Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập II)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]


  N�I CHUYỆN VỀ THIỀN T�NG TẠI

   ĐẠI HỌC KHOA HỌC X� HỘI V� NH�NVĂN

Tp. HỒ CH� MINH

 

H�m nay ch�ng t�i đủ duy�n được vị Khoa trưởng khoa Ngữ văn tại đ�y, mời n�i chuyện với qu� vị về đề t�i Phật gi�o Thiền t�ng ở Việt Nam. Đề t�i n�y thật ra rất rộng. Nhưng v� th� giờ c� hạn, ch�ng ta kh�ng thể đi s�u v�o chi tiết hết được, n�n ch�ng t�i chỉ n�i những n�t đại cương của Phật gi�o Việt Nam th�i.

Trong đề t�i n�y ch�ng t�i chia l�m năm phần:

1- N�i về Phật gi�o.

2- N�i về Thiền t�ng.

3- N�i về Thiền t�ng truyền v�o Việt Nam.

4- N�i về t�ng chỉ tu h�nh của Thiền t�ng.

5- N�i về Thiền ph�i Tr�c L�m Y�n Tử.

Ch�ng t�i sẽ đi theo thứ tự từng phần như đ� n�u.

1- N�i về Phật gi�o

Bởi v� n�i tới Thiền t�ng l� n�i tới Phật gi�o, cho n�n đầu ti�n ch�ng ta phải hiểu Phật gi�o l� g�. Như ch�ng ta đ� biết Phật gi�o l� gi�o ph�p do đức Phật Th�ch Ca sau khi gi�c ngộ rồi, Ng�i giảng dạy lại v� được ghi ch�p th�nh ba tạng Kinh, Luật, Luận. Gọi chung ba tạng ấy l� Phật gi�o.

Ở đ�y ch�ng ta kh�ng đi chi tiết từng phần trong ba tạng đ�, m� chỉ nhắm thẳng cốt tủy của Phật gi�o th�i. Ch�ng t�i c� thể tạm định nghĩa, cốt tủy của Phật gi�o l� chỉ dạy cho tất cả mọi ch�ng sanh đều được gi�c ngộ v� giải tho�t. Hoặc ch�ng ta c� thể d�ng lối n�i kh�c, Phật gi�o l� một lối chỉ dạy cho mọi người c� đầy đủ tr� tuệ v� từ bi. Đ� l� cốt tủy của Phật gi�o. Tại sao ch�ng t�i n�i như vậy?

Bởi v� như trong sử ghi lại, Phật nguy�n l� một Th�i tử rời cung điện đi tu. Khi đi tu trải qua những giai đoạn khổ cầu tầm đạo, cuối c�ng Ng�i ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề, được gi�c ngộ th�nh Phật. Như vậy việc th�nh Phật của Ng�i l� từ sự gi�c ngộ, chớ kh�ng phải do một c�ng hạnh n�o kh�c. Gi�c ngộ th�nh Phật rồi th� gọi l� giải tho�t. N�i như vậy sẽ c� nhiều vị nghi ngờ, gi�c ngộ c�i g� v� giải tho�t thế n�o?

Trước hết n�i về gi�c ngộ. Ở đ�y ch�ng t�i tạm giải th�ch, gi�c ngộ l� nhận thấy lẽ thực của con người v� vũ trụ. Hay l� thấu triệt được l� nh�n duy�n sinh của vạn vật tr�n thế gian n�y. Tất cả đều kh�ng c� chủ thể v� cố định. Điều n�y lấy g� để minh chứng r� r�ng? Ch�ng t�i sẽ thứ tự giải th�ch.

Đọc sử Phật qu� vị thấy động cơ th�c đẩy Ng�i đi tu kh�ng g� hơn l� nh�n thấy cảnh gi�, bệnh, chết của con người m� kh�ng ai tho�t khỏi. Cho n�n Ng�i nhất định đi tu để t�m ra một lối tho�t. Muốn t�m được lối tho�t ấy, Ng�i đ� quyết t�m tu, nhất l� Thiền định dưới cội Bồ-đề. Khi c�ng phu Thiền định đ� th�nh tựu, Ng�i liền được gi�c ngộ. Gi�c ngộ rồi Ng�i mới thấy được lẽ thực của con người v� thấy được lẽ thực của vũ trụ.

Như vậy gi�c ngộ thế n�o m� thấy được lẽ thực của con người v� vũ trụ? Về con người, trong kinh điển Phật n�i đến Tam minh, tức Thi�n nh�n minh, T�c mạng minh v� Lậu tận minh. Từ ba minh n�y m� Ng�i thấy r� v� chỉ r� cho ch�ng ta biết được lẽ thực của con người.

Thi�n nh�n minh l� Ng�i thấy một c�ch tường tận những vật ở trong vũ trụ thật xa v� thật nhỏ. Đồng thời Ng�i thấy được sự lu�n chuyển v� vậ�n h�nh của ch�ng sanh ở trong lục đạo lu�n hồi. Thấy thật xa v� thật nhỏ l� thấy như thế n�o? Như Tăng Ni mỗi khi uống nước, đều c� đọc mấy c�u kệ: " Phật qu�n nhất b�t thủy, b�t vạn tứ thi�n tr�ng", tức l� Phật nh�n trong một b�t nước thấy c� t�m mu�n bốn ng�n vi tr�ng. Điều đ� cho thấy c�ch đ�y hai mươi mấy thế kỷ m� Phật đ� thấy được vi tr�ng rồi! Nếu kh�ng phải Thi�n nh�n minh th� l�m sao thấy được. Bởi v� l�c đ� khoa học chưa ph�t triển, kh�ng c� c�c loại k�nh hiển vi như b�y giờ. Do thấy r� vi tr�ng, Ng�i mới dạy chư Tăng Ni muốn uống nước, phải lọc cho thật kỹ để kh�ng phạm tội s�t sanh.

Trong kinh A H�m kể� lại, một vị Tỳ-kheo chứng quả A La H�n được Thi�n nh�n th�ng. Khi nh�n thấy v� số vi tr�ng trong hồ nước, Ng�i kh�ng uống được n�n tới bạch Phật:

- Bạch Thế t�n, con thấy vi tr�ng nhiều qu�, l�m sao uống được?

Phật bảo:

- Sao �ng kh�ng d�ng nhục nh�n m� nh�n.

Như vậy do Thi�n nh�n m� Phật thấy được vi tr�ng. Thấy được vi tr�ng tức l� thấy vật hết sức nhỏ. Kế đến, Ng�i thấy v� số thế giới giống như thế giới của ch�ng ta hoặc nhỏ, hoặc bằng, hoặc lớn hơn v. v� N�n ch�ng ta thường nghe từ "hằng h� sa số thế giới". Phật n�i thế giới nhiều như c�t s�ng Hằng ở Ấn Độ. B�y giờ t�i n�i gần như s�ng Đồng Nai th�i, qu� vị nghĩ s�ng Đồng Nai chừng bao nhi�u c�t, s�ng Hằng d�i gấp mấy s�ng Đồng Nai? Vậy m� Phật thấy thế giới trong vũ trụ n�y nhiều như số c�t s�ng Hằng. Điều đ� c�ch đ�y hơn hai mươi mấy thế kỷ, ai tin được? Đ� l� Phật thấy r� r�ng những vật thật xa.

Những điều Ng�i thấy đ� kh�ng ở trong giới hạn n�o m� n� v� giới hạn. Khi Ng�i đem ra dạy chư Tỳ-kheo cũng như tất cả Phật tử thời đ�, Ng�i kh�ng thể n�o n�i hết được, m� chỉ n�i một phần nhỏ th�i. N�n một h�m nh�n đi v�o trong rừng, Ng�i hốt một nắm l� c�y rồi hỏi c�c thầy Tỳ-kheo:

- Nắm l� c�y trong tay ta nhiều hay l� c�y trong rừng nhiều?

C�c thầy Tỳ-kheo trả lời:

- Nắm l� c�y trong tay Thế T�n rất �t, c�n l� c�y trong rừng nhiều v� số, kh�ng thể kể được.

Phật n�i:

- Cũng vậy. C�i ta thấy, ta biết đem ra dạy cho c�c �ng giống như l� c�y trong b�n tay ta. C�n c�i ta thấy, ta biết m� chưa dạy cho c�c �ng nhiều như l� c�y trong rừng.

V� sao như vậy? V� chủ trương của Phật nhằm giải quyết vấn đề Ng�i thắc mắc ngay ban đầu l� vấn đề con người. Tại sao con người sanh ra phải gi�, phải bệnh rồi chết? Đ� l� điều Ng�i thắc mắc hơn hết, Ng�i phải giải quyết cho được. N�n tuy thấy được rất nhiều, nhưng Ng�i chỉ xoay quanh trọng t�m con người. Lấy con người l�m mục đ�ch giảng dạy.

Khi thấu triệt được lẽ thật rồi, Ng�i mới thấy r� th�n phận con người. Tại sao ch�ng ta c� mặt ở đ�y, nguy�n nh�n n�o l�i cuốn ch�ng ta trở đi trở lại v� l�m sao để tho�t được n�.

Trong b�i kinh Tứ th�nh đế, Phật n�i rất r� r�ng, lu�n lu�n c� hai mặt nh�n v� quả của th�n n�y. Trong đ� c� nh�n v� quả dẫn đi trong lu�n hồi lục đạo, nh�n v� quả do tu tập m� giải tho�t được sanh tử. Nếu qu� vị chịu kh� đọc sẽ thấy rất r�. Ở đ�y ch�ng t�i chỉ giới thiệu th�i, chứ kh�ng c� th� giờ đi v�o chi tiết.

Như vậy do đức Phật xoay lại, chỉ nhắm v�o con người, n�n bao nhi�u kinh điển của Phật đều nhắc nhở ch�ng ta tu. Nếu chưa giải tho�t sanh tử ch�ng ta tu nh�n g� sẽ bớt đau khổ trong đời n�y v� những đời kế tiếp. Tu nh�n g� để giải tho�t sanh, gi�, bệnh, chết như Ng�i đ� thấy. Ng�i dạy bao nhi�u kinh điển đều nhắm v�o việc đ�, c�n những phần chi tiết kh�c �t được kể đến.

C� nhiều người thắc mắc tại sao đạo Phật nặng về con người, m� kh�ng n�i r� những thứ b�n ngo�i. Phật l� bậc Nhất thiết chủng tr�, tức tr� biết tất cả, m� sao kh�ng dạy ch�ng ta những g� hay như khoa học b�y giờ ph�t minh. Ng�i lại chỉ xoay quanh vấn đề con người, dạy ch�ng ta tu, dạy ch�ng ta l�m sao giải tho�t sanh tử, m� kh�ng dạy những phương tiện sung t�c để ch�ng ta sống ấm no hạnh ph�c hơn.

Điều n�y t�i xin tạm mượn một v� dụ để chỉ cho qu� vị thấy. Như c� người ở trong gia đ�nh, gạo c�n hay hết kh�ng biết, con c�i đi học hay bỏ học kh�ng biết� những chuyện trong nh� đều kh�ng biết. Nhưng chuyện năm ch�u bốn bể, ở đ�u cũng r�nh, hỏi chỗ n�o n�i cũng hay. Rốt cuộc chuyện trong nh�, hũ gạo c�n hết kh�ng biết, cho đến những việc n�n hư được mất cũng kh�ng biết. Ch�ng ta nghĩ người đ� sống c� thực tế kh�ng? Biết tất cả việc b�n ngo�i tưởng như thực tế m� sự thực chuyện trong gia đ�nh kh�ng biết, th� đ� l� thiếu thực tế. Muốn thực tế th� trước phải biết chuyện trong nh�, rồi sau mới biết ra ngo�i. Người như vậy mới gọi l� hiểu biết thực tế chứ.

Trở lại vấn đề con người của đạo Phật. Nếu ch�ng ta biết tại sao m�nh c� mặt nơi đ�y, khi chết rồi sẽ ra sao? N�i l� m�nh, l� ta; vậy c�i g� l� m�nh, l� ta? Vấn đề đ� chắc ch�ng ta cũng c�n mơ m�ng lắm. Bản th�n m�nh, con người m�nh, ch�ng ta chưa biết r� th� c�i biết b�n ngo�i chưa đ�ng với gi� trị ch�n thật của n�. V� gi� trị đ� l� gi� trị của con người, n�n đức Phật ch� trọng về con người. Bởi ch� trọng về con người n�n khi thấy được lẽ thật của con người, Ng�i cứ xoay quanh vấn đề n�y.

Th� dụ như n�i, Ng�i gi�c ngộ l� thấu triệt được l� nh�n duy�n sinh. Từ l� nh�n duy�n sinh m� c� vạn vật trong thế gian. Nhưng Ng�i kh�ng lấy l� nh�n duy�n đ� để b�n luận rộng cuộc sống vật chất b�n ngo�i, Ng�i lại xoay quanh ở con người. V� vậy khi thấy được l� nh�n duy�n rồi, Phật n�i rằng tất cả con người hay tất cả c�c ph�p đều v� ng�. Tại sao? V� sự thật tất cả c�c ph�p kh�ng c� chủ thể. Kh�ng c� chủ thể tức l� v� ng�. C�c ph�p cũng kh�ng c� g� cố định hết. Kh�ng chủ thể, kh�ng cố định n�n gọi l� v� thường. V� ng�, v� thường; c�i nh�n đ� c� th�ch hợp với c�i nh�n của khoa học hiện nay kh�ng?

Ch�ng ta kh�ng chối c�i được mu�n sự mu�n vật ở thế gian n�y, kh�ng c� vật g� do một người l�m ra, cũng kh�ng c� vật g� nguy�n từ một vật thể th�nh h�nh, hoặc do một đấng thi�ng li�ng tạo n�n. Tất cả đều do c�c duy�n tụ hợp lại m� c�. Đ� từ c�c duy�n tụ hợp th� lấy g� l�m chủ? V� dụ như ph�ng học ch�ng ta đang ngồi đ�y, hỏi c�i g� tạo n�n ph�ng học, tức trong ph�ng học n�y c�i g� l� chủ thể? Kh�ng c� c�i g� l� chủ thể cả. Chẳng qua gạch, xi măng, c�t, đ�, v�i� đủ thứ tụ hợp lại th�nh ph�ng học. Như vậy ph�ng học kh�ng tự n� th�nh m� do nhiều điều kiện g�p lại. V� từ nhiều điều kiện g�p lại n�n n�i kh�ng c� chủ.

Kh�ng c� chủ tức l� v� ng�. Đ� l� điểm chủ yếu của đạo Phật về thuyết v� ng�.

Nh�n lại con người m�nh, thử hỏi c�i g� l� chủ thể? Nếu ph�n t�ch theo đạo Phật th�, th�n n�y gồm c�c chất cứng l� đất, chất ướt l� nước, chất động l� gi�, ấm l� lửa; bốn thứ đ� tụ hợp lại th�nh. Nếu n�i theo khoa học do c�c tế b�o tụ th�nh. Như vậy, trong đ� c�i g� l� chủ? Vậy m� ch�ng ta lu�n lu�n thấy m�nh l� chủ. Ta l� chủ. Nhưng thật buồn cười cho m�nh. N�i m�nh l� chủ m� tất cả sự sắp xếp trong con người m�nh, ch�ng ta c� sắp xếp được đ�u. N� l�m sao trong đ� m�nh cũng kh�ng biết.

V� dụ khi ăn một m�n ăn, ch�ng ta c� chỉ định m�n n�y chế ra c�i g� kh�ng? Hay l� đem v�o bao tử th� cứ đem, rồi t�y � n� muốn l�m sao th� l�m? C� những chất dư thừa m� m�nh cứ đem v� ho�i n�n th�nh bệnh. C� những chất thiếu m� m�nh kh�ng biết để bồi v�o, n�n cũng th�nh bệnh. Như vậy ch�ng ta c� biết g� về m�nh đ�u? C�c tế b�o trong đ� chống đối với vi tr�ng b�n ngo�i, m�nh c� thấy, c� chỉ huy được kh�ng? Vi tr�ng tới th� tự n� k�o nhau tới, trong đ� l�m g� được th� l�m. Chừng n�o thua th� m�nh đau ốm, run rẩy l�n vậy th�i, chứ c� biết g� đ�u.

Vậy m� l�c n�o m�nh cũng vỗ ngực xưng Ta. Ta đ�y l� chủ. Nhưng hỏi chủ c�i g�? Ta lại ho�n to�n bất lực. Cho n�n đạo Phật n�i kh�ng c� chủ thể. Đ�y l� tướng duy�n hợp, kh�ng c� chủ thể v� kh�ng cố định. N� nằm trong v�ng biến chuyển kh�ng l�c n�o dừng. Qu� vị thấy hơn hai ng�n năm về trước m� đức Phật đ� nhận ra như vậy, so với nền khoa học hiện tại kh�ng c� g� sai chạy cả.

Đ�, t�i n�i đại cương cho qu� vị thấy, chủ yếu của đạo Phật l� biết r� từ sự vật cho đến con người đều do duy�n sinh, kh�ng c� chủ thể n�n đức Phật n�i v� ng�. C�c ph�p lại lu�n lu�n đổi dời, kh�ng cố định. Đ� l� một d�ng biến chuyển n�n n�i v� thường.

Đ� l� phần gi�c ngộ của đức Phật. B�y giờ n�i tới phần giải tho�t.

Giải tho�t thế n�o? N�i giải tho�t của đạo Phật l� n�i giải tho�t sinh tử lu�n hồi. C� lắm vị sẽ thắc mắc, đức Phật t�m mươi tuổi cũng chết. Vậy n�i Phật giải tho�t sinh tử th� kh�ng đ�ng rồi. Nhưng sự thật giải tho�t của đạo Phật c� chia l�m hai phần.

Một, l� giải tho�t những tr�i buộc của s�u trần. Ngay nơi ch�ng ta c� mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n v� � lu�n bị s�u thứ b�n ngo�i như sắc, thinh, hương, vị, x�c v� ph�p (ph�p trần) chi phối. Tai ch�ng ta chỉ nghe khi n�o c� tiếng, mắt ch�ng ta chỉ thấy khi n�o c� sắc. C�n nếu kh�ng tiếng, kh�ng sắc th� m�nh n�i kh�ng nghe, kh�ng thấy. Ch�nh chỗ n�y t�i xin n�i rằng đa số ch�ng ta qu�n mất m�nh một c�ch đ�ng thương.

Trong kinh Lăng Nghi�m, đức Phật đưa tay l�n v� hỏi ng�i A Nan: "�ng c� thấy kh�ng? ". A Nan đ�p: "Thưa thấy". Khi đức Phật r�t tay lại, hỏi: "�ng c� thấy kh�ng? " Ng�i A Nan thật th� n�i "kh�ng thấy" n�n bị đức Phật quở.

Phật n�i:

- �ng đ� qu�n m�nh theo vật. Ta đưa tay l�n l� l�c đ� thấy c� tay. Khi ta r�t tay lại l� l�c đ� thấy kh�ng c� tay, chớ đ�u phải kh�ng thấy.

Ch�ng ta cứ quen thấy tay gọi l� thấy, r�t tay lại n�i kh�ng thấy. Như vậy m�nh đ� lầm tay l� c�i thấy. C�i thấy d� c� tay hay kh�ng tay g� vẫn thấy. Cũng như thế đối với c�i nghe. Khi Phật bảo La Hầu La đ�nh một tiếng chu�ng: "Boong". Rồi hỏi: "�ng c� nghe kh�ng? " A Nan đ�p: "Dạ nghe". Khi tiếng chu�ng dừng lại, Phật hỏi: "�ng c� nghe kh�ng? ". A Nan đ�p: "Dạ kh�ng". Phật quở:

- Tiếng chu�ng c� th� nghe c� tiếng chu�ng. Tiếng chu�ng lặng th� nghe kh�ng c� tiếng chu�ng, đ�u phải kh�ng nghe?

Ch�ng ta cứ n�i kh�ng c� tiếng chu�ng th� kh�ng nghe. Tất cả qu� vị kiểm lại c� phải như vậy kh�ng?

Đ� l� ch�ng ta đ� lệ thuộc v�o sắc trần, thinh trần. C� sắc trần gọi l� c� thấy, c� thinh trần gọi l� c� nghe. Như vậy ch�ng ta kh�ng tự chủ ch�t n�o hết. Cả ng�y bị tr�i buộc bởi s�u trần, m� đ� bị tr�i buộc th� Phật gọi đ� l� trầm lu�n. N� l�i cuốn, n� dẫn dắt, n� l�m chủ m�nh rồi.

Cho n�n giải tho�t l� giải tho�t c�i g�? L� giải tho�t s�u trần, nghĩa l� sống với s�u trần m� kh�ng bị lệ thuộc n�. L�m sao để kh�ng lệ thuộc n�? T�i n�i gần nhất như lỗ mũi của ch�ng ta, nghe m�i thơm th� th�ch, c�n nghe m�i h�i th� gh�t. Tai ch�ng ta nghe tiếng hay th� chịu, nghe tiếng dở th� tr�nh. Lưỡi cũng vậy, c�i g� ngon ch�ng ta th�ch, c�i g� dở kh�ng ưa. Như vậy cả ng�y ch�ng ta thế n�o? Cứ t�m những g� vừa � với c�i thấy, c�i nghe, c�i ngửi, c�i nếm, c�i x�c chạm v.v... T�m được những thứ đ� th� gọi l� thỏa m�n, hạnh ph�c.

Nhưng nếu ch�ng ta x�t kỹ lại xem c�i thỏa m�n đ� c� l�u d�i, bền chắc kh�ng? Chắc chắn l� kh�ng. Vậy m� cả đời ch�ng ta cứ quanh quẩn với n�. Cứ s�ng đi l�m th� nghĩ trưa c� m�n g� ăn cho ngon miệng, như vậy c�ng l�m buổi s�ng đ� gần hết rồi. Đồng lương t�m được trong ng�y chỉ đủ cho một buổi với m�n ăn ngon miệng. Đến tai, l�u l�u muốn nghe những bản nhạc m� m�nh ưa th�ch th� phải tới ph�ng �m nhạc. Như vậy để vừa tai cũng phải tốn hết bao nhi�u tiền. Ch�ng ta cứ quay cuồng trong mắt, tai, mũi, lưỡi� m� c� bao giờ thấy đủ đ�u. Như thế hết ng�y n�y, ng�y nọ ch�ng ta gi�, gi� rồi chết. C� g� l� bền l�u, hạnh ph�c, tự do đ�u?

Ch�ng ta cứ tưởng thụ hưởng ngũ dục cho thỏa th�ch l� được tự do, nhưng sự thực như thế ch�nh l� mất tự do. C� nhiều người trẻ tuổi hay than phiền rằng: Người tu, nhất l� tu sĩ trẻ tại sao dại khờ kh�ng hưởng dục lạc thế gian rồi đi tu, c�n trẻ đi tu l�m chi? V�o ch�a phải ăn chay, ăn lạt, khổ gần chết. C�n ở ngo�i đời người ta ăn thịt ăn c� ngon l�nh. Điểm n�y trong kinh n�i chẳng qua l� sự hu�n tập th�i.

Nếu qu� vị ăn mặn quen m� phải ăn một ng�y chay th� thấy khổ gh� lắm. Ngược lại ch�ng t�i ăn chay quen từ nhỏ đến lớn, b�y giờ bắt ăn mặn th� ch�ng t�i cũng khổ như vậy. Ăn chay quen th� thấy ăn chay l� thanh đạm, ăn mặn quen th� thấy ăn mặn l� ngon, vừa miệng. Chẳng qua do sự hu�n tập của m�nh th�i. Nếu quen tập những thứ cầu kỳ, tự nhi�n n� l�i cuốn m�nh đi. Cho n�n trong nh� Phật n�i bị s�u trần tr�i buộc, l�m cho m�nh kh�ng được tự do. Giải tho�t ở đ�y l� giải tho�t s�u trần.

C� người tới hỏi một Thiền sư ở Trung Hoa:

- Thế n�o l� giải tho�t?

Ng�i chỉ trả lời:

- Căn, trần kh�ng d�nh nhau l� giải tho�t.

Nghĩa l� s�u căn kh�ng d�nh với s�u trần l� giải tho�t. Như vậy giải tho�t l� thực tế, chớ kh�ng phải chuyện xa vời. Ngay trong cuộc sống n�y m� ch�ng ta kh�ng bị tr�i buộc bởi s�u trần l� ch�ng ta giải tho�t. Đ� l� c�i giải tho�t thứ nhất.

Thứ hai l� giải tho�t lu�n hồi sinh tử. Lu�n hồi sinh tử l� sao? Nhiều người cứ nghĩ rằng, lu�n hồi sinh tử l� tưởng tượng, chớ kh�ng c� thực tế. Nhưng thực ra đ�y l� một lẽ thực, chớ kh�ng phải tưởng tượng. Bởi v� với c�i nh�n của đức Phật, cuộc sống ch�ng ta lu�n lu�n lưu chuyển biến, kh�ng dừng ở một chặng n�o.

V� dụ như th�n n�y do tứ đại: đất, nước, gi�, lửa hợp th�nh. Tứ đại n�y khi hoại th� n� c�n hay hết? Khi bị hoại th� người ta n�i l� hết. Nhưng lấy một v� dụ kh�c, như c� người đem c�i thau m�c nước để ngo�i nắng hoặc bắc l�n bếp đun s�i. Đun s�i từ s�ng đến trưa th� thau nước đ� kh�. Thấy kh� ai cũng n�i nước hết rồi, nhưng sự thật nước c� hết kh�ng? Đ�u c� hết, chẳng qua từ thể lỏng n� biến th�nh thể hơi. Thể hơi bay l�n gặp lạnh th� rơi xuống th�nh thể lỏng trở lại. Cứ như vậy m� lưu chuyển, đảo l�n lộn xuống. Nếu để ở nhiệt độ trung b�nh th� nước giữ nguy�n thể lỏng, kh�ng bay l�n cũng kh�ng đ�ng lại. Đ� l� phần thuộc về tứ đại tức vật chất, lu�n lu�n chuyển. C�n tinh thần th� sao, n� cũng lu�n lu�n chuyển.

Phật n�i ch�ng ta c� thể tiến l�n, c� thể l�i xuống v� c� thể y nguy�n, kh�ng tiến kh�ng l�i, t�y theo sự hu�n tập của mỗi người. Đức Phật giải th�ch cho ch�ng ta biết nguy�n nh�n n�o đưa ch�ng ta tiến l�n, nguy�n nh�n n�o đẩy ch�ng ta l�i xuống, nguy�n nh�n n�o khiến cho ch�ng ta vẫn giữ nguy�n con người, kh�ng tiến kh�ng l�i. Đ� l� do sự lu�n chuyển về mặt tinh thần, hay n�i kh�c đi l� sự chuyển đổi nghiệp lực của m�nh t�y theo c�ng phu tu tập hay tạo nghiệp của mỗi người.

T�m lại, gi�c ngộ trong nh� Phật l� thấy r� lẽ thực của con người v� mu�n ph�p. Tất cả đều v� ng�, v� thường, kh�ng c� chủ thể v� kh�ng cố định. Hiểu điều n�y rồi ch�ng ta c� thể hiểu qua cương yếu của Phật gi�o.

Trong phạm vi b�i n�y t�i chỉ đưa ra những n�t cơ bản như vậy th�i, phần chi tiết sẽ hẹn ở một dịp kh�c.

2- N�i về Thiền t�ng

C� một �t người nghi�n cứu đạo Phật cho rằng Thiền t�ng l� qu�i thai của Phật gi�o. Đ� l� v� họ kh�ng hiểu đến nơi đến chốn về Thiền t�ng. Sự thực Thiền t�ng ch�nh l� cốt tủy của đạo Phật, chớ kh�ng phải tầm thường. Ở đ�y ch�ng t�i sẽ giải th�ch cho qu� vị hiểu r�.

Trước hết t�i n�i về danh tự, tức t�n của Thiền t�ng. Thiền t�ng, c� chỗ gọi l� Tổ sư Thiền. Tại sao gọi l� Tổ sư Thiền? Bởi v� trong đạo Phật c� hai lối Thiền.

Khi đức Phật c�n tại thế, Ng�i dạy phương ph�p tu Thiền c� t�nh c�ch phổ th�ng, d�ng chung cho người xuất lẫn tại gia, gọi l� Như Lai Thiền. C�n lối tu Thiền chỉ d�nh cho một số người tu như Tổ Ca Diếp chẳng hạn, đ� l� Tổ sư Thiền. Người đạt được yếu chỉ ấy gọi l� Tổ. Như vậy n�i Tổ sư Thiền l� để giản biệt với Như Lai Thiền. Thiền t�ng cũng gọi l� Như Lai tự t�nh thanh tịnh Thiền. Tại sao gọi l� Như Lai tự t�nh thanh tịnh Thiền? Bởi v� Như Lai tức l� Phật; tự t�nh tự l� m�nh, t�nh l� bản t�nh bản t�nh của m�nh hằng gi�c, hằng s�ng, gọi đ� l� Như Lai. Trở về sống với bản t�nh hằng gi�c, hằng thanh tịnh của m�nh th� gọi l� Như Lai tự t�nh thanh tịnh Thiền. Đ� l� phần t�n của Thiền t�ng.

Tổ sư Thiền n�y ph�t nguồn từ đ�u. Điểm

n�y, t�i chỉ n�u đại cương. Trong nh� thiền n�i Tổ đầu ti�n l� Tổ Ca Diếp, người Ấn Độ, sinh đồng thời với đức Phật. Tổ thứ hai l� ng�i A Nan� cho tới Tổ thứ hai mươi t�m l� ng�i Bồ-đề Đạt Ma. Tổ Bồ-đề Đạt Ma truyền Thiền sang Trung Hoa v� trở th�nh Sơ Tổ xứ n�y. Tới Tổ thứ ba mươi ba l� Ng�i Huệ Năng tức Lục Tổ của Trung Hoa. Sau n�y, ch�nh hệ Thiền của ng�i Huệ Năng truyền lần sang Việt Nam. Đ� l� ch�ng t�i lược n�u đại cương.

C� một v�i học giả nghi hệ thống ba mươi ba vị Tổ ở Ấn Độ v� Trung Hoa l� một lối kh�o sắp xếp của ng�i Thần Hội, tức đệ tử ưu t� của Tổ Huệ Năng. Điều đ� mới nghe tưởng như đ�ng nhưng sự thực kh�ng phải vậy. Khi đọc quyển Ma ha Chỉ Qu�n của Đại sư Tr� Khải, ch�ng t�i thấy ng�i Tr� Khải đ� kể về hai mươi t�m vị tổ Ấn Độ rồi. M� ng�i Tr� Khải sinh năm 538, tịch năm 597 T�y lịch, trước ng�i Thần Hội tr�n trăm năm. Như vậy để qu� vị thấy rằng, hệ thống chư Tổ trong nh� Thiền kh�ng phải do ng�i Thần Hội tự dựng l�n m� n� đ� c� từ trước rồi.

Về t�ng chỉ của Thiền t�ng th� trong nh� Thiền thường d�ng bốn c�u của Tổ Bồ-đề Đạt Ma khi sang Trung Hoa, l�m ch�m ng�n của người tu Thiền:

Bất lập văn tự

Gi�o ngoại biệt truyền

Trực chỉ nh�n t�m

Kiến t�nh th�nh Phật.

Nghe như vậy qu� vị lấy l�m lạ, Thiền t�ng kh�ng lập văn tự, truyền ngo�i gi�o l� của Phật, chỉ thẳng t�m người, thấy t�nh th�nh Phật. Đ� kh�ng lập văn tự, truyền ngo�i gi�o l� m� Tổ Đạt Ma lại bảo ng�i Huệ Khả:

- Ngươi n�n lấy bốn quyển kinh Lăng Gi� l�m chỗ ấn t�m.

Đến Tổ thứ s�u l� ng�i Huệ Năng, lại được Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang m� ngộ. Như vậy r� r�ng c� văn tự m� n�i bất lập văn tự. Lại nữa, trong Đại tạng kinh Trung Hoa, s�ch Thiền chiếm nhiều hơn tất cả s�ch của c�c T�ng kh�c. N�i kh�ng lập m� sao nhiều s�ch qu�? Như vậy c� m�u thuẫn kh�ng? T�i sẽ giải th�ch điểm n�y.

Chủ trương nh� Thiền l� chủ trương ph� chấp, kh�ng cho m�nh kẹt v�o một c�i g�. Nhưng ch�ng ta thường nghe học giả thời xưa từng n�i "Văn dĩ tải Đạo". Văn d�ng để chở Đạo. Như vậy văn để chở đạo chớ kh�ng phải văn l� đạo. V� như ch�ng ta c� chiếc xe chở gạo th� gạo đ� kh�ng phải l� chiếc xe, chiếc xe cũng kh�ng phải l� gạo. Nhưng nhờ chiếc xe mới chở được gạo. Văn cũng vậy, văn kh�ng phải l� đạo nhưng nhờ văn m� chở được đạo. Do đ� nếu ch�ng ta cứ ph�n t�ch văn để thấy đạo th� thấy được kh�ng? Chắc chắn l� kh�ng, m� phải nương theo văn để đạt đạo, thấy được đạo. Lại, ch�ng ta cũng thường nghe "� tại ng�n ngoại". Nghĩa l� � lu�n lu�n ở ngo�i lời n�i, chớ kh�ng phải trong lời n�i. Nhiều khi lời n�i ở đ�y m� � ở chỗ kh�c. Cho n�n n�i � tại ng�n ngoại. Hoặc n�i "đắc � vong ng�n", nghĩa l� được � qu�n lời. Phải nắm được �, chớ đừng chấp lời n�i m� hiểu sai �.

Kinh Lăng Nghi�m hay kinh Vi�n Gi�c đều n�i c�u " Tu-đa-la như ti�u nguyệt chỉ", tức l� kinh Phật như ng�n tay chỉ mặt trăng. Nếu ch�ng ta biết ng�n tay l� phương tiện th� nương ng�n tay để thấy mặt trăng. Mặt trăng ở ngo�i ng�n tay chớ kh�ng phải mặt trăng l� ng�n tay. Người n�o cứ nh�n ng�n tay cho l� mặt trăng th� lầm. Cũng vậy, ch�ng ta cứ �m ấp chữ nghĩa trong kinh, cho đ� l� đạo, cho đ� l� Phật th� lầm. Phải nương theo kinh để thấy c�i xa hơn nữa. Đ� mới l� mục đ�ch ch�nh đức Phật muốn nhắm đến.

Lục Tổ Huệ Năng nghe Ngũ Tổ Ho�ng Nhẫn giảng kinh Kim Cang, trong đ� chủ yếu l� hai c�u hỏi của ng�i Tu Bồ Đề. C�u hỏi thứ nhất "L�m sao h�ng phục được t�m? ". C�u thứ hai "L�m sao an trụ được t�m? ". Khi đức Phật giải th�ch về an trụ t�m, Ng�i n�i "bất ưng trụ sắc sinh t�m, bất ưng trụ thinh, hương, vị, x�c, ph�p sanh t�m. Ưng v� sở trụ nhi sanh kỳ t�m". Nghĩa l� kh�ng n�n trụ (trụ l� d�nh mắc) nơi sắc m� sanh t�m Bồ-đề; kh�ng n�n trụ, thinh, hương, vị, x�c, ph�p m� sanh t�m Bồ-đề; n�n kh�ng c� chỗ trụ m� sanh t�m Bồ-đề. Đến đ�y, Lục Tổ bất gi�c thốt l�n: "Đ�u ngờ t�nh m�nh vốn tự thanh tịnh, đ�u ngờ t�nh m�nh vốn kh�ng sanh diệt, đ�u ngờ t�nh m�nh vốn tự đầy đủ, đ�u ngờ t�nh m�nh vốn kh�ng dao động, đ�u ngờ t�nh m�nh hay sanh mu�n ph�p". Như vậy l� Ng�i kh�ng dừng ở chỗ kh�ng d�nh với s�u trần, m� Ng�i c�n thấy xa hơn nữa.

Thế n�n biết văn tự chỉ l� phương tiện chớ kh�ng phải cứu k�nh, nhưng ch�ng ta thường hay mắc kẹt ở văn tự. Tổ Đạt Ma v� kh�ng muốn ch�ng ta mắc kẹt như thế, n�n Ng�i n�i bất lập văn tự. Tuy bất lập văn tự nhưng sao trong nh� Thiền c� rất nhiều ngữ lục. Sở dĩ n�i bất lập l� để ph� chấp, nhiều người kh�ng hiểu rồi cứ chấp v�o c�i bất lập đ�, gặp nhau cứ im re kh�ng n�i g� hết, m� chấp th� vẫn cứ chấp. Đ� l� sai lầm lớn.

Thứ nữa l� gi�o ngoại biệt truyền, tức l� truyền ngo�i gi�o l�. Như tr�n t�i đ� n�i, gi�o l� của Phật l� ng�n tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy mặt trăng l� phải thấu ngo�i gi�o l�, c�n chấp ng�n tay l� mặt trăng th� sẽ thấy sai lầm. Trong nh� Phật c� lắm người cứ tụng hết b�i kinh n�y đến b�i kinh nọ, cho đ� l� tu, l� gi�c ngộ giải tho�t. Đ� l� chấp c�i g�? Chấp ng�n tay cho l� mặt trăng. Gi�o ngoại biệt truyền l� vậy, kh�ng phải n�i gi�o ngoại biệt truyền l� kh�ng d�nh d�ng g� đến gi�o l� của Phật hết. Đ� l� chấp sai lầm.

Cuối c�ng lập trường của Thiền t�ng l� trực chỉ nh�n t�m, kiến t�nh th�nh Phật. Tức chỉ thẳng t�m người, thấy được t�nh m�nh th� th�nh Phật. Nhận ra bản t�nh rồi th� th�nh Phật, tức tự t�nh thanh tịnh Thiền như đ� n�i ở tr�n. Như vậy chữ th�nh Phật ở đ�y kh�ng c� g� lạ hơn l� được gi�c ngộ. Gi�c ngộ c�i g�? Gi�c ngộ được c�i ch�n thật sẵn c� ở con người m�nh. Nhận ra được c�i thực đ� th� kh�ng c�n lệ thuộc v�o hai tướng v� ng� v� v� thường. Tức l� vượt tho��t ra ngo�i v� ng� v� v� thường. V� vậy m� gọi l� Phật, l� giải tho�t.

Cho n�n chủ yếu tu tập của Thiền t�ng l� kiến t�nh, nghĩa l� biết r� c�i giả v� nhận ch�n được c�i thật ngay nơi con người ch�ng ta. Ngay nơi con người ch�ng ta c�i n�o giả m�nh biết giả, c�i n�o thực m�nh biết thực. Nhận được như vậy gọi l� gi�c ngộ.

Trong nh� Phật n�i những g� kh�ng c� chủ thể, kh�ng cố định đều l� giả. Chữ giả đ�y đừng hiểu l� kh�ng c�, kh�ng ngơ. N� c� tạm thời, rồi mất. C�i g� c� tạm thời rồi mất th� gọi l� giả. Như x�t về th�n n�y, ch�ng ta đều biết th�n l� tướng duy�n hợp, tướng duy�n hợp th� kh�ng c� g� bảo đảm bền chắc. N�n ch�ng ta sống ng�y nay th� biết ng�y nay, kh�ng ai bảo đảm m�nh sống đến ng�y n�o, th�ng n�o hết. Bởi v� c�i chết n� đến bất kỳ l�c n�o. Mạng sống ch�ng ta kh�ng bảo đảm th� đ�u c� thật. Kh�ng thật n�n nh� Phật gọi l� giả. Giả l� tạm, n� tuy hiện hữu nhưng kh�ng bền kh�ng l�u, chứ kh�ng phải kh�ng ngơ.

Th�n đ� giả, đến t�m th� sao? Đa số qu� vị cho rằng t�m m�nh l� sự hiểu biết, ph�n biệt. Thật ra trong đạo Phật định nghĩa chữ t�m đơn giản lắm, t�m l� c�i biết. Nhưng c�i biết đ� c� nhiều loại, nhiều thứ. Như qu� vị cho rằng kiến thức hay những suy tư của m�nh l� t�m. Nhưng Phật kh�ng chấp nhận như thế. Tại sao?

Bởi v� kiến thức của m�nh l� do sự hu�n tập m� được. Hồi nhỏ năm mười tuổi ch�ng ta đ�u c� kiến thức, phải kh�ng? Lớn l�n ch�ng ta do học v� hu�n tập n�n c� hiểu biết. Ai hu�n tập ng�nh n�o th� giỏi ng�nh đ�, c�n người kh�ng c� phương tiện hu�n tập th� gọi l� dốt. Như vậy kiến thức l� sự vay mượn từ b�n ngo�i, do người kh�c trao cho. M�nh mượn, m�nh nhặt của người kh�c th� n�i của m�nh sao được. Nếu n�i kiến thức đ� của m�nh th� người m�y c� bộ nhớ do người ta c�i v�o l� của ai? Chẳng qua do b�n ngo�i nhồi v�o th� n� nhớ, nhớ rồi th�nh th�i quen. C�i g� thực của m�nh th� kh�ng phải do b�n ngo�i đem đến. Nếu b�n ngo�i đem đến th� kh�ng phải của m�nh. Cho n�n trong nh� Thiền c� c�u n�i: "Nếu từ ngo�i v�o th� kh�ng phải của b�u trong nh�".

Nếu ch�ng ta cho rằng c�i suy nghĩ l� t�m của m�nh, th� l�c ngưng suy nghĩ, m�nh c� t�m kh�ng? Chẳng lẽ khi đ� m�nh như c�y như gỗ. Khi suy nghĩ th� c� m�nh, khi kh�ng suy nghĩ cũng vẫn c� m�nh. Như vậy m�nh kh�ng phải l� c�i suy nghĩ. Nếu n�i suy nghĩ l� m�nh th� khi t�m lại n�, n� c� kh�ng? N� mất. Như vậy n� chỉ l� b�ng, c� đ� rồi mất đ�, kh�ng thật.

Lại nữa, c�i suy nghĩ của m�nh l� đối tượng bị m�nh biết chớ kh�ng phải thật m�nh. B�y giờ t�i xin hỏi, khi qu� vị suy nghĩ, qu� vị c� biết m�nh đang suy nghĩ kh�ng? Nếu c� người hỏi: "Anh đang l�m g�? " Đ�p: "T�i đang suy nghĩ vấn đề n�y". Rồi l�c kh�ng suy nghĩ g� hết, qu� vị c� biết m�nh kh�ng suy nghĩ kh�ng? Vẫn biết. Vậy th� biết m�nh c� suy nghĩ, biết m�nh kh�ng suy nghĩ, c�i biết đ� l�c n�o cũng c�. Nhưng n� kh�ng phải l� c�i suy nghĩ.

L�u nay ch�ng ta lầm nhận c�i suy nghĩ l� m�nh. C�i suy nghĩ đ� trong nh� Phật thường gọi l� t�m vọng tưởng, n� lu�n lu�n chuyển biến, kh�ng dừng. C�n t�m ch�n thật ch�ng ta lại kh�ng biết. V� kh�ng biết, kh�ng nhận ra t�m ch�n thật n�n ch�ng ta qu�n l�ng n�, th�nh ra c� cũng như kh�ng. Do đ� nh� Thiền cốt l�m sao chỉ cho ch�ng ta biết ngay nơi th�n giả dối n�y c� c�i ch�n thật. C�i ch�n thật đ�, nh� Thiền gọi l� bản lai diện mục, trong kinh th� gọi l� Phật t�nh, l� ch�n t�m. Bản lai diện mục l� g�? Bản l� xưa, lai l� nay, tức l� mặt mắt sẵn c� của m�nh từ xưa đến nay. Bộ mặt ấy đ� c� từ thuở n�o, n�n gọi l� bản lai diện mục.

Như vậy trong nh� Phật chia ra hai loại t�m, chơn t�m v� vọng t�m. Chơn t�m l� t�m hằng biết, hằng s�ng, kh�ng c� sanh diệt. Vọng t�m l� t�m ph�n biệt sinh diệt. L�u nay ch�ng ta chỉ nhận t�m sinh diệt cho đ� l� t�m m�nh, c�n t�m hằng biết kia ch�ng ta lại qu�n mất. Qu� vị sẽ thắc mắc t�m hằng biết đ� như thế n�o, ở đ�u, hiện giờ m�nh c� hay kh�ng? T�i xin đơn cử một �t c�u chuyện nho nhỏ để chỉ cho qu� vị thấy.

Trong kinh Lăng Nghi�m, đức Phật c� n�i với ng�i A Nan t�nh thấy l�c n�o cũng c�. Khi ngủ cũng c� thấy, cho tới con mắt m� cũng thấy nữa. Ng�i A Nan ngạc nhi�n qu�! Con mắt m� l�m g� thấy?

Khi ngủ qu� vị c� thấy kh�ng? Ch�ng ta cứ cho rằng khi ngủ kh�ng thấy, nhưng thật ra nếu ch�ng ta đang ngủ, c� ai mở đ�n th� m�nh thấy s�ng liền, n�n mới giật m�nh thức dậy. Như vậy c�i thấy lu�n hiện hữu, nhưng v� đ�ng k�n cửa mắt cho n�n thấy mờ. Cũng vậy, khi ngủ tai ch�ng ta c� nghe kh�ng? Nếu kh�ng nghe th� những tiếng động, tiếng đồng hồ reo ch�ng ta đ�u c� nghe. Do nghe n�n mới thức dậy. Như vậy kể cả khi ngủ, khi thức cũng vẫn c� t�nh thấy, t�nh nghe.

Nhưng n�i người m� m� thấy th� lạ qu�. Trong kinh Phật n�i người m� cũng thấy, ng�i A Nan kh�ng chấp nhận. Phật bảo:

- �ng ra đường hỏi mấy người m�, xem trước mắt họ thấy c�i g�?

Ng�i A Nan n�i:

- Nếu con hỏi th� họ n�i, trước mắt thấy tối đen.

Phật n�i:

- Người m� trước mắt thấy tối đen. Với người s�ng mắt, ban đ�m v�o ph�ng tối cũng thấy trước mắt tối đen. Hai c�i thấy đ� c� kh�c nhau kh�ng?

Người m� thấy tối đen v� người s�ng mắt khi kh�ng c� �nh s�ng hay �nh đ�n, họ cũng thấy tối đen. Người m� thấy tối đen th� n�i kh�ng thấy, c�n người s�ng mắt thấy tối đen th� n�i thấy tối đen. Sao lạ vậy? Cả hai đều thấy tối đen, m� một b�n n�i thấy, một b�n n�i kh�ng thấy. Thấy tối đen l� thấy rồi, đ�u phải kh�ng thấy.

Nơi ch�ng ta đ� c� thấy tức l� c� biết, c� nghe tức l� c� biết. C�i hằng biết đ� kh�ng bị biến động m� ch�ng ta qu�n, ch�ng ta chỉ biết được c�i lu�n lu�n biến động. Khi qu� vị suy nghĩ, đ� l� một d�ng biến động. Nếu ch�ng ta hằng thấy, hằng biết m� kh�ng nghĩ g� hết, đ� mới l� kh�ng biến động. C� thấy, c� biết tức l� c� t�m. T�m đ� kh�ng động.

Cho n�n trong nh� Thiền c� những c�u chuyện mới nghe qua, qu� vị cảm thấy như ngớ ngẩn, v� l�. Như c� người đệ tử của ng�i Nam Tuyền - Phổ Nguyện ở Trung Hoa, tức l� Lục Ho�n Đại Phu. �ng đặt c�u hỏi:

- C� người nu�i con ngỗng trong một c�i b�nh, ở dưới rộng, ở tr�n hẹp. Khi n� lớn l�n đầy k�n c�i b�nh. B�y giờ l�m sao đem con ngỗng ra m� đừng đập bể c�i b�nh?

Qu� vị c� c�ch n�o đem ra được kh�ng? Khi đ� ng�i Nam Tuyền trả lời một c�ch lạ l�ng, Ng�i k�u:

- Ho�n đại c�ng!

- Dạ.

- Ra rồi!

Qu� vị thấy ra chưa? Đ� l� thủ thuật tiếp người của nh� Thiền.

Một chuyện nữa. Tướng quốc B�i Hưu t�m đến ng�i Ho�ng B�, tức thầy Tổ L�m Tế. �ng đi quanh ch�a thấy tượng c�c vị Th�nh tăng, liền hỏi thầy Trụ tr�:

- Tượng ở đ�y m� Th�nh tăng ở đ�u?

Thầy Trụ tr� trả lời kh�ng được. �ng hỏi ở đ�y c� Thiền sư kh�ng, xin mời trả lời d�m. Thầy Trụ tr� mời ng�i Ho�ng B� l�n, B�i Hưu hỏi lại:

- Vừa rồi t�i c� hỏi thầy Trụ tr� một c�u m� Ng�i tiếc lời kh�ng n�i. Hỏi rằng, tượng Th�nh tăng ở đ�y m� Th�nh tăng ở đ�u?

Ng�i Ho�ng B� liền k�u:

- B�i Hưu!

- Dạ!

Ng�i n�i:

- Ở đ�u?

Nghe xong B�i Hưu đại ngộ, thấy được Th�nh tăng.

Những thủ thuật trong nh� Thiền như vậy đ�. Mới nghe qua dường như kh�ng g� d�nh d�ng hết, nhưng kỳ thực l� chỉ chỗ tột c�ng. Ai nhận được th� nhận, kh�ng nhận được th� th�i, kh�ng cho sanh hiểu.

Một trường hợp kh�c. Ng�i B� Trượng - Ho�i Hải, l� vị Tổ nổi tiếng với c�u "Nhất nhật bất t�c nhất nhật bất thực", nghĩa l� một ng�y kh�ng l�m một ng�y kh�ng ăn. L�c Ng�i c�n nhỏ l� đệ tử của M� Tổ Đạo Nhất. Một h�m hai thầy tr� đi dạo vườn, thấy c� một bầy chim bay ngang hư kh�ng, M� Tổ hỏi:

- C�i g� đ�?

- Bầy vịt trời.

Một hồi Tổ hỏi lại:

- Bay đi đ�u?

Ng�i B� Trượng trả lời:

- Bay qua.

Nghe vậy, M� Tổ nắm lỗ mũi ng�i B� Trượng k�o mạnh một c�i, Ng�i la l�n một tiếng thất thanh. M� Tổ bảo:

- Sao kh�ng n�i bay qua mất đi.

Ngay đ� Ng�i liền ngộ. Qu� vị thấy lối dạy đạo của thầy tr� trong nh� Thiền lạ l�ng kh�ng? �ng thầy nh�o mũi học tr�, vậy m� học tr� ngộ. Ngộ c�i g�? Đ� l� những điều t�i muốn chỉ cho qu� vị thấy. Bởi v� trọng t�m của Thiền t�ng cốt vạch b�y cho ch�ng ta thấy c�i ch�n thật hằng hữu nơi m�nh. Nhưng c�i đ� kh�ng thể giải th�ch được. Giải th�ch l� trật. Tức l� mỗi người phải m� mẫm rồi ph�t minh th�i. Ở đ�y, t�i n�i chuyện với qu� vị lần đầu, buộc l�ng phải giải th�ch ch�t �t cho qu� vị quen với lối dạy đạo của nh� Thiền. Sau th� kh�ng cần phải giải th�ch nữa, để qu� vị tự hiểu sẽ tốt hơn.

Chuyện con ngỗng nu�i trong c�i b�nh, l�m sao đem ngỗng ra m� kh�ng l�m tổn hư c�i b�nh? Thiền sư k�u, cư sĩ dạ một tiếng l� con ngỗng ra rồi. Con ngỗng v� c�i b�nh dụ cho c�i g�? Con ngỗng l� dụ cho t�m thấy biết của m�nh, c�i b�nh dụ cho th�n n�y. T�m v� th�n kh�ng rời nhau, như con ngỗng đầy chật c�i b�nh.

Nhưng l�m sao biết trong th�n n�y c� t�m hằng hữu? Khi nghe hỏi Thiền sư biết liền, n�n kh�ng trả lời m� Ng�i chỉ k�u: "Ho�n đại c�ng! ". Cư sĩ ứng thinh: "Dạ". Ng�i n�i: "Ra rồi". Vừa ph�t tiếng k�u liền c� tiếng ứng thinh đ�p lại, vậy c�i n�y kh�ng hằng hữu l� g�? Nhận được c�i hằng hữu n�y th� con ngỗng ra rồi. Tức l� ngay nơi th�n x�c thịt n�y lu�n c� c�i hằng hữu hiện tiền.

Chuyện của ng�i Ho�ng B� cũng tương tự như vậy. Chuyện ng�i B� Trượng lại kh�c. Bầy chim bay qua mất, nhưng c�i thấy bầy chim bay qua đ�u c� mất! Trong nh� Thiền hay d�ng lỗ mũi để biểu trưng cho c�i ch�n thật. Bởi v� lỗ mũi tượng trưng cho mạch sống của ch�ng ta, nhưng ch�ng ta kh�ng thấy được. N� ở trước mắt m� ch�ng ta kh�ng thấy, chỉ thấy người, thấy cảnh, chớ kh�ng thấy lỗ mũi m�nh. T�nh thấy của m�nh cũng hiện hữu như vậy, nhưng ta chỉ nhớ bầy chim m� qu�n đi t�nh thấy. M� Tổ vặn lỗ mũi bảo "sao kh�ng n�i bay qua mất đi? " để nhắc c�i hiện hữu đ�. Ng�i B� Trượng liền thấy. Như vậy th� chim bay mất chứ m�nh đ�u c� mất. Nhận ra được c�i ấy l� ngộ.

Nh� Thiền sử dụng phương tiện đ� để ch�ng ta thấy được c�i ch�n thật của m�nh ở ngay ch�nh nơi m�nh, chớ kh�ng bao giờ vắng. Bởi v� ch�ng ta thấy sắc cứ lo chạy theo sắc, nghe tiếng chạy theo tiếng m� qu�n c�i hay thấy, hay nghe. Trong khi ch�ng ta từng sống, từng d�ng n� b�n m�nh, m� lại kh�ng nhận ra n�. Thật đ�ng tiếc!

V� vậy Thiền t�ng sử dụng những phương tiện c� t�nh c�ch lạ l�ng để ch�ng ta kh�ng bị mắc kẹt trong phương tiện. Chủ yếu l� l�m sao cho h�nh giả thấy r�, biết r� được c�i ch�n thật ngay trong c�i hư giả n�y. Nhận ra được c�i ch�n thật đ� gọi l� kiến t�nh hay l� gi�c ngộ. Đ� l� mục đ�ch ch�nh của c�c Thiền sư khi dạy đạo vậy.

3- Thiền t�ng truyền v�o Việt Nam

Ch�ng ta thường n�i Thiền t�ng v� Phật gi�o Việt Nam, nhưng theo c�i nh�n của ch�ng t�i th� n�i Thiền t�ng l� n�i tới Phật gi�o Việt Nam. Hay ngược lại n�i Phật gi�o Việt Nam l� n�i tới Thiền t�ng. Tại sao ch�ng t�i khẳng định như vậy?

Bởi v� đầu ti�n Thiền t�ng do Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền v�o Việt Nam năm 580 TL. Như vậy cuối thế kỷ thứ s�u Thiền t�ng đ� c� mặt ở Việt Nam. Kế đ� l� Thiền sư V� Ng�n Th�ng truyền v�o năm 820 TL. Sau đ� Thiền sư Thảo Đường truyền v�o năm 1069 TL. Cuối c�ng T�ng T�o Động, T�ng L�m Tế truyền v�o đ�ng trong, đ�ng ngo�i v�o thế kỷ thứ 17. Như vậy ch�ng ta c� thể n�i rằng Thiền t�ng đ� c� mặt tr�n đất nước Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ s�u.

Nếu ch�ng ta nghi�n cứu lịch sử kỹ sẽ thấy, trước khi Thiền t�ng từ c�c Sư Trung Hoa truyền v�o Việt Nam th� đo�n chư Tăng Ấn Độ sang truyền gi�o ở đất nước ta, cũng truyền Thiền nhưng kh�ng phải l� Thiền t�ng. Điều đ� chắc qu� vị cũng thấy r�. Như vậy tại sao t�i cho rằng n�i Thiền t�ng l� n�i đến Phật gi�o Việt Nam hay ngược lại. R� r�ng sử liệu c�n ghi lại, những nh� sư nổi tiếng truyền b� đạo l� hoặc l�m to�n l� Thiền sư. Trước đời L� �ch nước lợi d�n v.v.. Trần v� từ đời L� Trần về sau cũng như thế. Đ� l� n�i thời trước.

Hiện giờ c� nhiều người tưởng chừng như Thiền t�ng kh�ng c� mặt tr�n đất nước Việt Nam, nhưng ch�ng t�i thấy kh�c. Nếu ch�ng ta chịu kh� đến những ng�i ch�a cổ, t�m c�c b�i vị thờ Tổ, th� kh�ng b�i vị n�o m� chẳng n�i kế thừa T�ng L�m Tế hoặc T�ng T�o Động. Trong T�ng L�m Tế c� hai nh�m l� L�m Tế gia phổ v� L�m Tế ch�nh t�ng. Nếu L�m Tế th� l� Thiền t�ng rồi, T�o Động cũng l� Thiền t�ng. Những vị H�a thượng nổi tiếng hiện nay cũng thuộc c�c T�ng đ�.

Như vậy c� thể n�i rằng qu� Ng�i đều ở trong hệ Thiền t�ng. Nhưng phương ph�p tu h�nh c� thể uyển chuyển kh�c đi một ch�t. Song sự thực đều nằm trong hệ Thiền t�ng cả. Nếu tất cả chư vị cao Tăng đều xuất th�n từ Thiền t�ng th� Phật gi�o Việt Nam đ�u kh�ng phải l� Thiền t�ng? Như vậy n�i Thiền t�ng l� n�i tới Phật gi�o Việt Nam rồi. Đ� l� t�i n�i tr�n phương diện truyền b� từ trước đến nay theo chiều d�i của lịch sử.

Nếu ch�ng ta nghĩ cho thật kỹ mới thấy tầm v�c quan trọng của Phật gi�o, c� một sự gắn b� giữa Phật gi�o với d�n tộc Việt Nam. Sự gắn b� đ� như thế n�o? Như c�c Thiền sư trước thời Đinh, L� tức trước thời những vị đứng ra gi�nh độc lập cho xứ sở, c�c Ng�i đều c� sự ủng hộ hay chuẩn bị cho nền độc lập của đất nước. Chẳng hạn như ng�i La Qu� An, rồi sau n�y c� ng�i Đỗ Ph�p Thuận, Ng�i Khu�ng Việt. Tới đời L�, c� ng�i Vạn Hạnh v.v... To�n l� c�c Thiền sư đứng ra g�nh v�c một phần trong việc gi�nh độc lập cho xứ sở. Điều đ�, nếu qu� vị c� nghi�n cứu chắc cũng thấy r�.

C� nhiều người đặt c�u hỏi: Thời đ� kh�ng c� c�c nh� Nho t�i ba để bi�n ch�p hoặc trao đổi thư từ qua lại với triều đ�nh Trung Hoa hay sao, m� phải nhờ chư sư đảm đang việc n�y? Ch�ng ta nhớ lại, l�c Sĩ Nhiếp cai trị Việt Nam, �ng đ� đ�o tạo một số người c� khả năng về văn học để gi�p cho việc cai trị của �ng. Đồng thời �ng cũng cho người sang Trung Hoa học tập v� thi cử đỗ đạt đ�ng ho�ng. Như vậy c� rất nhiều người giỏi chữ H�n, nhưng sao khi nước nh� độc lập th� kh�ng thấy nh� Nho n�o đứng ra l�nh đạo hoặc gi�p việc cho triều đ�nh?

Bởi v� Sĩ Nhiếp cố t�nh dạy người ta th�ng thạo văn tự chữ nghĩa để gi�p cho sự cai trị của �ng. Tức l� tuyển người cai trị chứ kh�ng phải dạy văn h�a cho người bị trị. N�n những người dưới sự gi�o dục của �ng hay của nh� Nho ở Trung Hoa đều kh�ng thể đứng về ph�a nh�n d�n Việt Nam. Cho n�n khi nước nh� gi�nh được độc lập, th� c�c Vua đầu như Ng� Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh� đều kh�ng thể n�o d�ng những nh� Nho n�y cả.

Chỉ c� chư Sư ở ch�a mới ch�nh thống l� người Việt Nam, lo cho d�n tộc Việt Nam. Chư Sư Phật gi�o cũng học chữ H�n, nhưng kh�ng phải với mục đ�ch cai trị m� chỉ để hiểu kinh điển th�i. N�n c�c Ng�i c� nền văn h�a độc lập, kh�ng bị nhồi sọ bởi người cai trị. V� vậy c�c triều đại Vua ta rất trọng dụng qu� Ng�i, nhất l� tr�n mặt văn h�a. V� thế Phật gi�o ngay từ đầu, đ� �t nhiều gắn liền với d�n tộc rồi. Như vậy sự c�n mất của đất nước tức l� sự c�n mất của Phật gi�o. Đ� l� l� do tại sao c�c Thiền sư thời đ� được dắc dụng trong triều đ�nh.

4- T�ng chỉ tu h�nh của Thiền t�ng

T�ng chỉ v� sự tu h�nh của c�c Thiền sư truyền v�o Việt Nam c� lệch, c� kh�c với T�ng chỉ của c�c Thiền sư ở Trung Hoa, Ấn Độ kh�ng? N�i c�ch kh�c, n� c� kh�c với kinh điển của nh� Phật kh�ng?

Đầu ti�n ch�ng t�i n�i về ng�i Khu�ng Việt. Thiền sư Khu�ng Việt sinh năm 933, tịch năm 1011. Ng�i l� người được c�c vua L� rất k�nh trọng v� xem như Th�i sư, gi�p việc văn h�a. Về phần tu h�nh, ch�ng ta c�n giữ được một b�i kệ chữ H�n, Ng�i để lại khi sắp tịch. B�i kệ đ� như sau:

Mộc trung nguy�n hữu hỏa

Hữu hỏa, hỏa ho�n sanh

Nhược vị mộc v� hỏa

Toản toại h� do manh?

Mộc trung nguy�n hữu hỏa nghĩa l� trong c�y vốn c� lửa. Hữu hỏa, hỏa ho�n sanh, bởi c� lửa cho n�n lửa ph�t sanh. Nhược vị mộc v� hỏa, nếu bảo rằng c�y kh�ng lửa. Toản toại h� do manh, th� d�i cọ l�m sao lửa ph�t sanh được.

Như vậy qua b�i kệ đ�, Ng�i muốn n�i g�? Đoạn trước t�i đ� n�i về Thiền t�ng. Thiền t�ng cốt chỉ cho ch�ng ta thấy được nơi con người của m�nh c� sẵn t�m ch�n thật. N� c� sẵn nhưng bị những thứ hư dối phủ che l�m mờ đi, n�n m�nh kh�ng thấy. V� vậy Phật n�i: "của b�u trong nh� m� kh�ng biết", phải chịu l�m kẻ ăn m�y lang thang.

Ch�ng ta đọc sử đức Phật Th�ch Ca đều biết trước khi th�nh đạo, Ng�i đi tham vấn một số thầy dạy c�c phương ph�p thiền định từ sơ thiền đến tứ thiền, từ Kh�ng v� bi�n xứ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Song Ng�i thấy những ph�p đ� chưa thỏa m�n được mong mỏi của Ng�i. N�n cuối c�ng Ng�i đến cội c�y Bồ-đề tọa thiền suốt bốn mươi ch�n ng�y đ�m. Đến đ�m thứ bốn mươi ch�n t�m Ng�i ho�n to�n thanh tịnh, từ đ� ph�t ra được Tam minh, Lục th�ng. Thế l� Ng�i gi�c ngộ th�nh Phật. Khi gi�c ngộ rồi Ng�i tuy�n bố: "Ta học đạo kh�ng thầy". Đ� kh�ng thầy th� l�m sao gi�c ngộ? Trong nh� Phật thường n�i Giới, Định, Tuệ. Định rồi tr� tuệ s�ng, chớ kh�ng phải ai l�m cho m�nh s�ng. Tr� tuệ do t�m định m� s�ng, th� tr� tuệ đ� ở đ�u ra? Hẳn l� từ nơi m�nh rồi. Nếu t�m định th� tr� s�ng, chớ kh�ng từ đ�u đến cả.

Khi n�o ch�ng ta c� vấn đề phiền to�i, lo lắng, tự nhi�n m�nh cảm thấy đầu �c kh�ng được s�ng suốt. L�c ngồi y�n tĩnh lại, những việc cần nhớ, cần biết từ từ hiện ra r� r�ng. Như vậy c�i nhớ biết ấy từ đ�u ra? Từ y�n tĩnh m� ra. Cho n�n trong nh� Thiền hay v� dụ: Như nước lấy từ hồ ao đổ v�o khạp rất đục. Sự vật b�n ngo�i hoặc b�ng ch�ng ta kh�ng hiện trong khạp nước đ�. Nhưng nếu để nước đục lắng lại, c�c chất cặn b� l�ng xuống th� nước trong trở lại. L�c đ� đứng nh�n v�o, ch�ng ta thấy cả mặt m�y của m�nh trong ấy, sự vật b�n ngo�i ở gần đ� cũng đều phản ảnh trong mặt nước.

Như vậy bản chất của nước l� trong hay đục? Ch�ng ta thấy đục liền n�i nước đục, chứ thật ra bản chất của nước kh�ng c� đục. Nước từ những hạt mưa trong hư kh�ng rơi xuống, cuộn theo bụi đất đọng lại th�nh hồ ao n�n đục. Những thứ đất bụi đ� lắng xuống th� nước trở th�nh trong. Nước trở th�nh trong l� mới c� hay trong bản chất của n� đ� trong? Do bản chất n� trong, n�n lắng xuống mới trong trở lại được. Nếu bản chất n� kh�ng trong th� d� c� l�ng bao nhi�u n� vẫn đục như thường. Cũng như n�i trong c�y c� lửa. C� lửa m� kh�ng ph�t động th� lửa kh�ng bao giờ ph�t. Do ch�ng ta d�ng phương tiện cọ, d�i� n� mới ph�t lửa. Như vậy khi c�y ph�t lửa kh�ng phải l� ngẫu nhi�n, m� n� đ� c� sẵn. Nếu lửa kh�ng c� sẵn b�n trong th� ch�ng ta cọ, d�i ng�n năm cũng kh�ng bao giờ c� lửa.

Cũng vậy, nếu đức Phật Th�ch Ca kh�ng c� t�nh gi�c sẵn th� Ng�i nhập định trong bao nhi�u năm cũng kh�ng s�ng được. Do trước Ng�i c� t�nh gi�c, n�n khi định t�m th� t�nh gi�c ph�t s�ng. N�n nh� Phật n�i tất cả ch�ng sanh đều c� Phật t�nh l� vậy. Phật t�nh tuy c� sẵn nơi mọi người, nhưng c� người l�m Phật, c� người kh�ng l�m Phật. Tại sao? Tại m�nh kh�ng d�ng phương tiện để lọc, để nắm cho n�n n� kh�ng ph�t ra. Như c�y n�o cũng c� lửa, c�y kh� cũng c� lửa, nhưng nếu kh�ng c� phương tiện d�i, cọ th� kh�ng bao giờ n� ph�t lửa.

Ch�ng ta thấy đức Phật Th�ch Ca thị hiện trong c�i đời n�y rất l� con người. Ng�i sinh ra, lớn l�n, c� gia đ�nh, c� vợ c� con. Như vậy Ng�i c� kh�c g� m�nh đ�u? Sống trong cảnh gi�u sang, vua ch�a, Ng�i cũng thụ hưởng như bao nhi�u �ng ho�ng. Nhưng khi thức tỉnh đi tu, Ng�i bu�ng bỏ tất cả v� nỗ lực tu tập, chuy�n t�m thiền định cho đến khi tr� tuệ ph�t sinh, Ng�i liền gi�c ngộ giải tho�t, th�nh Phật.

Tất cả ch�ng ta khi ở trong cảnh dục lạc th� ch�ng ta cũng nhiễm. Nhưng khi thức tỉnh ch�ng ta đi tu, tu được t�m định th� ch�ng ta cũng s�ng như Ng�i. Ng�i l� một con người c� sẵn t�nh gi�c, cho n�n khi loạn tưởng, phiền n�o lắng xuống th� t�nh gi�c hiện. Ch�ng ta l� con người, phiền n�o vọng tưởng lắng xuống th� t�nh gi�c cũng hiện s�ng như Ng�i, kh�ng nghi ngờ.

V� vậy Phật n�i rằng Ng�i c� Phật t�nh, ch�ng ta cũng c� Phật t�nh. Chỉ kh�c nhau ở chỗ biết d�ng phương tiện khai th�c, hay kh�ng biết d�ng phương tiện khai th�c th�i. Ch�ng ta thấy Phật rất l� con người, Ng�i cũng như ch�ng ta nhưng Ng�i kh�o khai th�c n�n được gi�c ngộ. C�n ch�ng ta kh�ng kh�o khai th�c n�n chưa được gi�c ngộ. Đạo Phật cốt chỉ cho ch�ng sanh gi�c ngộ nơi m�nh c� t�nh Phật. Nhận ra được điều đ� gọi l� ngộ đạo, l� kiến t�nh v.v... Đ�y ch�nh l� những yếu chỉ trong nh� Phật hay nh� Thiền nhắm đến.

Như vậy, c�i nh�n c�i tu của Ng�i Khu�ng Việt l�, biết m�nh c� t�nh Phật cho n�n khai th�c đ�ng chỗ ấy, tự nhi�n th�nh tựu được mục đ�ch ch�nh của m�nh, l� gi�c ngộ giải tho�t Qua b�i kệ của Ng�i, ch�ng ta thấy rất l� r� điều n�y.

Tới Thiền sư Vạn Hạnh. Kh�ng biết Ng�i sanh năm n�o, chỉ biết Ng�i tịch năm 1018. Như vậy ng�i Khu�ng Việt nằm trong hệ của ng�i V� Ng�n Th�ng. C�n Thiền sư Vạn Hạnh nằm trong hệ của ng�i Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ngang đ�y, t�i n�i sơ lược về ng�i Tỳ Ni Đa lưu Chi một ch�t, để qu� vị l�m c�ng t�c nghi�n cứu c� th�m tư liệu tham khảo.

Ng�i Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Ấn, sang Trung Hoa học đạo. Ng�i gặp Thiền sư Tăng X�n. Theo truyền thừa của nh� Thiền, ng�i Tăng X�n l� Tổ thứ ba Trung Hoa. Ngộ đạo ở Ng�i Tăng X�n rồi, ng�i Tỳ Ni Đa Lưu Chi mới sang Việt Nam. Như vậy Ng�i l� nh�nh từ Tổ Tăng X�n m� ra, ngang với Tổ thứ tư ở Trung Hoa l� ng�i Đạo T�n. N�n c� thể n�i Ng�i tương đương với Tổ Đạo T�n vậy.

C�n d�ng V� Ng�n Th�ng th� hơi xa hơn. Từ Tổ thứ tư l� Tổ Đạo T�n đến Tổ thứ năm l� Tổ Hoằng Nhẫn, Tổ thứ s�u l� Tổ Huệ Năng. Đến đ�y ngưng truyền y b�t, kh�ng gọi l� Tổ nữa, c�c vị về sau gọi l� Thiền sư. Dưới Lục Tổ c� những vị đệ tử nổi tiếng, ph�n l�m hai hệ quan trọng ở Trung Hoa l�, hệ của ng�i Thanh Nguy�n H�nh Tư v� hệ của ng�i Ho�i Nhượng ở Nam Nhạc. Dưới ng�i Nam Nhạc Ho�i Nhượng, c� một đệ tử cự ph�ch l� M� Tổ Đạo Nhất. Dưới M� Tổ c� B� Trượng Ho�i Hải. Ng�i B� Trượng mới sinh ra ng�i V� Ng�n Th�ng. Như vậy ng�i V� Ng�n Th�ng nằm dưới hệ Tổ Huệ Năng, nhằm đời thứ tư sau Lục Tổ. Ng�i V� Ng�n Th�ng ngộ nơi c�u "T�m địa nhược kh�ng, tuệ nhựt tự chiếu" của Tổ B� Trượng. Nghĩa l� đất t�m nếu trống kh�ng th� mặt trời tr� tuệ tự s�ng. Ngộ rồi, sau Ng�i mới sang Việt Nam truyền đạo.

Qu� vị thấy như đức Phật do t�m an định, kh�ng c� những niệm phiền n�o dấy khởi, gọi l� t�m kh�ng. Từ t�m kh�ng n�y m� tr� tuệ chiếu s�ng, n�n n�i mặt trời tr� tuệ tự s�ng soi. Như vậy c�c Tổ sư cũng đều thể hội giống như đức Phật cả, đ�u c� g� kh�c nhau.

Trở lại b�i kệ của Thiền sư Vạn Hạnh. B�i kệ ấy như thế n�y:

Th�n như điện ảnh hữu ho�n v�

Vạn mộc Xu�n vinh Thu hựu kh�

Nhậm vận thịnh suy v� bố �y

Thịnh suy như lộ thảo đầu ph�

Đọc bốn c�u kệ đ� ch�ng ta thấy thật giản đơn, nhưng c� nhiều người hiểu lầm b�i kệ n�y hơi bi quan.

Th�n như điện ảnh hữu ho�n v�, nghĩa l� th�n người như lằn điện chớp, như chiếc b�ng, c� đ� rồi trở về kh�ng. Vạn mộc Xu�n vinh Thu hựu kh�, tức l� mu�n c�y cỏ m�a Xu�n th� tươi tốt, m�a Thu th� kh� h�o. Hai c�u n�y nghe đều bi quan hết, phải kh�ng? Con người rất tạm bợ, rất mỏng manh, sự vật b�n ngo�i cũng v� thường, kh�ng thiệt. Nh�n đời bằng c�ch đ� tự nhi�n thấy bi quan.

Tới hai c�u sau "Nhậm vận thịnh suy v� bố �y, nghĩa l� mặc t�nh sự thịnh suy, kh�ng c� sợ h�i. Thịnh suy như lộ thảo đầu ph�, sự thịnh suy chẳng kh�c n�o như hạt sương tr�n đầu ngọn cỏ c� g� bền chắc. Nhiều người nghe Phật gi�o n�i cuộc đời l� khổ, l� hư giả n�n cho rằng Phật gi�o bi quan. N�i như vậy cũng c� l�, v� dụ Phật n�i nước mắt ch�ng sanh nhiều như bể cả, nghe buồn chết! Một giọt nước mắt l� một nỗi khổ đau, m� nước mắt đầy như bể cả th� khổ đau nhiều biết chừng n�o m� kể.

Sự thực kh�ng phải vậy, n�n qu� vị thấy đạo Phật n�i khổ m� nh�n qu� thầy l�c n�o cũng cười. C�n thế gian cho rằng cuộc đời l� hạnh ph�c m� sao nhiều người ưu tư qu�? Chỗ n�i hạnh ph�c m� người ta lại kh�ng vui, c�n Phật n�i khổ m� người tu lại cười? Điều ấy xuất ph�t từ chỗ sai biệt n�o?

Bởi v� trong nh� Phật n�i khổ để ch�ng ta t�m c�ch diệt khổ, chớ kh�ng phải n�i khổ để chịu khổ. Cho n�n n�i khổ m� biết diệt khổ th� hết khổ, hết khổ l� vui chứ g�? C�n người đời vui trong c�i khổ, n�n dễ buồn ch�n, th�nh ra nhiều ưu tư. Buồn ch�t ch�t th� c�n ưu tư, nếu buồn ch�n qu� th� muốn tự tử� đủ thứ hết. Đ� l� tại v� lầm, lầm tưởng khổ� l� vui, n�n hết vui đ�m ra khổ. Phật n�i bản chất cuộc đời thực sự l� khổ. Biết như thế rồi, ch�ng ta phải phăng t�m l� do g� m� khổ. Từ đ� t�m c�ch diệt nguy�n nh�n tạo khổ, th� sẽ dứt nh�n khổ, dứt hết nh�n khổ l� vui. Như vậy nh� Phật n�i khổ để được vui, chớ kh�ng phải n�i khổ để rồi ch�n, rồi khổ.

N�i cuộc đời giả dối, th�n n�y tạm bợ cũng vậy. N�i giả dối, tạm bợ th� người ta dễ ch�n đời lắm, nhưng trong đạo Phật kh�ng phải thế. N�i th�n cảnh tạm bợ, giả dối l� n�i lẽ thật cho m�nh biết. Nhưng khi nhận được lẽ thật đ� rồi ch�ng ta phải l�m sao? Biết được lẽ thật rồi, ch�ng ta mới nhận hai tr�ch nhiệm.

Tr�ch nhiệm thứ nhất l� ng�y n�o ch�ng ta c�n c� mặt, c�n khỏe mạnh th� phải l�m sao lợi m�nh lợi người, chớ kh�ng để mất th� giờ. V� n� tạm, n� ngắn, n�n ng�y n�o phải sống cho trọn vẹn ng�y đ�, đừng chần chờ để mất đi rất uổng. N�i giả dối để m�nh th�c tiến, vươn l�n. Chớ kh�ng phải n�i giả dối để m�nh ch�n, m�nh than thở hay bu�ng xu�i. N�n n�i giả dối để m�nh phấn đấu, vượt l�n. Ng�y n�o m�nh c� mặt l� phải xứng đ�ng ng�y đ�, giờ n�o m�nh c� mặt l� phải l�m tr�n bổn phận giờ đ�. Đ� l� tinh thần tr�ch nhiệm của đạo Phật.

Tr�ch nhiệm thứ hai l� khi biết cuộc đời n�y giả dối, tạm bợ th� m�nh nhận chịu c�c nghiệp m�nh đ� tạo một c�ch can đảm trước khi ra đi. Khi m�nh biết n� giả dối th� chuyện c�n, mất c� đ�ng sợ nữa kh�ng? Kh�ng đ�ng sợ! Cho n�n qu� vị đọc sử thấy Thiền sư l�c gần chết c�c Ng�i cười, c�n ch�ng ta gần chết th� kh�c. Vậy th� tại sao cũng mất th�n m� một b�n kh�c, một b�n cười?

Chẳng qua người thấy th�n l� thật, l� l�u d�i n�n cứ đinh ninh như vậy, bất thần phải tới chỗ kết th�c th� sinh hoảng hốt, sợ sệt. Do thương tiếc n� qu� cho n�n phải kh�c. C�n người biết r� th�n giả dối tạm bợ, n� đến rồi n� sẽ đi, n� c� rồi n� sẽ mất. Như vậy chuyện c�n mất l� chuyện đương nhi�n, c� g� đ�u m� sợ, c� g� đ�u m� lo cho n�n vui cười. Đ� l� � nghĩa về lẽ thật trong đạo Phật.

Cho n�n b�i thơ của ng�i Vạn Hạnh n�i th�n như lằn chớp, như chiếc b�ng. Tất cả sự vật đều biến chuyển v� thường, c� g� đ�u m� quan trọng. D� c�i tốt, c�i xấu, c�i dở, c�i hay đến với m�nh rồi n� cũng kh�ng c�n, th� cứ mặc t�nh n�, kh�ng g� quan trọng hết. Do kh�ng quan trọng n�, n�n kh�ng sợ h�i, kh�ng khủng khiếp.

N�n ng�i Vạn Hạnh n�i như sương tr�n đầu ngọn cỏ, thấy đ� rồi mất đ�, c� g� đ�u phải sợ. Như vậy nhờ thấy được l� tạm bợ, giả dối của kiếp người, của sự vật n�n ta c� một sức mạnh, kh�ng biết sợ h�i. Người kh�ng thấy được lẽ thật n�n cứ tưởng tượng. Do tưởng tượng n�n hay sanh hoảng hốt.

T�i dẫn hai b�i kệ n�y để qu� vị thấy người tu Thiền phải biết: Một l� nhận thấy ngay nơi m�nh c�i g� giả, biết l� giả. Hai l� phải nhận ra được c�i thật trong c�i giả đ�. Do thấy giả cho n�n ch�ng ta sẵn s�ng đứng trước những c�i giả dối m� kh�ng ngại, kh�ng sợ. C�c ch�a xưa hay đọc b�i kệ:

Thị nhựt dĩ qu�

Mạng diệc t�y giảm

Như thiểu thủy ngư

Tư hữu h� lạc.

Đại ch�ng đương cần tinh tấn

Như cứu đầu nhi�n.

Nghĩa l� ng�y nay đ� qua, mạng m�nh cũng theo đ� m� suy giảm. Như c� ở trong ao nước cạn, mỗi ng�y nước kh� đi một phần, c� g� để vui. Thế n�n ch�ng ta phải cố gắng nỗ lực, si�ng năng tinh tấn như cứu lửa ch�y đầu. Lửa t�p tr�n đầu th� phải phủi liền, chứ đ�u thể chần chờ. Thấy v� thường để cố gắng, l�m lợi m�nh lợi người, chớ kh�ng phải thấy v� thường để b� tay chờ chết.

Đến b�i kệ thứ ba của Thiền sư M�n Gi�c. Thiền sư M�n Gi�c thuộc hệ V� Ng�n Th�ng, Ng�i sinh năm 1052 v� tịch năm 1096. B�i kệ của Ng�i l�:

Xu�n khứ b�ch hoa lạc,

Xu�n đ�o b�ch hoa khai.

Sự trục nh�n tiền qu�,

L�o t�ng đầu thượng lai.

Mạc vị Xu�n t�n hoa lạc tận,

Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

B�i kệ n�y c� thể n�i tổng hợp cả hai b�i kệ tr�n.

Xu�n khứ b�ch hoa lạc, tức m�a Xu�n đi th� trăm hoa rụng. Xu�n đ�o b�ch hoa khai, m�a xu�n trở về th� trăm hoa nở. Như vậy hoa rụng, hoa nở chỉ l� hiện tượng sinh diệt ở b�n ngo�i. Sự trục nh�n tiền qu�, tức l� mọi việc tr�i qua trước mắt m�nh. L�o t�ng đầu thượng lai, c�i gi� đ� đ�p tr�n đầu mất rồi.

Qu� vị thấy bốn c�u n�y mang h�nh d�ng g�? Hai c�u đầu n�i mu�n vật theo thời gian m� sinh m� diệt. M�a Xu�n đến th� n� nở, m�a Xu�n đi th� n� t�n. N�i hoa cũng ch�nh l� n�i tất cả sự vật tr�n thế gian n�y, tất cả đều theo thời gian m� sinh m� diệt. D�ng thời gian cuốn tr�i mu�n vật. Ch�ng ta nh�n sự vật tr�i đi theo thời gian v� bỗng sực nhớ lại m�nh, th� c�i gi� n� đ� đ�p tr�n đầu rồi. Như vậy ch�ng ta cũng bị cuốn theo thời gian. Con người v� mu�n vật đều bị thời gian chi phối. Nhưng ngang đ� hết hay ch�ng ta c�n lại g� nữa?

Mạc vị Xu�n t�n hoa lạc tận, đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai, nghĩa l� chớ bảo m�a Xu�n qua rồi hoa rụng hết, m� đ�m qua trước s�n vẫn c�n một c�nh mai nở rộ. Người đời thường cho rằng Xu�n t�n th� hoa hết, m�a Đ�ng sẽ trơ trụi. Nhưng kh�ng ngờ m�a Đ�ng lại c� hoa của m�a Đ�ng. Như vậy Thiền sư mượn c�nh mai để n�i tuy sự tướng của mu�n vật l� một d�ng chuyển biến kh�ng dừng, nhưng trong đ� ngầm chứa một c�i m� thời gian kh�ng chi phối nổi, kh�ng hoại diệt nổi.

H�nh ảnh c�nh mai để n�i l�n trong c�i sinh diệt, ngầm c� c�i kh�ng sinh diệt. Chỗ n�y, ng�i Khu�ng Việt gọi l� lửa ở trong c�y. Chỗ kh�c gọi l� Phật t�nh hay bản lai diện mục. N� nằm sẵn trong th�n hoại diệt n�y, chứ kh�ng phải ngang đ� l� hết, ngang đ� l� c�ng. Như vậy b�i thơ của Thiền sư M�n Gi�c chứa đủ hai mặt. Một mặt l� nhận ch�n c�i giả, một mặt l� thấy được c�i thật nằm trong c�i giả.

Như vậy qua một �t b�i thơ của c�c Thiền sư cũng tạm đủ để n�u l�n t�ng chỉ của Thiền t�ng.

5- Thiền ph�i Tr�c L�m Y�n Tử

Đ�y l� một ph�i Thiền ho�n to�n của người Việt Nam. Thiền ph�i Tr�c L�m Y�n Tử ra đời năm 1299 v� bị mai một v�o năm 1334. Sơ Tổ l� vua Trần Nh�n T�ng. Khi Ng�i l�m vua đ� từng chiến đấu chống qu�n Nguy�n v� sau khi th�nh c�ng, nước nh� thanh b�nh, Ng�i nhường ng�i lại cho con rồi đi xuất gia.

Xuất gia, Ng�i l�n n�i Y�n Tử tu thiền v� th�nh lập Thiền ph�i Tr�c L�m Y�n Tử. Nhưng người đ� nu�i dưỡng, dạy dỗ ch�n tinh thần Thiền cho Ng�i ch�nh l� Tuệ Trung Thượng Sĩ. Bởi trước đ�, Vua cha l� Trần Th�nh T�ng đ� gửi gắm Ng�i cho Tuệ Trung Thượng Sĩ. Như vậy ng�i Tuệ Trung được xem như l� thầy của ng�i Trần Nh�n T�ng.

Ng�i tu v� lấy hai hiệu, đầu ti�n l� Hương V�n Đầu Đ�, sau n�y l� Tr�c L�m Đầu Đ�. Chữ Đầu Đ� l� tiếng Phạn, Trung Hoa dịch l� Đẩu tẩu; nghĩa l� phủi rũ sạch hết. C� chỗ c�n n�i Đầu Đ� l� khổ hạnh.

Ng�i Trần Nh�n T�ng l� người rất đặc biệt. Khi ở ng�i Vua, Ng�i l�m hết bổn phận của một �ng Vua, lo cho d�n cho nước. Khi đi tu th� dứt kho�t hẳn l� một người tu. N�n khi đ� xuất gia rồi, Ng�i kh�ng c�n đi kiệu như xưa nữa. D� đường từ

Tr�c L�m Y�n Tử về kinh đ� rất xa, nhưng Ng�i chỉ đi bộ chứ kh�ng d�ng kiệu, cũng kh�ng d�ng thuyền rồng. Đ� l� n�i l�n tinh thần Đầu Đ� của Ng�i.

Do trước khi tu, Ng�i đ� học đạo hiểu được l� Thiền từ Tuệ Trung Thượng sĩ, n�n l�c tu Ng�i c� sẵn căn bản. V� vậy chỉ sau một thời gian ngắn tu tập, Ng�i s�ng được việc lớn. Từ đ� Ng�i th�nh lập một ph�i Thiền ri�ng. Ph�i Thiền n�y dung hợp cả c�c ph�i Thiền tr�n, tức l� ph�i Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, ph�i Thiền V� Ng�n Th�ng, ph�i Thiền Thảo Đường, trong đ� cũng c� ảnh hưởng một phần của ph�i Thiền L�m Tế. Ng�i th�nh lập ph�i Thiền Tr�c L�m theo tinh thần của Phật gi�o Việt Nam, chớ kh�ng lệ thuộc v�o lối tu của c�c Sư ở Trung Hoa.

Thiền ph�i Tr�c L�m Y�n Tử chủ trương Tam gi�o đồng nguy�n. Tam gi�o đồng nguy�n tức l� Phật, Khổng, L�o đồng nguồn. Chủ trương n�y rất hay, gi�p cho đời Trần đo�n kết. Nhờ vậy to�n d�n đ�nh thắng được giặc Nguy�n. Nếu kh�ng c� chủ trương đ� th� trong nước chia rẽ từng nh�m, đạo Khổng th� b�nh đạo Khổng, đạo Phật b�nh đạo Phật, đạo L�o b�nh đạo L�o. Như vậy thế nước sẽ yếu đi.

Ch�ng ta đọc sử thấy ở Trung Hoa ngo�i Phật gi�o, c�n c� hai t�n gi�o lớn l� Khổng v� L�o. Nhưng hai t�n gi�o n�y đứng ri�ng biệt nhau. Về sau Phật gi�o Thiền t�ng ở Trung Hoa tới thời cực thịnh l� đời Đường sang đời Tống, với tinh thần cởi mở Thiền t�ng đ� dung hợp được cả ba Phật, L�o, Khổng.

Như t�i đ� n�i, với con mắt của nh� Thiền, hay của nh� Phật, th� d� người tu theo đạo n�o cũng đều c� t�nh Phật như nhau. Chẳng qua phương tiện tu c� kh�c th�i. Như vậy chủ trương đ� dung hợp được tất cả, n�n n�i đồng nguồn. Bởi v� d� phương tiện c� kh�c nhưng chỗ cứu k�nh kh�ng hai. Bởi đứng tr�n lập trường đ� m� nh� Trần dung hợp cả Tam gi�o. Nhờ vậy n�n thời Trần đ� lập được những chiến c�ng oanh liệt nhất trong lịch sử chống giặc của Việt Nam, m� cũng c� thể n�i oanh liệt nhất trong thời đ� đối với cả thế giới.

Thiền sư Việt Nam kh�ng chỉ l� người xuất gia cạo đầu ở ch�a, m� c� thể l� cư sĩ như mọi người, nhưng tu h�nh vẫn c� thể đạt đạo. Như vua Trần Th�i T�ng, Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Th�nh T�ng� c�c Ng�i đều l� h�ng tại gia m� vẫn thấy được đạo. Ng�i Điều Ngự Gi�c Ho�ng xuất gia nhưng Ng�i kh�ng khuyến kh�ch tất cả ch�ng ta phải rời bỏ trần tục để v�o đạo mới gọi l� tu. M� Ng�i dạy ngay trong cảnh trần tục kh�o tu th� cũng vẫn c� kết quả tốt như thường.

Như vậy chủ trương đ� chỉ c� ở Việt Nam chớ kh�ng c� ở Trung Hoa. Qu� vị đọc sử Trung Hoa thấy c� một Thiền sư cư sĩ nổi tiếng l� �ng B�ng Long Uẩn, nhưng �ng chỉ gi�o h�a trong gia đ�nh th�i, chứ kh�ng gi�o h�a người kh�c. Ở Việt Nam, Tuệ Trung Thượng Sĩ l� một cư sĩ m� dạy lu�n cả Tăng, Ni nữa. Ai đến Ng�i cũng đều dạy được hết. Đ� l� những n�t kh�c biệt giữa Thiền t�ng Việt Nam v� Thiền t�ng Trung Hoa hay Thiền t�ng Ấn Độ.

Để thấy r� hơn về tinh thần n�y, ch�ng t�i xin dẫn b�i kệ kết th�c trong b�i ph� Cư Trần Lạc Đạo của ng�i Tr�c L�m Đầu Đ�. Cư trần lạc đạo nghĩa l� ở giữa trần thế bụi bặm n�y m� vẫn vui với đạo. Đ� l� điểm đặc biệt của Ng�i. B�i ph� n�y rất d�i, ch�ng ta kh�ng c� th� giờ đọc hết, t�i chỉ lược tr�ch đoạn kết:

Cư trần lạc đạo thả t�y duy�n

Cơ tắc xan hề khốn tắc mi�n

Gia trung hữu bảo hưu tầm m�ch

Đối cảnh v� t�m mạc vấn Thiền.

Tạm dịch:

Ở đời vui đạo h�y t�y duy�n

Đ�i đến th� ăn mệt ngủ liền

Trong nh� c� b�u th�i t�m kiếm

Đối cảnh kh�ng t�m chớ hỏi Thiền.

Ở đời vui đạo h�y t�y duy�n, nghĩa l� ở ngay trong l�ng đời m� muốn vui với đạo th� phải kh�o t�y duy�n. Ch�ng ta c� bệnh kh�ng biết t�y duy�n. T�y duy�n kh�ng c� nghĩa l� cơ hội. T�y duy�n l� giả dụ m�nh đi l�m, đồng lương thấp th� m�nh sống theo nếp của đồng lương thấp. Người kh�c đồng lương cao, họ sống theo nếp đồng lương cao. Nếu đồng lương thấp m� đ�i sống như đồng lương cao th� khổ, l�m sao vui được. Cho n�n người biết t�y duy�n, ở trong ho�n cảnh n�o cũng kh�o lượng định để sống cho ph� hợp với ho�n cảnh đ�, đừng đ�i hỏi qu� khả năng của m�nh, qu� sức lực của m�nh. Được vậy th� vui, ngược lại ch�ng ta cứ đ�i hỏi theo nếp của người kh�c th� ch�ng ta kh�ng bao giờ vui được.

B�y giờ đa số qu� Phật tử cứ than tu kh� l� tại sao? Tại kh�ng biết t�y duy�n. M�nh ngh�o m� đ�i sống như mấy người trưởng giả th� l�m sao được. Thấy người ta c�i g� cũng tốt rồi đ�m ra phiền n�o, phiền n�o n�n tu kh�ng được. C�n ngh�o m� sống đ�ng với nếp ngh�o của m�nh th� tuy thiếu thốn một ch�t m� tinh thần an vui. Ch�ng ta phải biết ứng dụng đ�ng với khả năng, ho�n cảnh của m�nh. Ứng dụng đ�ng th� an t�m, m� an t�m th� tu được chứ g�. Đ� l� kh�o t�y duy�n.

Đ�i đến th� ăn mệt ngủ liền, c�u n�y đa số đều nghi. Ai đ�i kh�ng ăn, mệt kh�ng ngủ? Trước khi giải th�ch c�u n�y ch�ng t�i xin dẫn c�u chuyện của một Thiền sư. Quốc sư Huệ Trung ở Trung Hoa đời Đường, sau khi hiểu đạo Ng�i l�n n�i tu tới bốn mươi năm. Khi được vua Đường T�c T�ng mời về triều, c� một vị quan tới hỏi Ng�i:

- Thưa H�a thượng, H�a thượng ở tr�n n�i Bạch Nhai bốn mươi năm thường l�m g�?

Ng�i đ�p:

- Đ�i ăn, mệt ngủ.

Vị quan ấy n�i:

- Đ�i ăn, mệt ngủ. Việc đ� qu� tầm thường. Người đời cũng đ�i ăn, mệt ngủ. Như vậy Ng�i c� kh�c g� người đời đ�u?

Ng�i n�i:

- Ta đ�i ăn mệt ngủ, nhưng kh�ng giống người thường.

- Tại sao kh�ng giống?

- Người thường đ�i đến m� kh�ng chịu ăn, đ�i trăm thứ. Mệt đến m� kh�ng chịu ngủ, nghĩ trăm việc.

Đ�i kh�ng chịu ăn, đ�i trăm thứ. Mệt kh�ng chịu ngủ, nghĩ trăm việc. Người n�y c� sống đ�ng với tinh thần đ�i ăn mệt ngủ của nh� Thiền kh�ng? T�i v� dụ, mỗi s�ng m�nh ăn một t� hủ tiếu rồi mới đi l�m. Mọi h�m t� hủ tiếu c� ti�u, c� ớt; h�m nay thiếu ti�u, thiếu ớt th� m�nh kh�ng chịu ăn. Phải đ�i cho đủ mấy thứ gia vị đ� mới chịu ăn. Như vậy đ�u phải đ�i th� ăn. Đ� l� t�i n�i trường hợp nhỏ. C�n nếu s�ng n�o cũng c� t� hủ tiếu m� h�m nay kh�ng c� t� hủ tiếu, chỉ c� t� cơm nguội th� chẳng những kh�ng chịu ăn, m� c�n c� sự rầy la nữa l� kh�c. Như vậy r� r�ng người đời đ�i m� đ�u chịu ăn.

Rồi đến ngủ. Nhiều khi qu� vị l�m việc đến chiều tối về mệt, muốn ngủ một ch�t. Nhưng qu� vị c� ngủ được kh�ng hay nghĩ việc n�y, việc nọ. C� khi mất nửa tiếng hay một tiếng đồng hồ mới ngủ. Chưa kể c� l�c thức trắng v� mải suy nghĩ n�n bị mất ngủ lu�n. Như vậy th� mệt đ�u c� ngủ.

C�n Thiền sư khi đ�i c� g� ăn nấy, khi mệt nằm xuống ngủ kh�, kh�ng nghĩ suy chuyện g� hết. Như vậy th� cũng đ�i ăn, mệt ngủ m� hai b�n kh�c nhau. Cho n�n nghe đ�i ăn mệt ngủ thấy tầm thường, m� thật ra kh�ng phải tầm thường. Đ� ch�nh l� tinh thần, l� sức mạnh của người l�m chủ được m�nh. Khi cần l�m g� th� l�m, kh�ng phải so đo suy t�nh lung tung. L�m chủ m�nh n�n đầu �c kh�ng bị vọng tưởng k�o l�i, l�m cho luẩn quẩn, rối rắm. Phải c� sức l�m chủ được như vậy mới gọi l� đ�i ăn, mệt ngủ.

C�n ch�ng ta kh�ng l�m chủ g� hết. Nhiều khi n�i t�i ngồi chơi, m� đầu cứ nghĩ l�ng v�ng chuyện n�y, chuyện kia. Như vậy để thấy ch�ng ta kh�ng c� sức l�m chủ, bởi kh�ng c� sức l�m chủ n�n ch�ng ta kh�ng như c�c Thiền sư. C�c Ng�i đ�i ăn, mệt ngủ. Ch�ng ta đ�i kh�ng chịu ăn, mệt kh�ng chịu ngủ. Hai b�n kh�c nhau.

Trong nh� c� b�u th�i t�m kiếm, đối cảnh kh�ng t�m chớ hỏi Thiền. Trong nh� m�nh c� b�u sẵn, kh�ng phải t�m kiếm ở đ�u. Cho n�n phải ngay nơi m�nh m� nhận lấy của b�u. Tại sao nh� Thiền gọi đ� l� của b�u? Bởi v� của b�u l� của qu�, n� l�m cho ch�ng ta được mọi sự như �. Cũng vậy, người tu thấy được t�nh gi�c của m�nh rồi, th� mọi việc đều được m�n nguyện. Cho n�n gọi đ� l� của b�u.

Đối cảnh kh�ng t�m chớ hỏi Thiền. Đ�y l� c�u tuyệt vời nhất. Người ta hỏi Thiền l� g�, Ng�i kh�ng cần giải nghĩa, chỉ n�i khi s�u căn tiếp x�c với s�u trần m� kh�ng c� niệm dấy khởi, kh�ng d�nh mắc, đ� l� Thiền rồi. Đối cảnh v� t�m.

Qua b�i kệ bốn c�u ngắn gọn, đ� n�i được hết tinh thần Thiền từ c�c Tổ trước cho đến sau n�y. Đ� l� t�i dẫn Thiền sư đầu của hệ Tr�c L�m. Kế t�i sẽ dẫn Thiền sư cuối của hệ Tr�c L�m l� Ng�i Huyền Quang.

Ng�i Huyền Quang cũng c� một b�i ph� vịnh ch�a Tr�c L�m Y�n Tử. Đ�y l� b�i văn N�m n�n phần kết th�c cũng bằng văn N�m. V� b�i ph� d�i n�n ch�ng t�i chỉ lược đọc phần kết th�c:

Rũ kh�ng thay thảy �nh phồn hoa,

Lấy chốn Thiền l�m l�m cửa nh�.

Khuya sớm s�ng choang đ�n B�t-nh�,

H�m mai rửa sạch nước Ma-ha.

L�ng Thiền vằng vặc trăng soi giại,

Thế sự hiu hiu gi� thổi qua.

Cốc được t�nh ta n�n Bụt thực,

Ngại chi non nước cảnh đường xa.

Rũ kh�ng thay thảy �nh phồn hoa, bởi Ng�i l� Trạng nguy�n đi tu th� tất cả phồn hoa của thế gian phủi sạch hết, kh�ng c�n d�nh g� nữa. Lấy chốn Thiền l�m l�m cửa nh�, tức l� lấy cửa Thiền l�m nh� của m�nh. Hai c�u n�y n�i l�n tinh thần tu của Ng�i. Tu bằng c�ch n�o?

Khuya sớm s�ng choang đ�n B�t-nh�. H�m mai rửa sạch nước Ma-ha. Chữ B�t-nh�, Ma-ha đều dịch �m chữ Phạn. B�t-nh� dịch nghĩa l� tr� tuệ, nhưng n�i tr� tuệ kh�ng hết nghĩa, n�n nh� Phật thường hay d�ng từ tr� tuệ B�t nh�. Bởi v� người thế gian th�ng minh, học giỏi, hiểu nhanh th� n�i người đ� c� tr� tuệ, nhưng đ� l� tr� tuệ thế gian. C�n tr� tuệ n�y si�u xuất thế gian, n�n gọi l� tr� tuệ B�t nh�.

Chữ Ma-ha Trung Hoa dịch l� đại, l� lớn. Thường thường trong ch�a hay đọc Ma-ha B�t-nh� ba-la-mật-đa, nghĩa l� tr� tuệ B�t-nh� rộng lớn đến bờ kia. C�u tr�n d�ng chữ B�t-nh�, c�u dưới d�ng chữ Ma-ha, nhưng đều muốn n�i đến tinh thần B�t nh�.

Như vậy v�o ch�a tu l� khuya sớm lu�n lu�n thắp s�ng ngọn đ�n tr� tuệ B�t-nh�, để l�m g�? Để rửa sạch hết bụi trần tục hay t�m phiền n�o của m�nh. Người nương tr� tuệ B�t nh� th� thấy tất cả ph�p kh�ng thật, như huyễn như ho� n�n kh�ng c�n đắm luyến v�o đ� nữa.

L�ng Thiền vằng vặc trăng soi giại. Thế sự hiu hiu gi� thổi qua. L�ng Thiền tức l� t�m đạt được l� Thiền, lắng sạch, trong veo giống như �nh s�ng mặt trăng soi b�n ch�i nh�. Được chỗ trong s�ng đ� rồi, nh�n lại việc đời như gi� thổi hiu hiu vậy th�i, kh�ng c� g� quan trọng nữa hết. Cốc được t�nh ta n�n Bụt thực. Chữ Cốc l� biết, biết được ch�nh ta thật l� Bụt đ�. Bụt l� Phật. Ch�ng ta thấy t�nh m�nh l� Phật thật, th� c�n g� ngại cho non nước cảnh đường xa. D� xa bao nhi�u cũng r�ng tu để sống lại được với �ng Phật của m�nh. Biết Phật của m�nh th� c�n g� ngại, c�n g� sợ kh� khăn? Chỉ sợ m�nh kh�ng biết th�i, đi t�m mới phiền mới cực.

Những c�u thơ n�y đ� n�i l�n tinh thần tu Thiền ở Việt Nam. Trước hết d�ng tr� tuệ B�t-nh� để dẹp sạch c�c phiền n�o, sau ngộ được l� Thiền th� t�m tự trong s�ng. Như vậy l� nhận nơi m�nh c� t�nh Phật sẵn, kh�ng phải t�m kiếm ở đ�u nữa cả. Đ� l� ch�n tinh thần tu tập của Thiền t�ng Việt Nam.

Kết lại, Thiền t�ng Việt Nam kh�ng kh�c g� Thiền t�ng Trung Hoa hay Thiền t�ng Ấn Độ, bởi v� Thiền t�ng ch�nh l� cốt tủy của Phật gi�o vậy.  

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]

[Trang chu] [Kinh sach]