HOA V� ƯU
(Tập II)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8]
| BỎ TẤT CẢ L� ĐƯỢC TẤT CẢ Giảng tại Ch�a Dược Sư TP. HCM 07-2000.
H�m nay t�i sẽ giảng về đề t�i "Bỏ tất cả l� được tất cả". Nhưng để l�m r� hơn � nghĩa của đề t�i n�y, t�i sẽ n�i phản đề lại "Được tất cả l� mất tất cả" để qu� vị dễ đối chiếu. Tại sao "Được tất cả l� mất tất cả"? Hiện giờ ch�ng ta thấy ở thế gian, c� người muốn g�, l�m g� đều được th�nh c�ng. Muốn tạo được c�i nh� liền được c�i nh�, muốn c� chiếc xe hơi liền được chiếc xe hơi, muốn c� danh vọng liền được danh vọng, muốn c� t�i sản liền được t�i sản. T�m lại muốn g� được nấy. Tuy nhi�n như thế, nhưng đến khi hết duy�n nhắm mắt ra đi, th� tất cả những g� m�nh được đ� c� c�n kh�ng? Mất hết. Vậy th� được tất cả rồi sẽ mất tất cả, chớ kh�ng c� g� c�n m�i với m�nh. Người đời ước ao mong mỏi những g� m�nh muốn đều được toại nguyện, đ� l� hạnh ph�c. Nhưng thực ra được bao nhi�u đi nữa, cuối c�ng rồi cũng ra đi với hai b�n tay trắng. Tất cả những g� cả đời m�nh cố c�ng tạo dựng đều để lại cho thế gian, vậy th� được đ� ch�nh l� mất. Cho n�n người biết tu, thức tỉnh thấy r� cuộc đời như vậy. Người xuất gia tu h�nh, c� nghĩa l� xả ph� cầu bần, xả th�n cầu đạo. Xả tức l� bỏ hết. Bỏ hết những gi�u sang ở đời, bỏ cả th�n mạng n�y để cầu đạo. Đ� bỏ cả gi�u sang, qu�n cả th�n mạng th� c� g� m� bỏ kh�ng được? Th�n mạng c�n kh�ng tiếc th� c�i g� đ�ng tiếc hơn? Vậy m� c� khi gặp những việc nhỏ lại xả kh�ng được. Đ� l� chưa thực hiện được đ�ng với bản nguyện của m�nh. T�i n�i bỏ tất cả sẽ được tất cả l� sao? Ch�ng ta đọc lịch sử biết r� đức Phật l� con nh� vương giả, Ng�i đi tu bỏ lại tất cả ng�i vị, quyền tước, t�i sản, sự nghiệp, đất nước v. v� chỉ c�n chiếc �o cẩm b�o tr�n m�nh. Nhưng cuối c�ng Ng�i cũng cởi ra, đổi lấy chiếc �o thợ săn để v�o rừng tầm sư học đạo. Như vậy tất cả danh vọng sự nghiệp thế gian, cho tới cha mẹ vợ con Ng�i đều xả tất cả. Ng�i chỉ đem theo ch� nguyện xuất gia, cầu đạo giải tho�t th�i. Đ� l� xả ph� cầu bần đ�. Kế đ�, đức Phật xả đến th�n. S�u năm tu khổ hạnh, Ng�i ăn uống đơn giản, một ng�y chỉ ch�t �t m�, ch�t �t đậu cho tới kiệt sức ngất xỉu. Trong kinh A-h�m diễn tả l�c đ� th�n Phật chỉ c� xương sườn, kh�ng c�n ch�t da thịt n�o cả. Đối với th�n Ng�i kh�ng c�n một ch�t luyến tiếc, kh�ng một ch�t y�u qu�, miễn sao t�m được đạo giải tho�t th� th�i. Đ� l� tinh thần xả th�n cầu đạo của người quyết ch� tu h�nh. R� r�ng đối với hai thứ xả đ�, đức Th�ch Ca đ� thực h�nh hết rồi. Trước l� xả ph� cầu bần, kế l� xả th�n cầu đạo. Ch�ng ta b�y giờ c� xả được kh�ng? Xả chừng bao nhi�u? Đ� l� c�u hỏi m� mỗi người phải tự đặt ra, rồi kiểm nghiệm lại m�nh để thấy m�nh l�m được tới đ�u. Đứng về mặt th�n, đứng về sự nghiệp, đức Phật đ� xả hết rồi, Ng�i lại tiếp tục xả đến t�m nữa. Nghĩa l� bu�ng bỏ tất cả những niệm tưởng lăng xăng từ th� đến tế, cho đến khi t�m được định, ho�n to�n thanh tịnh, chừng đ� Ng�i mới được gi�c ngộ vi�n m�n. Như vậy � nghĩa xả ở đ�y, một l� xả tất cả sự nghiệp t�i sản, cha mẹ anh em b�n ngo�i. Kế đ� xả th�n mạng, sau c�ng l� xả hết nội t�m của m�nh. Nội t�m l� những thứ lăng xăng loạn tưởng, l�m cho m�nh phiền n�o rối rắm. Thiền định dưới cội Bồ-đề suốt bốn mươi ch�n ng�y đ�m, khi đ� t�m Phật ho�n to�n thanh tịnh, kh�ng c�n một � niệm g� n�n v�o được đại định. Từ đại định Ng�i ph�t triển tuệ gi�c như thật của m�nh, thấu suốt được t�nh tướng của c�c ph�p, liền đ� được gi�c ngộ chứng quả vị Phật. Như vậy xả c� ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất l� xả tất cả c�c thứ b�n ngo�i, từ sự nghiệp, danh vọng, t�i sắc cho tới th�n quyến cha mẹ anh em vợ con. Giai đoạn hai l� xả bỏ th�n mạng, liều chết để tu. Đ� l� xả th�n. Giai đoạn ba l� xả tất cả t�m nghĩ tưởng lăng xăng, kh�ng c�n mảy may vọng động lo lự n�o, gọi l� xả t�m. Sau đ� mới chứng ngộ th�nh Phật. Khi th�nh Phật rồi th� thế n�o? Như hiện giờ ch�ng ta kiểm tra nội trong nước Việt Nam t�nh ra cũng mấy chục ng�n ng�i ch�a, c�n Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Ti�n, Th�i Lan, Xri Lanca, (T�ch Lan), Mianma (Miến Điện) v. v� cộng lại kh�ng biết bao nhi�u ng�i ch�a thờ Phật. Như vậy Ng�i bỏ ngai v�ng, giang san, sự nghiệp trong nước, đến khi th�nh Phật rồi th� c� tất cả. Ng�i xả bỏ quyến thuộc nhỏ b�, để rồi sau đ� ngh�n mu�n ức triệu người nh�n nhận l� con của đức Phật, như vậy c� phải l� được tất cả kh�ng. Xả sự nghiệp ri�ng được sự nghiệp chung to lớn hơn. Xả th�n quyến ri�ng th�n quyến chung nhiều v� kể. Xả một được v� số th�n. Xả t�m nghĩ tưởng lăng xăng chứng được Tam minh, Lục th�ng, Tứ v� sở �y, Thập b�t bất cộng v. v� Xả những thứ v� nghĩa tầm thường, th� đạt được những vi diệu phi thường. R� r�ng Ng�i xả tất cả l� được tất cả kh�ng. Ngược lại với thế gian, giữ tất cả để rồi mất tất cả. Giờ đ�y ch�ng ta tu theo Phật phải l�m sao? N�n giữ hay n�n xả? Ch�ng ta phải tập xả, người xuất gia th� xả trọn vẹn, c�n người tại gia th� xả từng phần, nhưng phải xả chớ đừng cố giữ. T�i th� dụ trước về người tại gia. Như qu� Phật tử l�m ăn c� tiền, c� cơm gạo, thấy ai khổ m�nh gi�p, đ� l� xả. Bố th� l� xả, xả quyền lợi của m�nh gi�p cho người thiếu, người khổ. Người đời tranh gi�nh danh lợi, c�n m�nh tu rồi th� bớt kh�ng tranh gi�nh danh lợi, đ� l� xả. Tất cả những lời hơn thua tranh c�i nhau m�nh cũng bỏ hết, đ� l� xả. Tập xả được như vậy l� ch�ng ta kh�o tu, c� tiến. Ngược lại c�i g� cũng muốn giữ hết th� kh�ng thể n�o tu được. Tu m� muốn l�m gi�u, muốn l�m quan, muốn hơn thi�n hạ, th� c� được kh�ng? Cho n�n n�i tới tu l� n�i tới xả, tới chừa bỏ. Phật tử tại gia c�n như thế, huống nữa l� người xuất gia. Xuất gia rồi th� c� g� để giữ đ�u. Tất cả đều l� của chung, cuộc sống của m�nh chỉ l� sống để tu, chớ kh�ng phải sống để được danh, được lợi, được tất cả sự nghiệp ở trong ch�a. Như vậy đ�u c� g� l� của m�nh, cho n�n người tu l� người dễ xả trăm phần. Xả hết quyền lợi, xả hết những g� thuộc về sự nghiệp, h�nh thức b�n ngo�i, kh�ng giữ g� hết. Chẳng qua v� đạo m� c� ch�a c� đồ ch�ng để truyền b� chỉ dạy cho người c�ng tu, chớ kh�ng c� c�i của m�nh. Nhớ r� vậy l� ch�ng ta xả. Đ� l� xả b�n ngo�i, c�n xả về bản th�n th� sao? Trước t�i n�i về cư sĩ. Người kh�ng biết đạo họ lo lắng tấm th�n trau chuốt cho đẹp, nu�i nấng cho sung t�c mập mạp. C�n người biết tu kh�ng cần trau chuốt, chỉ sống b�nh dị, vừa phải, đủ no ấm th�i chớ kh�ng qu� sung t�c rồi sanh ra bệnh hoạn. Đ� l� Phật tử cũng xả m� xả vừa chừng, kh�ng phải xả nhiều. Người biết tu đối với danh kh�ng ham, đối với lợi biết vừa đủ, đối với t�i sắc v. v� đừng để d�nh nhiễm, đ� l� xả về th�n. Giới xuất gia th� xả thế n�o? Hồi chưa xuất gia m�nh cũng đầu t�c như ai, ăn mặc như ai. B�y giờ xuất gia rồi cạo bỏ t�c, những g� thế gian cho l� duy�n d�ng, l� đẹp m�nh xả hết, đ� l� xả rồi. Tới ăn mặc. Người đời thay đổi đồ n�y đồ kia cho đẹp, ra vẻ sang trọng qu� ph�i, c�n m�nh tu rồi mặc �o n�u �o nhuộm, đ� l� xả. Người đời ăn m�n n�y m�n kia cho ngon miệng, m�nh tu rồi chỉ ăn tương rau chay lạt, đ� l� xả. Cư sĩ tại gia một ng�y phải ngủ đủ t�m tiếng cho khỏe, c�n người xuất gia ngủ chừng bốn năm tiếng th�i. Bớt ăn, bớt ngủ như vậy l� xả. Nghĩa l� những g� trau chuốt, cung dưỡng cho th�n, ch�ng ta giảm bớt để dễ tu, kh�ng c�n đa mang nhiều th� mới mong đến gần với đạo. Đ� l� xả về th�n. B�y giờ tới t�m. Về t�m, cư sĩ tại gia xả như thế n�o? Nếu c� ai n�i g�c một c�u, qu� vị c� nhịn được kh�ng? Chắc l� kh� nhịn lắm. Nhịn th� sợ người ta n�i m�nh ngu, m�nh thua n�n �t chịu nhịn. B�y giờ qu� vị biết tu rồi, phải nhớ lời Phật dạy v� thường để chận đứng t�m tranh đua của m�nh. Nếu nghĩ tới danh lợi th� biết n� l� v� thường, kh�ng bền l�u. Đ� v� thường m� d�nh được mất với nhau l�m g�, đ� l� xả. Chết sống nay mai l� chuyện lớn m� kh�ng lo, c�n hơn thua phải quấy l� chuyện nhỏ lại để t�m lo lắng, c� phải khờ dại kh�ng. Cho n�n nghĩ tới v� thường đuổi gấp ch�ng ta kh�ng c�n thời giờ m� tu, huống nữa tranh hơn tranh thua. Nhớ như vậy th� tất cả những g� người đời lấn hiếp m�nh, ch�ng ta bỏ qua được hết. Người d�nh hơn d�nh thua l� kh�n hay người nhịn bỏ để tu l� kh�n? Người lấn hiếp thấy dường như hơn, người nhịn thấy dường như thua. Nhưng x�t kỹ người d�nh hơn rồi đi tới chỗ chết kh�ng biết về đ�u, c�n người nhịn để tu h�nh, mai kia khi chết đ� c� hướng sẵn n�n kh�ng lo kh�ng sợ, đ� mới l� người kh�n. Như vậy người biết nghĩ tới chuyện l�u d�i l� kh�n, người chỉ nghĩ nhất thời l� dại. V� vậy ch�ng ta đừng tranh hơn tranh thua, để rồi phiền n�o đau khổ, kh�ng tu h�nh. Đ� kh�ng phải l� thật kh�n. Người thật kh�n phải tr�nh, phải chừa hết những điều g�y cho t�m m�nh rối loạn, phiền n�o, sự tu mới tiến. Tu tiến mới mong cứu được m�nh. Cho n�n tu h�nh l� phải ẩn nhẫn. N�i ẩn nhẫn nhưng thật ra c� ẩn nhẫn g� đ�u. Th� dụ người n�o đ� nổi s�n, thấy m�nh đi ngang họ n�i: "Cha mầy". L�c đ� m�nh nổi n�ng l�n muốn chửi lại. Nhưng t�i xin hỏi chữ "cha mầy" đ� nặng ở chỗ n�o? Sao ch�ng ta kh�ng trả lời: "Phải t�i c� cha". N�i cha mầy tức l� nhắc cha của m�nh th� m�nh nhận, c� g� đ�u phải giận. Đằng n�y nghe người ta n�i "cha mầy" liền nổi s�n n�i lại "mẹ mầ�y", thế l� c� chuyện đ�nh lộn. Người ta cứ sống cuồng loạn với nhau thật v� nghĩa. M�nh c� cha người ta n�i cha m�nh th� nhận l� xong, c� g� phải tức giận. Người thế gian n�i đi�n kh�ng, chẳng lẽ m�nh tu cũng đi�n kh�ng theo. Họ đi�n kh�ng th� ch�ng ta phải s�ng suốt, nhưng kh�ng hiểu sao người ta cứ đua nhau d�nh phần đi�n về m�nh. Thi�n hạ n�i m�nh nặng một, m�nh n�i nặng hai, rồi c�i nhau đ�nh nhau, c� giống hai người đi�n kh�ng? Vậy m� ta vẫn cứ d�nh l�m người đi�n! R� r�ng sự tu kh�ng phải kh�, chỉ l� sự s�ng suốt ch�n thật để cho m�nh được an l�nh. Nghĩ nhiều khi ch�ng ta khờ dại thật đ�ng thương. Nghe người ta n�i m�nh l� con ch�, liền nhảy tới t�t tai người ta, như vậy l� nhận m�nh ch� mất rồi, mới nhảy ra cắn người ta. Người ta n�i m�nh con ch�, m�nh chỉ cần b�nh tĩnh trả lời t�i kh�ng phải con ch�, thế l� đủ rồi, người ta cũng sẽ kh�ng biết n�i g� hơn nữa. Đ� l� sự lầm lẫn si m� của con người, v� chấp ng� qu� nặng n�n động tới m�nh liền sanh sự. Người tu l� phải xả bỏ ng� chấp đ�, lu�n lu�n tỉnh t�o s�ng suốt, chừa bỏ những g� sai lầm, kh�ng n�n b�m giữ. Như vậy ch�ng ta mới biết tu. Nếu kh�ng biết tu th� dễ g�y s�n hận o�n hờn nhau, rồi đau khổ cả đời, m�nh khổ người khổ. Thế gian khổ l� v� vậy. Cho n�n người biết tu trong t�m kh�ng cố chấp, kh�ng nghĩ m�nh kh�n hơn hết, đẹp hơn hết, t�i giỏi hơn hết v. v� M� chỉ thấy m�nh l� cọng cỏ, cọng rơm th�i, kh�ng c� g� quan trọng, n�n rất dễ sống, nhẹ nh�ng, kh�ng đau khổ. Người chấp ng� s�u nặng qu� n�n động tới nổi s�n, động tới nổi giận, động tới liền buồn. C�n ch�ng ta xả được c�i ng� n�y, th� hết khổ hết buồn. Phật n�i "chấp l� kẻ m�", n�i dễ hiểu hơn chấp l� người ngu. Chấp nhiều th� ngu nhiều, chớ đừng tưởng chấp l� hay. Người tu l� người tỉnh, người s�ng suốt th� kh�ng n�n chấp. Kh�ng n�n chấp về th�n, kh�ng n�n chấp về t�m, kh�ng n�n chấp về cảnh. Được vậy ch�ng ta sống được b�nh an, tu h�nh thanh tịnh. Đ� l� n�i về người tại gia. Bước qua l�nh vực của người xuất gia, c�n xả nhiều hơn nữa. Khi c� huynh đệ giận, chỉ mặt m�nh n�i: "Huynh ngu qu�", l�c đ� m�nh cười kh�ng hay cũng đỏ mặt? Nếu nghe n�i "Huynh ngu qu�", ch�ng ta liền đ�p "Phải, ba tạng kinh t�i học chưa được một phần t�m, kh�ng ngu sao được". N�i vậy th� người kia hết n�i. Chỉ kh�o một ch�t th� ch�ng ta b�nh an, kh�ng g� giận hờn chi hết. Hoặc nghe người ta n�i "Coi bộ thầy (c�) si m� qu�", m�nh vui vẻ nhận ngay "T�i chưa gi�c, kh�ng si m� sao được". Đ�p như vậy l� y�n. Chớ nghe người ta n�i m�nh si m�, nổi giận c�i �m l�n th� quả l� si rồi. Ch�ng ta chỉ cần kh�o một lời n�i, kh�o một c�i nh�n th� hết phiền n�o. Người ta ch� m�nh ngu, ch� m�nh si m�, m�nh cười th�i kh�ng c� g� quan trọng. Đằng n�y, huynh đệ n�i lời hơi nặng một ch�t, m�nh phiền n�o hai ba ng�y, bỏ ăn bỏ ngủ, th� chừng n�o mới th�nh Phật. Ai tu cũng muốn th�nh Phật m� cứ chấp. C�ng lớn chấp c�ng nhiều, chấp qu� chừng l� chấp th� th�nh Phật sao nổi. Cho n�n ch�ng ta tu phải bỏ, phải xả hết mọi ng� chấp. Người tu vui trong đạo, vui với những lời của Phật dạy, mọi b�n luận hơn thua l� tr� đ�a, kh�ng c� gi� trị g� hết. Nhớ như vậy, nghĩ như vậy l� ch�ng ta biết tu. Được thế sự tu mới tiến nhanh, mới được lợi �ch. Cho n�n xả th�n đ� l� tốt nhưng xả t�m chấp ng� mới l� quan trọng. Người kh�o tu cần phải biết điều n�y. Xả t�m tức l� xả bỏ tất cả những vọng tưởng của m�nh. Tại sao xả bỏ vọng tưởng quan trọng như vậy? Bởi vọng tưởng l� c�i m� lầm, l� những cụm m�y đen che mất tr� tuệ ch�n thật của m�nh. C�n vọng tưởng l� c�n m� lầm, chừng n�o sạch hết vọng tưởng mới được gi�c ngộ. Ch�ng ta tu bất cứ ph�p m�n n�o cũng phải dẹp vọng tưởng. Kh�ng dẹp vọng tưởng th� kh�ng bao giờ th�nh Phật. Th� dụ tu Tịnh độ th� niệm Phật tới nhất t�m bất loạn. Nghĩa l� niệm đến chỗ chỉ c�n một c�u niệm Phật th�i, kh�ng nghĩ g� kh�c ngo�i c�u niệm Phật. Nhất t�m cũng gọi l� nhất niệm. D�ng một niệm để dẹp tất cả niệm, tất cả niệm sạch rồi cuối c�ng một niệm ấy cũng phải xả lu�n cho tới v� niệm. Niệm tới chỗ kh�ng c�n niệm n�o nữa th� mới thấy Phật, mới được v�ng sanh. Người tu thiền cũng vậy, ban đầu v� t�m loạn tưởng qu� nhiều, muốn n� dừng n�n d�ng phương tiện hoặc đếm hơi thở, hoặc qu�n chiếu một ph�p n�o như qu�n ngũ uẩn giai kh�ng v. v� Tới khi tất cả những niệm lăng xăng lặng rồi, t�m thanh tịnh v� niệm, đ� l� v�o định. Tu thiền phải đến chỗ an định trọn vẹn, chừng đ� mới chứng được v� sanh. Trong kinh thường dạy, ch�ng ta ai ai cũng c� t�nh Phật. "Nhất thiết ch�ng sanh giai hữu Phật t�nh" nghĩa l� tất cả ch�ng sanh đều c� t�nh Phật. Đức Phật biết sống trở về với t�nh Phật của Ng�i, n�n Ng�i th�nh Phật. Ch�ng ta cũng c� t�nh Phật nhưng kh�ng biết trở về sống với t�nh Phật của m�nh, n�n ch�ng ta l�m ch�ng sanh. Giờ đ�y muốn trở về t�nh Phật của m�nh phải l�m sao? Đ�y l� chỗ t�i nhắc lu�n. Ch�ng ta c� t�nh Phật nhưng v� qu�n, kh�ng nhận ra n�n sống với nghiệp của ch�ng sanh. Như trong giờ ngồi thiền, m�nh muốn t�m y�n lặng hay lăng xăng? Muốn t�m y�n lặng, nhưng c� chịu y�n lặng đ�u. Vừa y�n lặng l� thấy hơi buồn, liền nghĩ c�i n�y, nghĩ c�i kia rồi chạy theo n� mất ti�u. Tại sao m�nh thường hay nghĩ như vậy? Bởi v� t�nh Phật hằng tri hằng gi�c nơi con người kh�ng c� h�nh b�ng, kh�ng c� tướng mạo n�n kh� nhận v� c�ng. C�i g� c� tướng mạo, c� h�nh b�ng m�nh dễ nhận ra. Nhưng nếu nghiệm kỹ, ch�ng ta thấy khi t�m hồn thanh thản, kh�ng nghĩ suy g� hết được đ�i ba ph�t, trong thời gian ấy m�nh c� biết kh�ng? Vẫn biết chứ. Mắt thấy tai nghe, vừa c� người đi biết c� người đi, vừa c� tiếng n�i biết c� tiếng n�i. Mũi cũng vậy, m�i thơm m�i h�i đều biết r�. Như vậy s�u căn hằng tri hằng gi�c m� ch�ng ta kh�ng nhận ra, đợi c� nghĩ suy mới cho rằng biết. V� c�i biết đ� kh�ng c� h�nh d�ng, kh�ng động n�n m�nh dễ qu�n. Thế n�n h�ng ng�y ch�ng ta sống với t�m vọng tưởng, chạy theo b�ng d�ng của s�u trần, cho đ� l� t�m m�nh. Th�n v� thường sanh diệt cho l� th�n m�nh. Lấy th�n sanh diệt, t�m v� thường l�m m�nh th� khi nhắm mắt nhất định đi trong lu�n hồi lục đạo, kh�ng nghi ngờ. B�y giờ tu l� muốn ra khỏi con đường đ�, vậy phải l�m sao? Ch�ng ta thường n�i tu để giải tho�t sanh tử, giải tho�t bằng c�ch n�o? Nếu ch�ng ta khởi nghĩ l�nh, tạo nghiệp l�nh, sanh c�i l�nh; khởi nghĩ dữ, tạo nghiệp dữ, sanh c�i dữ. Ba �c đạo v� ba thiện đạo do t�m niệm l�nh dữ của m�nh m� ra. Nếu t�m niệm l�nh dữ đều kh�ng c�n th� m�nh đi đường n�o? Kh�ng đi đường n�o, tức l� giải tho�t sanh tử rồi. Thiền định ch�nh l� kh�ng c�n niệm thiện �c n�o dẫn m�nh đi trong sanh tử nữa. Như vậy nh�n giải tho�t ở đ�u, hiện giờ ch�ng ta c� hay kh�ng? Ai cũng c� hết, đ� l� Phật t�nh, n� b�ng bạc khắp nơi m�nh, chỉ tại ch�ng ta kh�ng nhớ. C�n suy nghĩ phải quấy, hơn thua c� h�nh b�ng, n�n m�nh biết t�m sanh diệt đ� m� kh�ng biết t�m thật của m�nh. Cứ chạy theo t�m sanh diệt th� tr�ch n�o ch�ng ta kh�ng đi trong lu�n hồi. Giờ muốn ra khỏi lu�n hồi phải dừng t�m sanh diệt. Niết-b�n l� giải tho�t sanh tử kh�ng c�n bị trở lui lại trong lục đạo lu�n hồi nữa. C�i thật biết của ch�nh m�nh, kh�ng h�nh, kh�ng tướng, kh�ng động tịnh, c�i biết đ� l� giải tho�t sanh tử, chớ đ�u phải kh�ng c�. Nhiều người cho rằng bỏ n�i th�n giả dối, bỏ t�m vọng tưởng rồi th� kh�ng c�n g� nữa. Đ� l� hiểu biết n�ng nổi, cạn cợt. Ch�ng ta nh�n l�n bầu hư kh�ng, thấy con chim bay qua. L�c đ� chỉ nhớ con chim m� qu�n bầu hư kh�ng. Con chim bay qua mất, l�t sau c� chiếc phi cơ bay lại, l�c đ� m�nh nh�n theo chiếc phi cơ. Phi cơ lại bay mất, c� đ�m m�y xuất hiện, m�nh chạy theo đ�m m�y. Cứ chạy theo c�c sự đổi thay v� thường, m� qu�n bẳn bầu hư kh�ng hiện tiền y�n lặng v� tr�m khắp tất cả. T�m m�nh cũng giống như vậy. Hết nghĩ chuyện A liền nhớ người B, cho n�n cả giờ ngồi thiền cứ chạy bậy, c� khi đấu khẩu nữa. L� luận với ai thua, đến giờ ngồi thiền đấu tiếp, nghĩ ra thế n�y thế kia, phải n�i như vầy hay hơn. Như vậy ngồi đ� để l� luận chớ kh�ng phải để tu. Nếu m� t�m cứ �m ấp những thứ ấy, l� ch�ng ta �m ấp t�m sanh diệt, g�n giữ th�n sanh diệt, nhưng hai thứ đ� bản chất của n� v� thường, l�m sao giữ được? Giữ th�n sanh diệt cho mấy cũng c� ng�y bị hoại, giữ t�m sanh diệt c�ng nguy hơn v� n� sẽ dẫn m�nh đi trong lục đạo lu�n hồi. Bu�ng hết hai thứ ấy, chỉ c�n một t�m hằng tri hằng gi�c hiện tiền đ�y, đ� mới l� c�i ch�n thật. Cho n�n người học Phật phải t�m tới chỗ cứu c�nh ch�n thật đ�, chớ kh�ng phải học Phật để đời sau sanh ra gi�u sang hơn đời n�y, đẹp hơn đời n�y v. v� Tu để gỡ sạch mọi thứ nghiệp lu�n hồi, ra khỏi d�ng sanh tử, đ� l� mục đ�ch tr�n hết. Đức Phật dạy "Bị thi�u đốt dưới địa ngục chưa phải l� khổ, bị đ�i kh�t trong lo�i ngạ quỷ cũng chưa phải l� khổ, bị k�o c�y k�o xe cũng chưa phải l� khổ. Chỉ c� mờ mịt kh�ng biết lối đi đ� mới l� khổ". V� khổ ở địa ngục hết tội rồi cũng được ra. Khổ ở ngạ quỷ hết kiếp ngạ quỷ cũng được sanh trở lại. Khổ ở lo�i s�c sanh k�o xe k�o c�y, hết nợ rồi cũng được trở lại l�m người. Chỉ c� mờ mịt kh�ng biết lối ra, tức l� kh�ng biết đường đi để tho�t khỏi lục đạo lu�n hồi, đ� mới l� c�i khổ hơn hết. Bởi c�n trong lục đạo lu�n hồi th� cứ quay v�ng sanh rồi tử, tử rồi sanh, kh�ng biết bao giờ mới xong. Ch�ng ta kiểm lại, người ở cảnh sung sướng c� ho�n to�n sướng hay cũng khổ? C� ai kh�ng bệnh, kh�ng gi�, kh�ng chết đ�u. C� bệnh, gi�, chết tức l� c� khổ. C� th�n l� c� khổ. Lẩn quẩn m�i trong sanh gi� bệnh chết, kh�ng khổ sao được. Chỉ khi n�o ra khỏi đ� mới thực l� hết khổ. V� vậy Phật n�i chỉ hết si m� mới l� hết khổ. Thế th� muốn hết khổ ch�ng ta phải bỏ chấp về th�n, bỏ chấp về t�m. T�m được trong sạch lặng lẽ, th� tri gi�c của m�nh mới hiện tiền, đ� l� giải tho�t sanh tử. C�n �m ấp giận hờn, th� o�n, thương gh�t kh�ng bao giờ hết khổ. T�m lại, muốn hết khổ phải bu�ng tất cả, để một t�m thanh tịnh hiện tiền hằng tri hằng gi�c, đ� l� tho�t ly sanh tử. Trong nh� Phật n�i: Bỏ một th�n m� được ba th�n l� Ph�p th�n, B�o th�n, Ho� th�n, rồi được Tam minh, Lục th�ng, Tứ v� sở �y v. v� Như vậy c� phải bỏ tất cả được tất cả kh�ng, c� thiệt th�i chỗ n�o đ�u. Chỉ v� ch�ng ta kh�ng d�m xả, cứ khư khư chấp c�i n�y của m�nh, c�i kia của m�nh n�n ch�ng ta khổ ho�i. M�nh đ� khổ m� kh�ng ai thương tưởng tới, lại c�n gh�t nữa. C�n cứ xả hết v� mọi người, th� ta đ� kh�ng khổ m� mọi người lại thương m�nh nhiều hơn. Cho n�n t�i n�i bỏ tất cả l� được tất cả, c�n giữ tất cả l� mất tất cả. Qu� vị tự x�t n�n bỏ hay n�n giữ, tiến hay l�i l� quyền của mỗi người ch�ng ta vậy. ]
|