l�u nay tất cả người tu ch�ng ta �t lưu t�m. Chỉ thấy tham khổ, s�n khổ n�n lo dẹp tham, s�n v. v� m� chưa phăng t�m tại sao c� tham, s�n.

L�u nay ch�ng ta c� một lầm lẫn lớn, cho c�i ph�n biệt so s�nh l� t�m m�nh. Nếu người kh�ng khởi ph�n biệt so s�nh th� bảo người đ� ngu dốt. Nhưng sự thật kh�ng phải vậy. Bởi v� ph�n biệt, so s�nh mang t�nh c�ch đối chiếu. Th� dụ ch�ng ta ph�n biệt người n�y đẹp th� tất nhi�n phải l�i h�nh ảnh của người xấu ra đối chiếu. Ph�n biệt hoa n�y xấu th� phải l�i h�nh ảnh hoa kia đẹp để đối chiếu. Ch�ng ta sống với t�m ph�n biệt trong hiện tại, lại c�n đeo mang những h�nh b�ng của qu� khứ để đối chiếu, v� ước mơ tr�ng đợi v�o vị lai. G�n giữ b�ng d�ng qu� khứ đem đối chiếu với hiện tại, rồi mơ ước vị lai.

Như vậy t�m m�nh đang sống trong ba thời: qu� khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng ba thời đ� c� thật kh�ng? Qu� khứ đ� qua mất rồi, vị lai th� chưa đến, hiện tại th� lu�n tr�i chảy kh�ng dừng. Cho n�n cả ba thời đều kh�ng c� thật. T�m �m ấp những h�nh ảnh đối chiếu theo ba thời kh�ng thật th� t�m đ� c� thật kh�ng? H�nh ảnh n� chứa đ� kh�ng thật v� đ� chỉ l� b�ng, rồi thời gian đối chiếu cũng kh�ng thật, th� bản chất của t�m đ� l�m sao được.

Đ� kh�ng thật m� m�nh suy nghĩ n�i việc n�y phải, ai đ� n�i quấy, m�nh nổi s�n liền. Bởi chấp suy nghĩ l� m�nh, cho n�n khi bị phản đối ch�ng ta c� phản ứng ngay. Điều n�y ch�ng ta cần phải x�t n�t thật kỹ, để c� một phương ph�p biết bệnh, rồi mới nghi�n cứu tới thuốc. Biết thuốc biết bệnh th� trị mới l�nh.

Như ch�ng ta đ� biết bệnh tham, s�n, si từ niệm ph�n biệt, so s�nh m� ra. B�y giờ muốn dứt tận gốc tham, s�n, si th� phải dứt c�c niệm ph�n biệt so s�nh. Ch�ng ta ngồi thiền để l�m g�? Để dừng niệm ph�n biệt so s�nh đ�. Bởi v� niệm ph�n biệt suy nghĩ kh�ng phải l� m�nh. Nếu suy nghĩ l� thật m�nh th� m�nh l� trăm thứ ng�n thứ sao? T�m niệm suy nghĩ thay đổi như chong ch�ng, chợt c� chợt mất. C� những người trước kia m�nh kh�ng ưa, nhưng sau n�y họ thay đổi, m�nh thấy dễ thương. Hoặc những người hồi xưa m�nh qu�, nhưng b�y giờ họ thay đổi, m�nh thấy dễ gh�t. Như vậy thương, gh�t c� thật l� chưa? Nếu thật th� trước sau như một. Đằng n�y n� đổi thay lu�n th� l�m sao thật m�nh được? Qu� vị thấy, c� khi trong một ng�y, l�t th� m�nh giận, l�t th� m�nh thương, đổi thay bất thường. Trong những c�i đổi thay đ�, c�i n�o l� m�nh? Thương l� m�nh hay gh�t l� m�nh? Giận l� m�nh hay vui l� m�nh? Kh�ng c� c�i thật m�nh, bởi v� tất cả đều l� b�ng d�ng đổi thay t�y duy�n, t�y cảnh.

Cho n�n l�u nay ch�ng ta sống trong sự lầm lẫn hết sức lớn lao. Sự lầm lẫn lớn lao đ� ch�nh l� v� minh. Từ v� minh sanh ra tham, s�n, si đủ thứ hết. Đ� l� do chấp t�m ph�n biệt suy nghĩ l� m�nh n�n th�nh bệnh. Muốn trị bệnh n�y phải d�ng thuốc n�o? Thay v� n�i thuốc, ở đ�y t�i dẫn c�u chuyện ng�i Thần Quang đến học với Tổ Đạt Ma.

Khi Tổ đ� nhận ng�i Thần Quang l�m đồ đệ, cho theo học đạo, một h�m ng�i Thần Quang bạch Tổ: "Bạch H�a thượng, t�m con kh�ng an, xin H�a thượng dạy cho ph�p an t�m". T�m kh�ng an l� t�m n�o? L� t�m nghĩ tốt, nghĩ xấu, nghĩ phải, nghĩ quấy� tất cả c�c thứ lăng xăng tạp loạn. Bởi nhớ nghĩ lăng xăng n�n khi ngồi lại thấy kh�ng an. V� n� dẫn m�nh chạy đủ nơi đủ chốn. Chạy như vậy gọi l� bất an. N�n ng�i Thần Quang nghĩ phải c� một ph�p g� chận đứng cho n� an lại.

Tổ Đạt Ma bảo: "Đem t�m ra ta an cho! " T�m ở đ�u m� đem? Khi nghe hỏi c�u n�i đ�, ng�i Thần Quang soi lại, t�m xem t�m m�nh ở đ�u. T�m một hồi thấy mất tăm mất dạng. Ng�i thưa: "Con t�m t�m kh�ng được". Tổ Đạt Ma bảo: "Ta đ� an t�m cho ngươi rồi". Ngay đ� ng�i Thần Quang đại ngộ, biết được ph�p tu.

Ph�p đ� l� ph�p g�? Điểm kỳ đặc ch�nh l� kh�ng c� một ph�p. Th� dụ t�i n�i bệnh tham d�ng ph�p bố th� để trị. bệnh s�n d�ng ph�p nhẫn nhục để trị v. v� C�n t�m bất an n�y, d�ng ph�p g�? Chỉ quay lại t�m xem c�i bất an đ� ra sao, n� ở đ�u? T�m lại th� n� mất. R� r�ng n� hư dối. M�nh tưởng t�m m�nh thật, nhưng khi quay lại t�m th� n� mất ti�u. Nếu thật th� t�m lại phải thấy. Nhưng khi t�m lại mất tăm mất dạng, th� l�m sao n�i n� thật được.

N�n biết chấp t�m l� hư dối, l� vọng tưởng. Đ� l� vọng tưởng th� kh�ng phải thật. L�u nay ch�ng ta ngỡ n� thật. Từ ngỡ n� thật n�n chấp th�nh ra c� tham, s�n, si. B�y giờ biết n� kh�ng thật, th� n� tự tan biến. Ng�y xưa n� kh�ng thật m�nh ngỡ n� thật, đ� l� si m�. B�y giờ n� kh�ng thật biết n� kh�ng thật th� đ�u c�n si m� nữa.

Phản quan nh�n lại t�m kh�ng thật đ�, thấy r� n� hư dối, đ� l� ch�ng ta tỉnh, ch�ng ta gi�c. Tỉnh gi�c m� kh�ng cần d�ng một ph�p n�o cả, n�n n�i kh�ng c� ph�p đối trị. Chỉ cần nh�n lại t�m lăng xăng đ�, biết n� l� vọng tưởng kh�ng thật, kh�ng theo n�, th� n� đ�u c� dẫn m�nh tạo nghiệp tham, s�n, si được. Tất cả bệnh đều do t�m kh�ng thật đ� m� ra.

Cho n�n khi tu cần phải biết r� gốc của sự tu. Nếu kh�ng, ch�ng ta sẽ thắc mắc tại sao thầy dạy c�i g� cũng bỏ, đừng vọng tưởng. Chỉ vậy th�i, đơn giản qu� th� l�m sao trị hết bệnh. Kh�ng ngờ, ch�nh c�i nhận biết t�m dấy động lăng xăng l� hư dối, l� vọng tưởng lại l� gốc của sự tu. Bởi v� c�i nhận biết đ� l� tr� tuệ.

C�c ph�p giả dối, ch�ng ta lầm theo n� l� si m�. C�n giả dối m� biết giả dối l� tr� tuệ. Như qu� vị ra tiệm b�n đồ nữ trang, thấy người ta b�y h�ng trong tủ kiếng. H�ng n�o giả, h�ng n�o thật, qu� vị kh�ng ph�n biệt được th� đ� l� qu� dốt. Ngược lại, h�ng giả h�ng thật qu� vị đều nhận biết được hết, th� đ� l� kh�n ngoan.

Cũng vậy, t�m vọng tưởng hư dối m� l�u nay m�nh cho n� thật, đ� l� si m�. B�y giờ biết vọng tưởng hư dối, kh�ng thật, đ� l� tr� tuệ. Nh�n lại từng t�m niệm dấy khởi, ch�ng ta biết n� l� vọng tưởng hư dối, đ� l� d�ng tr� tuệ để dẹp si m�. Khi biết n� l� vọng tưởng, m�nh kh�ng theo th� n� c�n hay lặng mất? N� lặng mất. Tuy lặng mất nhưng gặp duy�n n� sẽ nổi l�n nữa. Hoặc lặng mất c�i n�y, c�i kh�c nổi l�n. Ch�ng ta cứ tiếp tục tỉnh gi�c, kh�ng theo n�, dần dần sẽ điều phục hết vọng tưởng.

Nhiều Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng ho�i, kh�ng y�n n�n cho rằng ngồi thiền c� kết quả g� đ�u. Kh�ng phải vậy. Lục Tổ bảo nếu vọng tưởng dấy khởi, m�nh biết n�. Biết tức l� gi�c, theo n� tức l� m�. M� theo vọng tưởng l� ch�ng sanh. Gi�c được vọng tưởng l� Phật. Cho n�n một trăm ch� ch�ng sinh th� c� một trăm �ng Phật chận đ�n, thua thiệt g� đ�u.

Qu� vị thấy ở Thiền viện, Tăng Ni ngồi thiền hơi gục gục l� bị ăn gậy liền. Sao t�n nhẫn vậy, người ta ngồi tu m� đ�nh người ta? Bởi v� th� ngồi thiền vọng tưởng m� thấy được, m�nh tranh đấu để đ�nh thắng n�. C�n ngủ gục th� đ�u c�n thấy g� nữa m� xung trận. L�c đ� ho�n to�n m� mịt tối tăm. Cho n�n nh� thiền gọi ngủ gục l� đi v�o hang quỷ, tối m� kh�ng thấy g� hết.

T�m dấy niệm m�nh biết kh�ng theo, th� thấy c� sự tranh đấu hơi nhọc nhằn, nhưng c� Phật c� ch�ng sanh. Chứ c�n gục xuống rồi th� th�i, thua lu�n. V� vậy thiện tri thức phải đ�nh cho m�nh tỉnh, đừng để ma ngủ dẫn đi trong hang quỷ. Đ� l� � nghĩa của người gi�m thiền, gi�p cho h�nh giả ngồi thiền được tỉnh. D� c� vọng tưởng cũng đừng sợ, chỉ sợ m�nh chạy theo n� th�i. Nếu m�nh biết r� n� l� vọng tưởng, th� n� tự lặng. C�i kh�c nh� l�n, ch�ng ta cũng nhận ra vọng tưởng, n� lại lặng. Cứ như vậy th� c� thiệt th�i g� đ�u.

Cho n�n Lục Tổ n�i: "Kh�ng sợ niệm khởi, chỉ sợ gi�c chậm". Nghĩa l� vọng tưởng khởi l�n, dẫn m�nh đi l�u lơ l�u lắc, m�nh mới biết "đ� l� vọng". Như vậy l� gi�c chậm. Nếu vọng tưởng vừa dấy l�n, ch�ng ta chận ngay l�c ấy th� n� kh�ng c� t�c dụng g� hết, m�nh l�m chủ được n�.

Tu thiền theo lối dạy của Tổ Đạt Ma y cứ v�o ph�p n�o? Hỏi "T�m con kh�ng an, xin H�a thượng dạy ph�p an t�m". Nếu Tổ bảo: - T�m ngươi kh�ng an n�n d�ng qu�n nh�n duy�n v. v� Đ� l� c� ph�p. C� ph�p tức l� c� gi�o l�, c� gi�o l� tức l� c� văn tự. Nhưng khi nghe n�i "T�m con kh�ng an", Tổ bảo: "Đem t�m ra ta an cho. " Lời n�y kh�ng c� trong kinh n�o cả. V� vậy gọi l� gi�o ngoại biệt truyền tức truyền ngo�i gi�o l�. Ngo�i gi�o l� nghĩa l� kh�ng c� trong văn tự kinh điển. N�n n�i bất lập văn tự l� vậy.

Thiền t�ng l� cốt tủy của đạo Phật, nhưng lại kh�ng c� trong từ ngữ của kinh điển. Bởi v� Thiền t�ng chỉ thẳng, nh�n thẳng. Nh�n lại m�nh, biết r� vọng tưởng hư dối th� ngay đ� an t�m. Như vậy phương ph�p của Tổ dạy l� chỉ tận gốc của t�m. Biết được t�m vọng tưởng hư dối rồi, th� dụng c�ng phu kh�ng c�n sai lầm nữa.

Một h�m, ng�i Huệ Khả bạch với Tổ Đạt Ma:

- Bạch H�a thượng, con dứt hết c�c duy�n.

Tổ xoay lại bảo:

- Coi chừng rơi v�o kh�ng.

Ng�i liền n�i:

- R� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng được.

Ngay đ�, Tổ bảo:

- �ng như thế. Ta như thế. Chư Phật cũng như thế.

Đ� l� ấn chứng. Ấn chứng tức truyền t�m ph�p ấn. �ng như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế, nghĩa l� con dấu của �ng, của ta, của chư Phật cũng vậy th�i. In xuống giấy trắng th� dấu n�o cũng như nhau, kh�ng sai biệt. Đ� gọi l� truyền t�m ph�p ấn.

Khi t�m suy nghĩ lăng xăng hết, l�c đ� c�c duy�n bặt dứt, kh�ng c�n d�nh với c�c cảnh b�n ngo�i nữa. Tổ Đạt Ma e rằng đến chỗ dứt hết c�c duy�n, ng�i Huệ Khả sẽ rơi v�o c�i rỗng kh�ng, n�n Tổ gạn lại: "Coi chừng rơi v�o kh�ng". Ng�i Huệ Khả liền n�i: "R� r�ng thường biết, l�m sao kh�ng được". Tuy chẳng duy�n theo b�ng d�ng c�c trần, nhưng con r� r�ng thường biết. Biết tức l� t�m, t�m đ� r� r�ng như vậy l�m sao rơi v�o kh�ng được.

Ch�ng ta nghiệm từ thực tế sẽ thấy, c� những l�c m�nh ngồi chơi, kh�ng nghĩ suy g� hết, nhưng c� tiếng động m�nh vẫn nghe, c� người đi m�nh vẫn thấy, gi� thổi m�nh biết m�t� tức hiện tại m�nh thấy biết r� r�ng. Biết r� r�ng m� kh�ng c� nghĩ suy. C�i biết r� r�ng n�y qu� vị c� đuổi n� được kh�ng? N� c� sanh, c� diệt kh�ng? R� r�ng n� kh�ng sanh kh�ng diệt, m� kh�ng mất m�t bao giờ.

Từ mu�n đời ch�ng ta chấp c�i nghĩ suy chợt c� chợt kh�ng cho l� thật. Từ chấp giả cho l� thật n�n tạo nghiệp lu�n hồi v� số kiếp. B�y giờ ch�ng ta biết n� giả, kh�ng theo, th� t�m ch�n thật hiện tiền. T�m ch�n thật n�y ai cũng c� sẵn. N�n Phật n�i tất cả ch�ng sanh đều c� Phật t�nh. Chỉ v� ch�ng ta qu�n, chạy theo vọng tưởng hư giả th�nh ra đ�nh mất �ng Phật của m�nh. B�y giờ biết rồi, kh�ng chạy theo vọng tưởng nữa, th� c�i t�m ch�n thật hiện tiền. T�m ch�n thật tức l� t�m Phật.

Như vậy tu cốt đừng lầm giả cho l� thật, m� phải nhận ch�n c�i thật sẵn nơi m�nh từ thuở n�o, đ� l� gi�c ngộ. Vọng tưởng hư giả lẽ ra dễ bỏ, c�n t�m ch�n thật sẵn c� xưa nay kh�ng thể bỏ được. Vậy m� ta n�i bỏ vọng tưởng kh� l� sao? Tại v� gốc m� s�u d�y qu�.

Khi ch�ng ta ngồi thiền được năm mười ph�t, t�m kh�ng dấy động, kh�ng c� niệm chạy theo cảnh, l�c đ� c� m�nh kh�ng? Nếu kh�ng c� m�nh th� ai biết kh�ng c� niệm. Kh�ng c� niệm, y�n tịnh, m�nh biết r� r�ng th� c�i biết hiện tiền. C�i biết đ� kh�ng c� tướng mạo n�n kh�ng c� sanh diệt. Những g� c� tướng mạo th� sanh diệt.

L�u nay, ch�ng ta b�m v�o c�i sanh diệt cho l� t�m m�nh. N�n Phật dạy phải định l� vậy. Định th� dừng t�m sanh diệt, để c�i ch�n thật hiện tiền. C�i ch�n thật hiện tiền rồi th� ch�ng ta lo g� chết bị nghiệp dẫn đi chỗ n�y chỗ nọ. Bởi v� thương, gh�t, giận, hờn� l� nghiệp, m� ch�ng kh�ng c�n nữa th� c�i g� dẫn m�nh đi trong sanh tử nữa? Như vậy mới thấy gốc của sự tu hết sức r� r�ng.

Trực chỉ nh�n t�m, kiến t�nh th�nh Phật. Trực chỉ nh�n t�m tức l� chỉ thẳng t�m ch�n thật của m�nh. T�m l� c�i biết. Nếu ch�ng ta duy�n theo b�ng d�ng trần cảnh, đ� l� t�m hư dối. C�n c�i biết kh�ng chạy theo trần cảnh, hằng hữu ở m�nh, đ� l� t�m ch�n thật. Tổ chỉ thẳng nơi t�m m�nh, biết c�i g� giả, c�i g� thật. Biết được c�i thật, gọi l� kiến t�nh. C�i ch�n thật ấy l� nh�n th�nh Phật, n�n n�i kiến t�nh th�nh Phật.

Hiểu được bốn c�u ch�m ng�n tối quan trọng ấy rồi, ch�ng ta mới nắm được yếu chỉ Thiền t�ng, kh�ng c� một ph�p. Nếu kh�ng ch�ng ta sẽ n�i Thiền t�ng kh� qu�. V� tu theo lối trị từng thứ bệnh th� dễ đối chiếu, dễ thấy kết quả. C�n nh�n thẳng từ nh�n dấy động ban đầu, dừng n� kh�ng cho dấy khởi, th� l�c đ� chưa th�nh bệnh. N�n chỉ một "c�i biết" m� trị tất cả bệnh. Song v� nh�n ban đầu n�y s�u thẳm b�n trong, t�m hơi kh� một ch�t, ch�ng ta phải kh�o mới được. Đ� l� phăng tận gốc rễ để trị tận căn nguy�n.

Tổ Huệ Năng khi được ph�p ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn rồi, Ng�i mang y b�t về phương Nam. Khi đ� đ�m người kỳ thị đuổi theo giật y b�t lại. Trong nh�m đ� c� Thượng tọa Minh, trước khi tu l�m tướng n�n cỡi ngựa rất giỏi, rượt kịp. Tổ biết người ta đuổi theo gi�nh y b�t, n�n Ng�i để y b�t tr�n b�n thạch, chui v� l�m c�y trốn.

Thượng tọa Minh nhảy xuống ngựa, �m y b�t l�n nhưng �m kh�ng nổi. Chừng đ� mới giật m�nh, th� ra đ�y l� vật huyền b�, kh�ng phải vật thường. Bấy giờ, �ng vừa sợ vừa hối lỗi. Tất cả niệm tranh gi�nh ngang đ� chấm dứt. �ng liền gọi: "H�nh giả, h�nh giả! T�i đến đ�y v� ph�p, chứ kh�ng phải v� y b�t".

Khi ấy, Lục Tổ ở trong l�m c�y chui ra n�i: "Nếu �ng v� ph�p, th� ta sẽ n�i cho �ng. " Rồi bảo: "�ng y�n lặng gi�y l�u, ta sẽ dạy cho" Thượng tọa Minh đứng y�n lặng gi�y l�u. Tổ n�i: "Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, c�i g� l� bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Ngay c�u đ� Thượng tọa Minh liền thấy đạo.

Qu� vị thấy Lục Tổ hết sức thật th�. Ng�i thấy chỗ cứu k�nh thế n�o th� Ng�i n�i thế ấy. Thiện, �c tức l� hai b�n. Thiện �c, thương gh�t, phải quấy v. v� đều l� hai b�n. Niệm đầu vừa dấy l�n th� niệm sau nối tiếp theo nhau. Bu�ng hết hai b�n th� kh�ng c�n niệm, l�c ấy bản lai diện mục hiện tiền. Bản l� xưa, lai l� nay, diện mục l� mặt mắt thật của m�nh. Hết sức đơn giản.

N�i vậy qu� vị sẽ c� thắc mắc. Người tu cấm kh�ng được nghĩ �c, l�m �c, chứ tại sao bảo kh�ng nghĩ thiện, l�m thiện? Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c tức l� kh�ng l�m l�nh cũng kh�ng l�m �c. Như vậy l�m sao tu? Qu� vị nhớ trong nh� Phật dạy tu c� nhiều cấp bậc. Người tu �t, người tu nhiều, người tu b�nh b�nh kh�c nhau. T�y theo c�ng phu tu m� sanh trong lục đạo địa ngục, ngạ quỷ, s�c sanh, người, a tu la, trời.

Trong lục đạo lu�n hồi c� chia ba đường thiện, ba đường �c. Cho n�n nghĩ thiện, nghĩ �c đều đi trong lu�n hồi. L�u nay người ta quen cho rằng tu l� l�m việc thiện th�i. Nhưng sự thật tu thiện th� được sanh c�i l�nh. L�m người, a tu la hoặc trời l� sanh trong ba c�i l�nh nhưng vẫn c�n đi trong sanh tử. Nh� Phật gọi đ� l� tu ph�p Nh�n thừa, Thi�n thừa th�i, chứ kh�ng phải ph�p giải tho�t. Muốn giải tho�t sanh tử th� phải ra khỏi cả thiện lẫn �c.

Nh� Phật cũng n�i về hai thứ: hữu duy�n từ v� v� duy�n từ. Hữu duy�n từ l� c�n c� sự ph�n biệt theo duy�n th�ch hợp m� khởi l�ng từ bi. C�n v� duy�n từ th� thấy người ta khổ l� m�nh cứu ngay, kh�ng ph�n biệt c� duy�n hay kh�ng c� duy�n. Th� dụ người kh�ng nghĩ thiện kh�ng nghĩ �c g� cả, thấy đứa b� t� liền bế n� dậy, đ� thuộc về v� duy�n từ. Ch�ng ta đa số l�m việc thiện m� nghĩ suy nhiều qu�. "Việc thiện n�y l�m kết quả kh�ng? " "Được khen hay bị ch�? " v. v� nghĩ đủ thứ.

Đức Phật hay c�c vị Bồ t�t lu�n lu�n l�m l�nh với t�m v� duy�n từ, tức l� l�ng từ v� duy�n. Gặp cảnh th� l�m chứ kh�ng c� nghĩ suy, kh�ng x�t duy�n cớ. Ch�ng ta b�y giờ thấy người đ� ngh�o đ�i, m� họ l�m thinh, m�nh cũng bỏ lơ. Ngược lại, nếu họ năn nỉ "T�i ngh�o đ�i qu�, c� b�c gi�p đỡ gi�m" th� mới chịu gi�p. Gi�p như vậy l� c� duy�n, c� sự cầu khẩn, c�n b�nh thường th� kh�ng gi�p. Với Phật, với Bồ t�t th� kh�ng như vậy. Thấy người ta khổ l� gi�p, khỏi xin xỏ, khỏi cầu khẩn. Cho n�n c�c Ng�i l�m l�nh rồi l� th�i. C�n ch�ng ta do đợi xin xỏ, n�n gi�p người rồi m� họ ng� lơ kh�ng th�m c�m ơn l� bực bội liền. Cho n�n c� duy�n từ th� k�m theo c� danh, đ�i hỏi n�y nọ. C�n v� duy�n từ kh�ng đ�i hỏi điều kiện g� hết. Đ� mới cao si�u, qu� b�u. Đừng cho rằng kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c l� xấu. Hiểu vậy như vậy mới thấy gốc của sự tu.

Ng�i Nam Nhạc Ho�i Nhượng c� đệ tử l� M� Tổ Đạo Nhất rất nổi danh ở Trung Quốc. Một h�m M� Tổ c�ng thị giả l� B� Trượng Ho�i Hải ra vườn chơi. Tr�n đường đi, thấy bầy vịt trời bay tr�n hư kh�ng, M� Tổ hỏi:

- C�i g� đ�?

Ho�i Hải thưa:

- Bầy vịt trời.

Hồi sau M� Tổ hỏi:

- Bay đ�u rồi.

Ng�i Ho�i Hải ng� l�n thấy bầy vịt trời bay mất, liền trả lời:

- Bay mất rồi.

Liền bị M� Tổ nắm lỗ mũi v�o một c�i thật mạnh, Ng�i la thất thanh. M� Tổ bảo:

- Sao kh�ng n�i bay mất đi?

Ngay đ� B� Trượng liền đại ngộ.

M� Tổ dạy c�i g� m� ng�i B� Trượng ngộ đạo? Đ� l� những h�nh ảnh kỳ đặc của c�c Tổ sau n�y. V�o lỗ mũi người ta đau điếng đến nổi phải la thất thanh, rồi hỏi: "Sao kh�ng n�i bay mất đi? ". Vậy m� đệ tử liền ngộ. Để thấy rằng �ng thầy muốn chỉ c�i thật cho học tr� m� kh�ng d�ng những ng�n từ b�nh thường, chỉ d�ng những thủ thuật đặc biệt.

L�u nay ch�ng ta c� bệnh mắt th� chạy theo sắc, tai th� chạy theo tiếng� tất cả s�u căn lu�n lu�n đuổi theo s�u trần. Nhớ s�u trần m� qu�n c�i gốc nơi s�u căn. S�u căn c� c�i thấy, c�i nghe, c�i ngửi, c�i nếm� C� thấy, c� nghe, c� ngửi, c� nếm� l� c� biết. C�i biết đ� kh�ng đuổi theo s�u trần, m� lu�n hiện hữu nơi m�nh, c� vắng l�c n�o đ�u.

Trong kinh Lăng Nghi�m, đức Phật đưa tay l�n, hỏi ng�i A Nan:

- Thấy kh�ng?

- Thấy.

- Thấy c�i g�?

- Thấy tay Phật đưa l�n.

Phật để tay xuống rồi hỏi tiếp:

- Thấy kh�ng?

- Kh�ng thấy.

Phật quở:

- Tay đưa l�n th� thấy c� tay, tay để xuống th� thấy kh�ng tay, chứ c�i thấy đ�u c� vắng. Sao lại n�i lộn xộn vậy.

Phật quở v� ng�i A nan lầm cho c�i tay l� c�i thấy, đ� l� qu�n m�nh theo vật. Ch�ng ta cũng như vậy. V� qu�n m�nh theo vật n�n cho vật l� m�nh.

Th�m một v� dụ nữa, Phật bảo ng�i La Hầu La đ�nh một tiếng chu�ng nghe "boong", hỏi A Nan:

- �ng nghe kh�ng?

- Dạ nghe.

Tiếng chu�ng bặt, Phật hỏi:

- �ng nghe kh�ng?

- Dạ kh�ng.

Phật quở một phen nữa:

- Tiếng chu�ng c� th� nghe c� tiếng chu�ng. Tiếng chu�ng lặng th� nghe kh�ng c� tiếng chu�ng. Tại sao n�i kh�ng nghe?

Ch�ng ta c� lầm như vậy kh�ng? Tất cả ch�ng ta đều lầm như vậy cả. N�n rồi m�nh sống trong m� lầm m� kh�ng hay. Ch�nh m�nh đang nghe c� tiếng hoặc kh�ng tiếng, chứ đ�u phải kh�ng c� c�i nghe. Thấy kh�ng c� cảnh, kh�ng c� vật, chứ đ�u phải kh�ng c� c�i thấy. R� r�ng ch�ng ta qu�n m�nh theo vật, cứ chạy theo s�u trần. V� vậy b�n ngo�i s�u căn đuổi theo s�u trần, rồi đem b�ng d�ng đ� v�o chấp chứa, ph�n biệt trong t�m. Đ� l� sống với c�i giả m� qu�n c�i thật.

Cho n�n M� Tổ nắm lỗ mũi B� Trượng v�o một c�i đau điếng, hỏi: "Sao kh�ng n�i bay mất đi" Bay qua th� chim bay qua, chứ c�i thấy chim bay qua c� mất l�c n�o đ�u. Ng�i B� Trượng nhờ thế sực tỉnh, nhớ c�i lỗ mũi đau đời đời kh�ng qu�n. Đ� l� một thủ thuật. Tổ B� Trượng sau nổi tiếng l� nhờ thủ thuật của �ng thầy.

Ch�ng ta thấy hai vị trước l� Tổ Đạt Ma v� Tổ Huệ Năng n�i rất hiền l�nh. Qua tới M� Tổ th� bắt đầu kỳ đặc. Dưới Tổ B� Trượng c� ng�i Ho�ng B� Hy Vận cũng c� thủ thuật rất kỳ đặc. Ng�i L�m Tế trước khi gặp Tổ Ho�ng B�, l� một con người rất th�m trầm, cho n�n Thủ tọa Minh thấy c� tương lai, n�n x�i ng�i L�m Tế hỏi Tổ Ho�ng B�: "Thế n�o l� đại � Phật ph�p? ". Ho�ng B� nghe xong, kh�ng trả lời lấy một c�u, liền lấy gậy đập cho một gậy. Ng�i L�m Tế bị đập rồi ngẩn ngơ, kh�ng biết l�m sao hết. Đ� l� lần thứ nhất.

�t h�m sau Thủ tọa lại bảo: "Th�i l�n hỏi nữa đi". Ng�i cũng hiền, nghe x�i th� l�m theo, cũng l�n hỏi c�u đ�: "Bạch H�a thượng! Thế n�o l� đại � Phật ph�p? ", liền bị đập một gậy nữa. Đau qu�, Ng�i kh�ng biết n�i g� nữa, �m l�ng buồn tủi đi xuống.

�t h�m sau, Thủ tọa lại x�i l�n hỏi nữa. Lần thứ ba cũng bị ăn gậy, đau khổ c�ng cực Ng�i chỉ c�n c� nước kh�c th�i. Xuống gặp Thủ tọa hỏi: "Bữa nay thế n�o? " Ng�i trả lời: "Ba lần hỏi, ba lần đều bị ăn đ�n, chắc t�i kh�ng c� duy�n ở đ�y. Th�i t�i xin đi. " Thế l� Ng�i cuốn g�i sửa soạn đi. �ng Thủ tọa n�i nhỏ: "Trước khi đi n�n đến bạch với H�a thượng cầu chỉ dạy. " Nghe lời, Ng�i l�n thưa: "Bạch H�a thượng, con kh�ng c� duy�n ở đ�y, con xin đi. " Tổ Ho�ng B� bảo: "�ng n�n tới chỗ Cao An, hỏi Đại Ngu. Kia sẽ v� �ng m� chỉ cho".

Đại Ngu tức l� n�i Đại Ngu, c�n t�n của Ng�i t�i qu�n mất rồi, chỉ nghe người ta k�u theo t�n n�i l� Đại Ngu. L�m Tế qua đ� gặp ng�i Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:

- �ng từ đ�u đến?

- Con từ Ho�ng B� đến.

- Ho�ng B� đ� chỉ dạy g� cho �ng?

- Con ba lần hỏi đại � Phật ph�p, ba lần đều bị ăn đ�n, kh�ng biết con c� lỗi hay kh�ng lỗi?

Ng�i Đại Ngu liền chụp lấy vai L�m Tế n�i:

- Ho�ng B� đ� v� �ng chỉ tột, m� c�n hỏi c� lỗi hay kh�ng lỗi?

Ngay đ� ng�i L�m Tế liền đại ngộ, n�i:

- Phật ph�p của Ho�ng B� rất �t.

Ng�i Đại Ngu liền x� ra hỏi:

- Mới hồi n�y n�i c� lỗi kh�ng lỗi, b�y giờ lại n�i Phật ph�p của Ho�ng B� rất �t. �ng thấy đạo l� g�, n�i mau. "

L�m Tế liền th�i cho Đại Ngu một th�i v� h�ng. Ng�i Đại Ngu x� ra bảo:

- Thầy ngươi l� Ho�ng B�, kh�ng phải ta.

Qu� vị thấy thế n�o? Ng�i Ho�ng B�, mới nh�n thấy qu� t�n nhẫn phải kh�ng. Nhưng dưới con mắt của Đại Ngu th� Ng�i qu� từ bi. V� qu� từ bi n�n mới dồn đệ tử tới chỗ b� hiểm đ�. Dồn rồi đưa qua cho Đại Ngu v� biết ng�i Đại Ngu sẽ th�o gỡ được. Cho n�n khi nghe ng�i Đại Ngu n�i: "Ho�ng B� đ� v� �ng chỉ tột, m� �ng c�n hỏi c� lỗi kh�ng lỗi? " th� L�m Tế liền đại ngộ. Ngộ như thế tới chết cũng kh�ng qu�n! Bởi v� ba lần bị đ�nh đ�n đau qu�, qu�n sao nổi.

Một b�n bị v�o lỗ mũi, một b�n bị đ�nh đ�n. Đau qu� n�n cả hai đều đại ngộ! Chỗ Lục Tổ n�i kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c th� ng�i L�m Tế n�i c� lỗi kh�ng lỗi. Hai lối n�i đ� c� kh�c nhau kh�ng? Khi n�o kh�ng c�n chỗ thấy hai b�n mới l� chỗ ch�n thật. Ng�i L�m Tế ngộ được chỗ đ� rồi, sau n�y Ng�i thường n�i với Tăng Ni: "Ta sau khi ăn đ�n, biết được chỗ ch�n thật rồi, tới nay kh�ng bao giờ qu�n. "

Ng�y nay, Phật tử nghe qu� thầy n�i cũng hiểu vậy, nhưng v�i bữa l� qu�n. Tại v� chưa ăn đ�n, chưa bị v�o lỗ mũi, phải kh�ng? Qu� thầy ng�y nay dễ n�n Phật tử cũng dễ qu�n. C�n người xưa kh� như vậy n�n kh�ng bao giờ qu�n. Đ� l� những thủ thuật đặc biệt của c�c Thiền sư Trung Hoa.

Những phương tiện ấy đều l� gi�o ngoại biệt truyền. Trong kinh kh�ng dạy đ�nh, kh�ng dạy v�o lỗ mũi, nhưng qu� Ng�i l�m những việc đ�. Như vậy c� tr�i với đạo l� kh�ng? Chẳng những kh�ng tr�i m� những thủ thuật ấy c�n đưa h�nh giả tới chỗ l� đạo s�u xa hơn, kh�ng bao giờ qu�n.

Bởi v� l�u nay ch�ng ta quen nghĩ suy rồi. B�y giờ muốn chặn đứng n� lại phải c� phương ph�p mạnh mới chặn nổi. Nếu kh�ng th� cũng ngồi thiền, cũng ng� xuống, m� c�i đầu lăng xăng kh�ng chịu y�n. Cho n�n th�i quen đ� th�nh đường m�n rồi, sửa kh�. Muốn cho đường m�n đ� được b�t lại, th� phải c� c�ch kh�n ngoan, kh�o l�o để chặn đứng n�.

C�n nghĩ thiện, c�n nghĩ �c l� c�n sanh tử. Nghĩ thiện th� đi đường l�nh, nghĩ �c th� đi đường dữ. Người tu chuyển nghiệp l� đừng đi đường dữ, m� đi đường l�nh, đ� l� tu Nh�n thừa v� Thi�n thừa. Nếu muốn dứt hết kh�ng c�n sanh tử nữa th� phải l�m sao? T�m kh�ng c�n d�nh, kh�ng c�n kẹt b�n n�o th� mới tho�t ly sanh tử. Tại sao? Bởi v� dấy niệm thiện, �c th� tạo nghiệp thiện, �c. Trong ba nghiệp, � l� chủ. � nghĩ thiện nghĩ �c th� th�n l�m thiện l�m �c, miệng n�i thiện n�i �c. B�y giờ � kh�ng nghĩ thiện nghĩ �c, gặp cảnh th� l�m t�y duy�n, t�m kh�ng khởi niệm. Việc l�m đ� kh�ng c� gốc của thiện, �c.

Nếu t�m của ch�ng ta thản nhi�n, tự tại, kh�ng bị một niệm n�o sai khiến th� n� bao la, tr�m khắp. N�n n�i t�m bao la tr�m khắp kh� hiểu, bởi v� người ta cứ nghĩ t�m ở trong tấm th�n nhỏ b� n�y. Nhưng sự thật, nếu ch�ng ta nghĩ về người, th� c�i nghĩ đ� duy�n theo h�nh b�ng người, nghĩ về c�i chu�ng th� duy�n theo b�ng của c�i chu�ng, nghĩ về đồng hồ th� duy�n theo b�ng của đồng hồ� n� c� giới hạn. Nếu kh�ng nghĩ g� hết th� n� duy�n theo b�ng n�o? Kh�ng c� b�ng. Kh�ng c� b�ng,

kh�ng c� h�nh tướng th� n� tr�m khắp rồi. Vậy m� ch�ng ta lại bỏ c�i rộng lớn bao la ấy, đi bắt lấy những c�i nhỏ nhoi, tạm bợ. Cho n�n Phật thương ch�ng sanh l� thương ở chỗ m� lầm đ�.

Ch�ng sanh b�m v�o những giả dối, tạm bợ m� h�i l�ng, c�n c�i ch�n thật lại bỏ qu�n. Trong khi c�i ch�n thật đ� kh�ng bao giờ mất, n� lu�n ở b�n m�nh. N�n n�i rằng ch�ng ta xuống địa ngục th� Phật t�nh cũng xuống địa ngục; nhưng Phật t�nh kh�ng bị h�nh, kh�ng bị khổ. R� r�ng Phật t�nh kh�ng t�ch rời ch�ng ta, chỉ tại ch�ng ta qu�n th�i.

Qu� vị nh�n lại ch�ng c�ng tử trong kinh Ph�p Hoa xem c� giống m�nh kh�ng? Cha l� trưởng giả gi�u c�, của cải v� số m� ch�ng c�ng tử kh�ng chịu ở, bỏ đi lang thang. Tới chừng khổ qu�, mới thức tỉnh trở về. Thức tỉnh trở về m� cũng kh�ng d�m nhận cha của m�nh, của cải sự nghiệp của m�nh. Dần dần do người cha kh�o d�ng phương tiện d�u dẫn, ch�ng c�ng tử mới quen v� từ từ nhận ra được gia t�i v� cha m�nh.

Ch�ng ta cũng vậy, c� c�i ch�n thật, th�nh thang m� kh�ng d�m nhận. Chỉ nhận b�ng d�ng tạm bợ mấy chục năm, t�m lăng xăng lộn xộn lu�n lu�n thay đổi l� m�nh, bỏ qu�n c�i ch�n thật. Như vậy c� đ�ng thương kh�ng? Chư Phật v� Bồ t�t, thương l� thương c�i m� lầm đ� của ch�ng sanh. Cho n�n to�n bộ kinh Phật đều nhằm đ�nh thức cho m�nh tỉnh, đừng m� lầm nữa. Hết m� lầm l� giải tho�t sanh tử.

Cho n�n c� tr� tuệ gi�c ngộ rồi mới đi tới giải tho�t. Nếu kh�ng c� tr� tuệ, kh�ng c� gi�c ngộ th� kh�ng c� giải tho�t. Đ� l� lẽ thường. Như vậy ch�ng ta tu cốt để được giải tho�t sanh tử th� phải đi con đường đ�. Nếu ch�ng ta tu để đời sau sướng hơn đời n�y, th� đi con đường Nh�n thừa hoặc Thi�n thừa như đ� n�i ở tr�n. Nhưng đức Phật kh�ng th�ch ch�ng ta l�n c�i trời. Tại sao? Bởi v� l�n c�i trời hưởng sung sướng nhiều qu�, tu kh�ng được. Đến khi hưởng hết phước rồi th� rơi xuống trở lại. Thế l� uổng c�ng bao nhi�u năm!

Ch�ng ta thường lầm cho nghĩ rằng ăn ngon, mặc đẹp, ở nh� lầu, đi xe hơi� l� hạnh ph�c. Nhưng nếu x�t kỹ th�n n�y ăn để chi? Cả ng�y cứ mượn trả, mượn trả� �t chục năm n� cũng hư hoại. Mượn trả tốt, mượn trả xấu cũng l� mượn trả th�i, chứ c� g� hơn. Đ� l� n�i ở c�i ta b� n�y chỉ c� mấy chục năm th�i. Nếu ở c�i trời th� tuổi thọ gấp năm mười lần, hai ba mươi lần c�i n�y. Nhưng l�n đ� mượn trả đ� rồi cũng phải trở xuống. Như vậy c� nghĩa l� g�. Tốt hơn ở đ�y c� khổ c� vui, mau tỉnh. Mau tỉnh th� dễ tu. Dễ tu mới c� thể ra khỏi sanh tử lu�n hồi sớm. Ch�ng ta thấy rằng đức Phật nh�n thật tường tận. C�n ch�ng ta th� kh�ng như thế.

Như vậy ở thế gian, người gi�u qu� hoặc ngh�o qu�, dễ tu hay kh� tu? Cả hai đều kh� cả. Chỉ c� hạng người vừa đủ ăn, khổ vui lẫn lộn l� dễ tu hơn hết. Khổ qu� th� tối ng�y bận bịu với cuộc sống, đ�u c� rảnh m� nhớ tu. C�n dư giả qu�, gi�u c� qu� th� tiệc t�ng li�n mi�n cũng kh�ng rảnh m� tu. N�n n� cả hai trường hợp n�y đều kh� tu. Phật bảo sanh trong tam �c đạo kh�ng tu được n�n phải tr�nh. Nhưng c�i trời cũng kh� tu, chỉ c�i người l� dễ tu.

Từ nay, qu� vị c� than phiền sanh c�i người khổ nữa kh�ng? Sanh c�i người l� cơ hội tốt để cho m�nh dễ thức tỉnh. Nếu được l�n c�i trời m�nh cứ hưởng kh�ng nghĩ tới tu. Sanh c�i người, ch�ng ta c� đủ cơm ăn l� tốt rồi, để thời giờ nghi�n cứu, học hỏi, tu h�nh. Người biết đạo l� người kh�ng tham cầu sung sướng, chỉ vui trong ho�n cảnh vừa đủ của m�nh, rồi để d�nh thời giờ lo tu. Những vui buồn l� cơ hội tốt để m�nh tỉnh, chứ nếu vui ho�i th� kh�ng tỉnh. N�n buồn kh�ng hẳn l� tai họa, n� cũng l� duy�n để ch�ng ta thức tỉnh.

Nhớ như vậy th� sự sống của m�nh an l�nh. C�n nếu ch�ng ta cứ đ�i hỏi bằng người n�y, bằng người kia l� kh�ng biết sống. V� sống m� cứ mơ ước, tr�ng đợi trong ảo tưởng, kh�ng thực tế cho n�n khổ.

Tất cả c�c bệnh của ch�ng ta đều từ t�m niệm so s�nh, đối chiếu m� c�. Tham, s�n, si cũng từ đ�. Nếu ch�ng ta bu�ng liền từ gốc dấy niệm th� đ�u c�n g� để tham, s�n, si. Như vậy uống c� một thang thuốc m� l�nh hết tất cả bệnh. Đ� l� do trị tận gốc vậy. Phương thuốc thật đơn giản, n�i đơn giản nhưng lại kh� l�m. Nếu l�m được th� kết quả rất to, chứ kh�ng phải thường. Cho n�n đường lối tu thiền n�y c�c Tổ sư gọi l� Tối Thượng thừa, kh�ng theo thứ bậc n�o cả.

Trị từng bệnh l� Nhị thừa. Đến như Bồ t�t cũng c�n trị từng bệnh. Ở đ�y kh�ng trị từng bệnh, m� trị tận gốc. Gốc hết rồi th� tất cả bệnh theo đ� hết. Đ�y gọi l� đi đường thẳng. Cho n�n n� đốn gi�o, tức thẳng tắt chứ kh�ng c� quanh co. V� vậy Tối Thượng thừa cũng gọi l� Phật thừa. M� l� ch�ng sanh, ngộ l� Phật; chứ n� kh�ng c� quanh co thứ bậc. C�c thừa kia theo thứ lớp, dẹp được phiền n�o n�o th� chứng được tầng bậc n�o tương ứng. Ở đ�y kh�ng dẹp phiền n�o, m� dẹp gốc sanh phiền n�o. Gốc sanh phiền n�o nếu dẹp được th� thẳng đ� th�nh Phật. Ngay �ng Phật sẵn của m�nh hiện ra. Học Thiền Đốn Ngộ l� chỉ thẳng gốc ấy. Nếu gốc đốn được rồi th� ngọn dễ lắm. Nếu gốc chưa đốn được th� chặt ngọn n�y, n� nhảy ra ngọn kh�c, kh� l�u mới hết sạch.

Người tu kh�ng hiểu, kh�ng nắm được ph�p tu l� tu m�. Nếu biết r� th� kết quả tu sẽ đ�ng như m�nh mong muốn. Đ� l� tu trong s�ng suốt. N�n qu� vị đừng mong rằng m�nh ngồi thiền, ng�y n�o đ� c� h�o quang s�ng ngời l�n chẳng hạn. Những việc ấy kh�ng thể cứu được m�nh. Cứu m�nh l� thấy đ�ng như thật. Vọng tưởng biết vọng tưởng. Đ� l� tr� tuệ rồi. Tr� tuệ n�y hết sức đơn giản. Ch�ng ta thường kh�ng chịu c�i đơn giản, m� đ�i c� h�o quang, đ�i đủ thứ hết. Bởi vậy người tu thiền lạc v�o t� đạo cũng tại mong muốn những thứ kh�ng thực tế.

Cho n�n trong kinh, Phật n�i rằng: "Ngoại đạo tu c� thể chứng được ngũ th�ng; c�n ta tu chỉ lấy đạo th�ng l�m gốc. " Đạo th�ng tức l� suốt được lối đi, thấu được đạo l� ch�n thật. Bởi v� thần th�ng kh�ng cứu được m�nh. Hiểu như vậy tr�n đường tu mới khỏi lầm lẫn.

Chư sư Nguy�n thủy tu theo Tứ Niệm Xứ v. v� c�c ng�i đi biết dở ch�n, đứng biết dừng ch�n, duy�n theo từng h�nh động. Bởi tu duy�n theo từng h�nh động n�n lối đi đứng rất nghi�m trang. C�n lối tu biết vọng, trong c�c oai nghi thảnh thơi, biết vọng kh�ng theo. Chỉ "chăn" c�i nghĩ, m� kh�ng "chăn" h�nh động. V� vậy lối tu n�y, h�nh giả sinh hoạt một c�ch tự nhi�n, kh�ng kềm gượng.

Nhiều Phật tử thuật lại cho t�i nghe, họ ứng dụng lối tu biết vọng, l�c l�i xe th� cứ l�i xe, vừa nghĩ bậy liền bu�ng. Do đ� khi l�i xe cũng vẫn tu được. L�m việc g� chuy�n t�m v�o việc đ�, kh�ng cho nghĩ c�i g� kh�c. Nhờ chuy�n t�m n�n việc l�m rất tốt. Như vậy trường hợp n�o cũng tu được hết. Sống trong thời khoa học m�y m�c n�y, nếu ch�ng ta lơ lỏng, ngồi đ�y m� lo ra, nghĩ chuyện kh�c th� sẽ rất nguy hiểm.

Như vậy lối tu n�y, tu m� kh�ng thấy m�nh tu g� hết. Ở ngoại quốc ứng dụng lối tu n�y rất hay, v� nếu tụng kinh, lễ b�i nhiều h�ng x�m nghe chu�ng, nghe m� người ta phản đối lắm. Ch�ng ta ngồi thiền im l�m kh�ng c� g� phiền đến người kh�c cả, như vậy vừa hay cho m�nh, vừa hay cho người. Tu ở đ�u cũng được, dễ d�ng kh�ng c� g� trở ngại.

T�m lại, tr�n đường tu ch�ng ta tu thế n�o để cho bản th�n m�nh, cuộc sống của m�nh v� cuộc sống x� hội kh�ng bị trở ngại, đ� l� điều cần thiết. Được vậy sự truyền b� của Phật ph�p mới đ�ng với nhịp tiến của thời đại. Nếu ch�ng ta tu m� kh�ng th�ch hợp với cuộc sống của thời đại, của x� hội mới th� kh�ng được. Qu� Phật tử cần phải hiểu cho thấu đ�o để ứng dụng tu c� kết quả thiết thực. H�m nay t�i đưa ra thang thuốc n�y, ch�c qu� vị được l�nh tất cả bệnh.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]

[Trang chu] [Kinh sach]