Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập IV)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


T�NH KH�NG V� CH�N KH�NG

Giảng tại Thiền Viện Thường Chiếu

M�a Hạ năm Canh Th�n 8-2000

 

H�m nay nh�n ng�y giải hạ, Tăng Ni trở về đ�y ch�c mừng kh�nh tuế cho t�i, đồng thời xin t�i cho v�i lời nhắc nhở tr�n bước đường tu h�nh, t�i rất hoan hỉ. Trước ti�n t�i xin ch�c mừng Tăng Ni qua m�a hạ được b�nh y�n, an vui. Đ� l� kết quả tốt sau một m�a an cư.

Đối với c�c Thiền viện, đ�y l� lần an cư thứ ba mươi, bắt đầu từ năm 1970 ch�ng ta an cư tại Ch�n Kh�ng, tới nay l� năm 2000.Kiểm lại trong ba mươi năm đ�, từ con số an cư đầu ti�n chỉ vỏn vẹn mươi người th�i. Giờ đ�y tất cả c�c Thiền viện tụ hội về c� thể l�n đến bốn năm trăm người. Như vậy đứng về số lượng, Tăng Ni ng�y c�ng đ�ng, Phật tử cũng c�ng nhiều hơn. Nếu đường lối tu của ch�ng ta kh�ng c� lợi �ch, kh�ng c� sự an lạc, th� chắc rằng kh�ng thể n�o được sự hưởng ứng đ�ng đảo như vậy. Ng�y nay mọi người đều hoan hỉ tu h�nh, để chứng minh rằng con đường của ch�ng ta đi rất hợp với t�m cầu tiến của Tăng Ni v� Phật tử. Đ� l� một lẽ thật.

Được đ�ng đảo Tăng Ni hưởng ứng tu thiền, đ� l� một niềm vui. Nhưng t�i cũng c� nỗi lo, bởi v� Tăng Ni c�ng đ�ng th� số tạp c�ng nhiều. V� vậy mong rằng tất cả Tăng Ni tu theo sự hướng dẫn của t�i, nhất l� những vị lớn ở trong c�c Thiền viện, phải lu�n lu�n tự kiểm lại sự tu của m�nh qua một năm, hay n�i gần hơn l� qua ba th�ng an cư, tiến thối như thế n�o để chỉnh đốn lại cho tốt đẹp hơn. Những g� ưu ch�ng ta cố gắng l�m cho tăng trưởng, những g� khuyết ch�ng ta cố gắng chừa bỏ, đừng để những điều xấu dở lẫn lộn trong tập thể tu h�nh như vầy. V� đ� sẽ l� duy�n cớ l�m cho đường lối tu ng�y c�ng suy yếu, ng�y c�ng dở tệ. Như vậy mới xứng đ�ng l� người tu h�nh cầu giải tho�t sanh tử.

Gần đ�y, trong khi tu nh�n lại gi�o l� t�i thấy c� hai điều hệ trọng kh�c hơn hồi xưa. Hai điều đ� l� g�? Một l� T�nh Kh�ng. Hai l� Ch�n Kh�ng. L�u nay người ta thường hay lẫn lộn về hai điều n�y.

Trước t�i n�i về T�nh Kh�ng. Nhiều vị cho rằng khi đạt được T�nh Kh�ng sẽ c� v� số thứ nhiệm mầu, tức l� T�nh Kh�ng diệu hữu, như Ch�n Kh�ng diệu hữu vậy. Đ� l� do kh�ng hiểu, kh�ng ph�n biệt được thế n�o l� T�nh Kh�ng, thế n�o l� Ch�n Kh�ng.

Thế n�o l� T�nh Kh�ng? Khi n�i tới T�nh Kh�ng, ch�ng ta phải nhớ T�nh Kh�ng Duy�n Khởi, khi n�i tới Ch�n Kh�ng ch�ng ta phải nhớ Ch�n Kh�ng Diệu Hữu. Hai từ n�y n�n nhận cho thật kỹ. T�nh Kh�ng l� thể t�nh của tất cả c�c ph�p. Thể t�nh của tất cả c�c ph�p l� kh�ng, do duy�n hợp n�n sanh ra mu�n ph�p. V� vậy n�i T�nh Kh�ng duy�n khởi.

T�nh Kh�ng đ� thế n�o?

Th� dụ đ�y l� c�i b�n, đ�y l� hư kh�ng. C�i b�n l� hữu, hư kh�ng l� kh�ng. Cả hai đều kh�ng ngo�i T�nh Kh�ng, n�n biết T�nh Kh�ng kh�ng phải l� hư kh�ng trống rỗng. L�u nay trong nh� ch�a thường n�i th� chấp c� bằng n�i Tu-di, chẳng n�n chấp kh�ng bằng hạt cải. Nghĩa l� th� chấp c�i g� cũng c� hết, c� tội, c� phước, c� thiện, c� �c v. v� m� kh�ng sao. C�n chấp kh�ng d� chỉ bằng hạt cải cũng l� họa, như kh�ng tội kh�ng phước v. v�

Ch�ng ta nhận ra tướng c� tướng kh�ng qua c�i nh�n của mắt. Con mắt thấy đ�y l� c�, kia l� kh�ng. C�c tướng duy�n hợp n�n c� h�nh c� tướng, c�n duy�n chưa hợp l� hư kh�ng trống rỗng n�n n�i kh�ng.

Như vậy trong c�i c� kh�ng phải l� thật c�, trong c�i kh�ng cũng kh�ng phải l� thật kh�ng. Tại sao? Ch�ng ta cứ cho rằng c�i b�n kh�t khao chặt chẽ, kh�ng c� kẽ hở n�n n�i n� c�, c�n chỗ trống rỗng ho�n to�n kh�ng c� g� cả n�n n�i n� kh�ng, nhưng sự thật kh�ng phải vậy. Nếu nh�n k�nh hiển vi, ch�ng ta sẽ thấy trong c�i b�n vẫn c� những kẽ hở trống, tức l� c�i kh�ng. C�n trong hư kh�ng c� v� số bụi bặm vi tr�ng v. v� nhưng v� n� qu� nhỏ n�n tầm mắt ch�ng ta kh�ng thấy, rồi n�i l� kh�ng. N�n n�i thật c� thật kh�ng đều kh�ng đ�ng. Trong nh� Phật gọi thấy như thế l� bi�n kiến, tức chấp một b�n, kh�ng đ�ng lẽ thật.

Hiện giờ đa số ch�ng ta đều nặng tr�n h�nh thức hoặc c� hoặc kh�ng. Những h�nh thức n�o mắt thấy được gọi l� c�, h�nh thức mắt kh�ng thấy được gọi l� kh�ng. Nếu ph�n t�ch vi tế hơn, s�u sắc hơn, trong c�i kh�ng vẫn c� c�i c�, trong c�i c� vẫn c� c�i kh�ng n�n cho rằng "sắc tức thị kh�ng, kh�ng tức thị sắc", nghĩa l� trong hư kh�ng c� bụi bặm tức l� c� c�i c�, trong c�i b�n c� những khoảng trống tức l� c� c�i kh�ng.

Trong con người ch�ng ta cũng vậy. Nếu từ đầu đến ch�n kh�t khao kh�ng c� một chỗ hở trống th� ch�ng ta đ� chết rồi. Hai lỗ mũi nếu kh�ng trống th� hết thở, miệng kh�ng trống th� hết ăn. Tất cả c�c cơ quan lu�n lu�n c� c�i kh�ng lẫn trong c�i sắc. Ngược lại ngo�i hư kh�ng, c�i sắc cũng c� trong c�i kh�ng. Kh�ng với sắc lẫn lộn nhau n�n B�t-nh� n�i sắc tức thị kh�ng, kh�ng tức thị sắc l� vậy.

C�c h�nh thức hoặc trống kh�ng hoặc c� sắc chất đều được ch�ng ta nh�n thấy bằng mắt. Trong kinh Phật dạy th�n n�y do tứ đại hoặc lục đại, thất đại hợp lại th�nh. Tứ đại gồm đất, nước, gi�, lửa, ai cũng biết. Lục đại tức tứ đại cộng th�m hai thứ nữa l� Kh�ng v� Thức, thất đại th� th�m Kiến. C�c h�nh thức trống kh�ng như đ� n�i ở tr�n ch�nh l� Kh�ng đại. Kh�ng đại trong con người hay sự vật đều do mắt thấy.

Từ c�i kh�ng th� đối với c�i c� th�, ch�ng ta thấy được n�n n�i c�, n�i kh�ng. Đến c�i kh�ng tế nằm lẫn trong sắc, hoặc sắc lẫn trong kh�ng, tuy mắt kh�ng thấy nhưng d�ng k�nh hiển vi cũng sẽ thấy. Như vậy c�i kh�ng, c�i c� đ� đều l� đối đ�i từ h�nh thức, chưa phải "sắc tức thị kh�ng".

Thế th� "sắc tức thị kh�ng" trong kinh B�t-nh� chỉ cho c�i kh�ng n�o? Như t�i đ� n�i "T�nh Kh�ng duy�n khởi", căn cứ theo c�c kinh A-h�m Phật dạy tất cả ph�p kh�ng tự c�, m� do duy�n hợp mới th�nh. Bởi duy�n hợp mới th�nh n�n kh�ng một ph�p n�o tự c� nguy�n thể của n�, m� đều từ c�i kh�ng, duy�n hợp th�nh c�.

Th� dụ đống c�t, ban đầu kh�ng c� g�, do gom c�t tụ lại th�nh đống, gọi l� đống c�t. Nếu ph�n t�n số c�t n�y ra hết, th� đống c�t kh�ng c�n. Như vậy đống c�t c� l� do duy�n tụ lại m� c�, đống c�t kh�ng c� l� do duy�n tan ra th�nh kh�ng. Duy�n tụ duy�n t�n, th�nh c� th�nh kh�ng. Nếu đống c�t trước đ� tự c� nguy�n thể th� kh�ng phải đợi nhiều hạt c�t tụ lại mới th�nh, đống c�t đ� c� sẵn. Nhưng c� đống c�t n�o nguy�n sẵn kh�ng? Thật thể của đống c�t vốn kh�ng, c�i kh�ng n�y B�t-nh� gọi l� T�nh Kh�ng.

Cũng vậy, con người nếu trước tự c� th� kh�ng đợi cha mẹ sanh, c�n đợi cha mẹ sanh mới c� tức do duy�n hợp. Như vậy h�nh sắc con người, t�nh n� vốn kh�ng, duy�n hợp mới c�. N�i t�m lại, tất cả sự vật từ nhỏ tới lớn trong vũ trụ n�y đều kh�ng c� nguy�n thể ban đầu, phải đợi duy�n hợp mới c�, đ� gọi l� T�nh Kh�ng.

T�nh Kh�ng được thấy bằng g�? Đ� l� chỗ t�i muốn nhấn mạnh. T�nh Kh�ng được thấy bằng tr� tuệ. B�t-nh� l� tr� tuệ, chỉ c� tr� tuệ mới thấy được T�nh Kh�ng. Bởi v� T�nh Kh�ng kh�ng phải l� c�i kh�ng trống rỗng của hư kh�ng. V� sự vật kh�ng c� c�i nguy�n thể trọn vẹn từ ban đầu, đợi duy�n hợp mới c�, n�n gọi l� T�nh Kh�ng. N� kh�ng phải l� kh�ng đối với c�, n�n ch�ng ta đ�u thể d�ng mắt để thấy T�nh Kh�ng được. C�, kh�ng do duy�n hợp th� c� tụ c� tan, c�n T�nh Kh�ng kh�ng c� tụ t�n.

Kinh Kim Cang, đức Phật dạy muốn được gi�c ngộ phải biết "Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai". Hết sức đơn giản, thấy c�c tướng kh�ng c� tướng thật, đ� l� thấy Phật. Tại sao? Bởi v� tất cả tướng đều l� duy�n hợp, hư giả, kh�ng c� tướng thật l� phi tướng. Thấy như vậy l� thấy đ�ng sự thật n�n n�i thấy Phật, tức l� d�ng tr� tuệ gi�c ngộ để thấy.

Tr� tuệ gi�c ngộ l� tr� thấy biết đ�ng như thật. Ch�ng ta biết th�n n�y duy�n hợp, hư dối th� c�n chấp ng�, chấp ta thật kh�ng? Bởi từ l�u ch�ng ta sống trong m� lầm, v� minh n�n kh�ng thấy được t�nh thật của c�c ph�p th�nh ra chấp ng� chấp ph�p. Từ chấp ng� chấp ph�p m� sanh đấu tranh, t�n s�t lẫn nhau. B�y giờ nhờ tr� tuệ B�t-nh�, ta nh�n thấu đ�o biết tất cả ph�p duy�n hợp đều l� hư giả. Th�n n�y duy�n hợp n�n hư giả, c�i b�n duy�n hợp n�n hư giả, tất cả sự vật tr�n thế gian n�y do duy�n hợp n�n đều hư giả. Như vậy th� c�n chấp c�i g� nữa?

N�n kinh Kim Cang Phật dạy:

Nhất thiết hữu vi ph�p,

Như mộng huyễn b�o ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng t�c như thị qu�n.

D�ng tr� tuệ B�t-nh� soi thấu tất cả ph�p như mộng huyễn, như bọt như sương, như điện chớp, kh�ng c� g� thật hết. Thấy như vậy gọi l� thấy bằng tr� tuệ B�t-nh�. Nếu thấy m�nh thật người thật, tất cả mọi thứ đều thật hết th� phiền n�o cả ng�y. V� m�nh thật th� được mất cũng thật, vui buồn cũng thật n�n khổ. C�n thấy m�nh hư dối th� tất cả mọi thứ chung quanh cũng đều hư dối, hư dối th� được mất đ�u c� khổ. Sống chết chỉ l� tr� chơi th�i, c� g� đ�u quan trọng.

Cho n�n tr� tuệ B�t-nh� l� gốc, l� nền tảng của sự tu. Sở dĩ ở Thiền viện đ�m n�o cũng tụng B�t-nh� l� v� thế. Nếu nh�n tất cả ph�p đ�ng như thật, tức l� duy�n khởi, T�nh Kh�ng duy�n khởi n�n sự vật hiện c� đều hư dối kh�ng thật. Biết r� như vậy, thấy đ�ng như vậy, ch�ng ta cười cả ng�y kh�ng c� g� phải buồn, phải khổ. Giả sử ta bệnh, nghe ai n�i m�nh sẽ chết trong nay mai cũng cười th�i. C� hợp th� c� tan, l� ấy như vậy kh�ng c� g� phải sợ phải lo. Đ� l� ta sống được tự tại, giải tho�t rồi.

Thử kiểm lại, nếu con người l� thật, th� tổ ti�n m�nh tới b�y giờ lẽ ra vẫn c�n. Nhưng tổ ti�n ch�ng ta đ� đi hết rồi, tới �ng cố b� cố, �ng nội b� nội, cha mẹ m�nh cũng đi, v� đến phi�n m�nh cũng phải đi. C� ai sống m�i đ�u, hết tụ rồi tan, kh�ng c� g� thật cả. Vậy m� con người cứ ngỡ l� thật, c� phải m� lầm kh�ng?

N�n biết tr� tuệ v� m� lầm ở cạnh nhau th�i. Thấy th�n thật, c�c ph�p b�n ngo�i thật, đ� l� m� lầm. Nếu căn cứ tr�n T�nh Kh�ng duy�n khởi th� kh�ng c� một ph�p thật. Ch�ng ta tu muốn đi tới chỗ an lạc tự tại phải thấy r� được T�nh Kh�ng của c�c ph�p. Như vậy mu�n sự mu�n vật kh�ng c� g� tr�i buộc được m�nh, kh�ng c� g� l�m phiền lụy được m�nh.

Qua đ� đủ thấy tr� tuệ B�t-nh� l� sức mạnh phi thường gi�p ch�ng ta ph� tan hết mọi khổ đau, phiền lụy. Ch�ng ta tụng B�t-nh� ho�i m� kh�ng ứng dụng được tr� tuệ n�y n�n kh�ng hết khổ. Nếu hiểu thấu v� thể nhập được ch�n l� đ� rồi, th� sống giữa đời n�y kh�ng c� g� đ�ng sợ, kh�ng c� g� đ�ng phiền hết. Cuộc đời l� như vậy, c� g� đ�u quan trọng. Chiếc th�n hữu h�nh hữu hoại, l�c n�o cũng chực tan r� m� người ta cứ tưởng thật, v� l� l�m sao! Cuộc sống tr�n thế gian n�y l� một d�ng sanh diệt kh�ng dừng, lớp người trước đi qua, lớp người sau nối tiếp. Cứ như vậy m� sanh diệt kh�ng dừng, th� thật ở chỗ n�o?

Cho n�n ch�ng ta tụng kinh B�t-nh� l� để thấm nhuần l� T�nh Kh�ng duy�n khởi, chớ kh�ng phải để chấp kh�ng. Người hiểu thấu được l� B�t-nh� kh�ng bao giờ chấp kh�ng. Chấp đ�y kh�ng kia c� l� đại si m�. Bởi v� tất cả ph�p do duy�n hợp m� c�, duy�n hợp th� T�nh Kh�ng. Như ng�i ch�a Thường Chiếu n�y l� do duy�n hợp hay c� sẵn? Trước năm 1975 ng�i ch�a kh�ng c�, b�y giờ lại c�, r� r�ng do c�c duy�n tụ lại n�n c� ng�i ch�a. Ch�a đ� l� của duy�n th� gặp duy�n ngược lại tức sẽ tan hoại, chớ đ�u thể c�n ho�i. D� ki�n cố mấy, cũng c� duy�n l�m cho n� hoại kh�ng bao giờ c�n nguy�n m�i được. Hiểu như vậy l� ch�ng ta mở s�ng con mắt tr� tuệ B�t-nh�, n�n n�i sống bằng tr� tuệ B�t-nh� l� gi�c ngộ, giải tho�t.

Hiểu được l� T�nh Kh�ng l� hiểu được l� duy�n hợp hư dối. L� duy�n hợp ph�t xuất từ kinh n�o? Từ kinh A-h�m. Kinh A-h�m n�i c�c ph�p duy�n hợp, c�i n�y c� n�n c�i kia c�, c�i n�y sanh n�n c�i kia sanh, c�i n�y diệt n�n c�i kia diệt v. v� đều l� l� nh�n duy�n tương quan giữa c�i n�y với c�i kia, chớ kh�ng c� nguy�n sẵn một thứ ri�ng.

X�t theo đ� th� thấy từ l� Nh�n duy�n h�a hợp của hệ A-h�m tới T�nh Kh�ng của hệ B�t-nh� c� g� kh�c nhau đ�u. N�i duy�n hợp cho người nghe dễ hiểu, n�i T�nh Kh�ng để chỉ thẳng bản chất của c�c ph�p. Biết được T�nh Kh�ng th� biết duy�n hợp l� hư dối. Như t�i co năm ng�n tay lại th� c� nắm tay. Nếu nắm tay c� sẵn từ thủy ch� chung th� đ�u đợi năm ng�n co lại mới th�nh nắm tay. Như vậy nắm tay nguy�n t�nh n� vốn kh�ng, đợi năm ng�n co lại th�nh c�. C� l� do duy�n hợp, nếu năm ng�n bu�ng ra kiếm nắm tay trước c� c�n kh�ng? R� r�ng kh�ng c�n. Như vậy T�nh Kh�ng duy�n hợp mới th�nh tướng, duy�n hết th� tướng phải mất. Thế th� nắm tay thật hay giả? N� chỉ c� một thời gian th� l�m sao thật được.

Tăng Ni tu h�nh bao nhi�u năm, c� thấy được c�c ph�p duy�n hợp hư dối kh�ng? Nếu thấy được l� tr� tuệ B�t-nh�, c�n thấy chưa được l� v� minh. Tu m� chưa lột được x�c v� minh, bị n� tr�i chặt k�o l�i th� thật l� đ�ng tiếc. Muốn gi�c ngộ nhất định phải lột bỏ x�c v� minh mới được. Trong mười hai nh�n duy�n, v� minh l� đầu mối l� gốc. D�ng sanh tử gốc từ v� minh m� ra, chưa tho�t được c�i vỏ n�y th� kh�ng thể n�o giải tho�t sanh tử được.

Ai cũng nhận th�n n�y duy�n hợp nhưng lại kh�ng d�m n�i hư dối, v� l� l�m sao! Như vậy c� hết v� minh chưa? V� minh thật s�u thật đậm, m� cứ ngỡ m�nh tu hết v� minh rồi. Ai đ� lỡ n�i huynh v� minh qu� liền nổi giận đ�ng đ�ng, đ�u biết giận đ�ng đ�ng tức đ� th� nhận ta v� minh. Người ta n�i m�nh v� minh m� m�nh kh�ng v� minh th� th�i, c� g� phải giận. Ch�ng ta tu nếu kh�ng nắm vững c�i gốc đ�, th� sự tu l�m sao tiến được.

Cho n�n T�nh Kh�ng đ�y kh�ng phải kh�ng nh�n, nhĩ, tị, thiệt, th�n, �� l� T�nh Kh�ng l� do tr� tuệ B�t-nh� thấy. Biết l� đ�, bởi c�c ph�p T�nh Kh�ng đợi duy�n hợp th�nh c�, cho n�n n� l� hư giả. T�nh Kh�ng kh�ng phải l� c�i kh�ng đối với c�i c�. N�i t�m lại, T�nh Kh�ng l� để chỉ tất cả sự vật tự thể kh�ng c�, đợi duy�n hợp mới c�. Thế th�, t�i xin hỏi lại T�nh Kh�ng l� g�? Kh�ng l� c�i g� hết, n�n kh�ng tất cả c�c ph�p, s�u căn, s�u trần đều kh�ng, kể cả Tứ đế, Thập nhị nh�n duy�n cũng kh�ng.

Phật v� đối bệnh cho thuốc, bệnh hết th� thuốc cũng bỏ. T�nh Kh�ng l� một l� thật để ch�ng ta nh�n đ� nh�n thấy sự vật, tướng duy�n hợp l� hư dối, thấy r� như vậy. Người n�o thừa nhận th�n n�y l� duy�n hợp, th� phải thừa nhận n� l� hư dối. Đ� l� một lẽ thật.

Nếu ch�ng ta nắm được lẽ thật ấy rồi, sẽ thấy c�ng dụng của n� rất phi thường. Như thấy th�n n�y duy�n hợp hư dối th� c� c�n khổ nữa kh�ng? Nếu th�n n�y hư dối, người ta chửi m�nh, m�nh đ�u c� buồn. Cả ng�y cười ho�i kh�ng bận bịu g� hết, phiền n�o từ đ�u m� ra.

Gi�o l� Nguy�n thủy n�i th�n n�y v� ng�, năm uẩn hợp l� v� ng�. Đến B�t-nh� th� n�i T�nh Kh�ng duy�n hợp hư dối, đ� l� một lẽ thật, hết sức ch�n thật. Nhưng tội nghiệp thay ch�ng ta do m� lầm từ mu�n kiếp, n�n Phật n�i th� tin m� nhận th� kh�ng d�m nhận. Tin Phật n�i m� m�nh ưng sống với m� hơn l� tr�.

V� vậy ch�ng ta tu kh� trăm bề. Nếu tỉnh thức như lời Phật dạy th� tu kh�ng c� g� kh� hết. Tất cả phiền n�o khiến t�m bất an đều từ chấp th�n thật, t�m thật, cảnh thật. Khi biết r� kh�ng c� một ph�p thật th� phiền n�o theo đ� rơi rụng hết. Cho n��n ng�i Huyền Gi�c đ� n�i trong Chứng Đạo Ca:

Đại trượng phu bỉnh tuệ kiếm

B�t-nh� phong hề kim cang diệm.

"Đại trượng phu bỉnh tuệ kiếm", bậc đại trượng phu cầm kiếm tuệ, tức kiếm B�t-nh�. "B�t-nh� phong hề kim cang diệm", B�t-nh� l� tr� tuệ sắc b�n hay chặt đứt tất cả. Kim cang l� một thứ kim loại kh�ng c� chi ph� được, n�n v� n� như đống lửa ch�y rần rần, quăng vật g� v� cũng tan n�t hết. Như vậy tr� tuệ B�t-nh� ch�nh l� tr� tuệ kim cương hay ph� tan mọi thứ phiền n�o, m� kh�ng g� c� thể ph� được tr� tuệ n�y cả. Ng�i n�i tiếp:

Phi đản năng tồi ngoại đạo t�m

Tảo tằng lạc khước thi�n ma đảm.

Tồi phục l� dẹp trừ, tảo tằng l� sớm từng. Tr� tuệ B�t-nh� chẳng những hay dẹp trừ được t�m ngoại đạo, m� c�n sớm từng l�m cho thi�n ma phải rụng mật khiếp v�a nữa. Để thấy l� B�t-nh� n�y kh�ng ngoại đạo n�o ph� vỡ được.

Khi biết c�c ph�p T�nh Kh�ng duy�n hợp hư giả, l� tho�t khỏi được c�c thứ chấp hai b�n như chấp c�, chấp kh�ng, gọi l� bi�n kiến. Với con mắt B�t-nh� c� l� giả c�, v� giả c� n�n kh�ng phải kh�ng, m� cũng kh�ng phải thật c�. Kh�ng thật kh�ng, kh�ng thật c� m� hiện tiền mắt thấy, tai nghe, đ� l� l� trung đạo.

Nh� thiền thường d�ng h�nh ảnh mặt trăng ở dưới hồ. Mặt trăng dưới hồ c� hay kh�ng? X�c định l� kh�ng cũng kh�ng được, x�c định l� c� thật cũng kh�ng được. N� chỉ l� b�ng, l� huyễn h�a. N�i mặt trăng c� thật dưới hồ l� ngu xuẩn. N�i mặt trăng kh�ng ngơ, tại sao mắt m�nh thấy? Chẳng qua đ� l� tướng duy�n hợp hư giả, l� b�ng kh�ng phải thật. Kh�ng thật m� chấp thật l� ngu m�. Th�n n�y, sự vật chung quanh n�y cũng vậy.

Ch�ng ta si m� cho c�c ph�p l� thật n�n dễ bị n� k�o l�i dụ dỗ. Dụ dỗ bằng c�ch n�o? Th� dụ: Người hiếu sắc khi thấy sắc đẹp liền bị mềm l�ng, người hiếu danh hiếu lợi khi thấy danh lợi liền chạy theo. Nhưng nếu ch�ng ta biết r� những thứ đ� kh�ng thật, kh�ng chạy theo n� th� ma n�o c� thể dụ dỗ m�nh nổi, kể cả thi�n ma c�n phải vỡ mật nữa l� kh�c. L� Kim Cang B�t-nh� hay như vậy m� ch�ng ta kh�ng d�ng, giống như người c� kiếm b�n m� kh�ng biết d�ng, đ�nh chịu chết dưới tay giặc.

C� tr� B�t-nh� th� đi tới Niết-b�n dễ như trở b�n tay. Đạo Phật được gọi l� đạo gi�c ngộ v� thấy tột c�ng lẽ thật, chớ kh�ng phải thấy nửa chừng, thấy mơ m�ng. L�u nay ch�ng ta tu thật lơ l�. Cho n�n người tu cần phải l�nh hội cho s�u l� T�nh Kh�ng, một lần tỉnh l� kh�ng được m� trở lại nghe, chớ c�n tỉnh tỉnh m� m� th� mu�n đời cũng kh�ng ra khỏi sanh tử.

Kế đến, t�i n�i về Ch�n Kh�ng. N�i T�nh Kh�ng l� t�nh của tất cả ph�p, n�i Ch�n Kh�ng l� T�m thể của t�m. Một b�n thuộc về ph�p, một b�n thuộc t�m. Cho n�n T�nh Kh�ng th� duy�n khởi c�n Ch�n Kh�ng th� diệu hữu, ch�ng ta cần phải nắm cho thật vững chỗ n�y. Tại sao Ch�n Kh�ng l� diệu hữu?

Lục Tổ khi tr�nh kệ cho Ngũ Tổ, Ng�i kết luận bằng hai c�u:

Bản lai v� nhất vật

H� xứ nh� trần ai.

Xưa nay kh�ng một vật, đ� l� Ch�n Kh�ng. Về điểm n�y chư Tổ đều thấy như nhau. Như Tổ Huệ Khả sau khi c� chỗ v�o, thời gian sau Ng�i bạch với Tổ Đạt-ma: "Bạch H�a Thượng con đ� dứt hết c�c duy�n. " Tổ bảo: "Coi chừng rơi v�o kh�ng. " Ng�i thưa: "R� r�ng thường biết, kh�ng sao được. " Tổ Đạt-ma liền khen: "�ng như vậy, ta như vậy, chư Phật cũng như vậy. " Đ� l� Tổ đ� ấn chứng cho ng�i Huệ Khả rồi. Chỗ r� r�ng thường biết m� kh�ng c� một vật ch�nh l� Ch�n Kh�ng. Từ Tổ Huệ Khả thấy được l� Ch�n Kh�ng kh�ng một vật. Đến Tổ Huệ Năng th� thấy "bản lai v� nhất vật" cũng kh�ng một vật. Đ� l� tr�n thể của t�m m� n�i. Tuy kh�ng c� một vật m� r� r�ng thường biết, cho n�n n�i Ch�n Kh�ng diệu hữu.

Ch�ng ta nếu tỉnh t�o, một m�nh ngồi lại năm ba ph�t, kh�ng c� niệm n�o dấy l�n. Mắt, tai, mũi, lưỡi� to�n th�n hiển nhi�n như vậy, l�c đ� biết hay kh�ng biết? Chim k�u nghe, người đi thấy, gi� thổi biết, r� r�ng thường biết m� vẫn kh�ng c� một niệm. Thế c� phải l� Ch�n Kh�ng kh�ng?

Ngược lại ch�ng ta biết bằng c�ch duy�n theo b�ng d�ng người v� sự vật, biết bằng c�ch ph�n biệt chia chẻ, đ� l� c�i biết của sanh diệt. C�i biết sanh diệt ta lại d�ng, c�n c�i biết kh�ng sanh diệt, thường nhi�n th� lại bỏ. V� vậy chư Phật chư Tổ dạy m�nh tu đến chỗ kh�ng c�n một niệm vọng tưởng m� vẫn hằng tri hằng gi�c, đ� l� chỗ ch�n thật. Chỗ đ� kh�ng phải kiếm ở đ�u xa, chỉ cần đừng dấy niệm, đừng chạy theo cảnh th� c�i biết ấy r� r�ng.

V� c�i biết ấy kh�ng c� h�nh tướng, n�n ch�ng ta dễ qu�n. C� m� kh�ng nhận, như kẻ cưỡi tr�u đi t�m tr�u, dưới s�ng m� k�u kh�t nước. Tr�i lại, ch�ng ta nhận th�n duy�n hợp hư dối l� thật, t�m nghĩ tưởng lăng xăng l� m�nh. Cả ng�y m�nh sống với t�m khỉ vượn, ph�ng chạy tứ tung. V� sống với t�m ấy n�n hết ph� b�nh người n�y, lại ch� tr�ch kẻ kh�c, tạo kh�ng biết bao nhi�u thứ nghiệp, bao nhi�u khổ đau.

Như vậy mới thấy ch�ng ta m� lầm rất đ�ng thương. C�i thật đang c� lại kh�ng nhớ, nhớ những c�i giả dối tạm bợ, cho đ� l� m�nh. V� vậy Phật n�i ch�ng sanh mu�n kiếp mu�n đời tr�i lăn trong sanh tử. Kinh Ph�p Hoa dụ ch�ng ta l� con �ng Trưởng giả, bỏ cha đi lang thang l�m kẻ ăn m�y rồi k�u khổ. Đến khi trở về, thấy cha m� kh�ng d�m nhận m�nh l� con Trưởng giả, lại nhận kiếp bần h�n, thật đau x�t.

Cũng vậy, ch�ng ta cho t�m lăng xăng sanh diệt l� t�m m�nh n�n suốt đời khổ ho�i. Nếu kh�ng nhận t�m ấy l� m�nh th� đ�u c� khổ. Sở dĩ ch�ng ta khổ v� người kia ch�, người nọ n�i xấu m�nh. Việc kh�ng đ�ng l�m, kh�ng đ�ng nghe m� cứ l�m, cứ nghe, chạy theo c�i giả bỏ c�i thật th� kh�ng khổ sao được. Chỉ cần bu�ng hết những t�m niệm lăng xăng lộn xộn đ�, th� c�i ch�n thật hiện tiền. Thật ra, l�c n�o t�m ch�n thật cũng hiện tiền chớ kh�ng phải vắng, nhưng v� m�nh qu�n th�nh ra n� vắng.

Trong nh� thiền c�c Thiền sư c� khi tự gọi, tự "Dạ" để nhắc m�nh c� �ng chủ đang nghe đ�. Nếu kh�ng c� �ng chủ l�m sao nghe, l�m sao thấy. Như đưa phất tử l�n để nhắc m�nh c� c�i hiện tiền đang thấy, kh�ng phải suy nghĩ g� cả. Hoặc khi c�c ng�i hỏi, học nh�n vừa c�i đầu suy nghĩ c�c ng�i liền t�t tai, đập gậy, sao t�n nhẫn vậy? Thật ra c�c ng�i thương đ�o để, từ bi đ�o để, kh�ng muốn cho người sau nhận giả l�m thật, rồi b�m v�o đ� m� đ�nh mất c�i ch�n thật đang hiện sờ sờ trước mặt.

Ch�ng ta thử sống với c�i thật chừng một ng�y th�i, xem thử c� buồn giận kh�ng? Hay l� sẽ được thảnh thơi tự tại, thấy vẫn thấy, nghe vẫn nghe, giờ ăn th� ăn, giờ ngủ th� ngủ, kh�ng c� g� buộc r�ng, kh�ng c� g� bận l�ng. C�c Thiền sư hồi xưa thường bảo với đệ tử: �ng d�ng cơm th� ta nhận, �ng x� th� ta gật đầu, chỗ n�o kh�ng chỉ t�m yếu cho �ng. R� r�ng c� l�c n�o thiếu vắng c�i ch�n thật ấy đ�u, chỉ tại m�nh kh�ng chịu nhận, lại chạy theo những g� văn hoa, b�ng bẩy b�n ngo�i, th�nh ra mất m�nh.

V� qu�n hẳn t�m thể nguy�n vẹn kh�ng sanh diệt ấy n�n phiền n�o k�o l�i ch�ng ta đi trong lu�n hồi sanh tử. Kiếp n�y tu nhắm mắt cũng lu�n hồi, kiếp kh�c tu nhắm mắt cũng lu�n hồi, kh�ng tho�t được v� qu�n gốc theo ngọn, qu�n ch�nh theo t�. Người tu phải thấy tường tận chỗ đ�.

Đức Phật khi sống với t�m ch�n thật rồi th� Tam minh, Lục th�ng, Tứ v� sở �y, Thập b�t bất cộng v. v� đầy đủ. Đ� l� "Ch�n Kh�ng m� diệu hữu". C�i c� trong nhiệm mầu phi thường, chớ kh�ng phải c� trong c�i thường. Kh�ng phải trở về đ� rồi ch�ng ta khờ khạo kh�ng biết g�, m� trở về được th� diệu hữu hiện tiền. Diệu hữu ấy l� dụng của t�m, cho n�n quan trọng ở chỗ trở về được thể th� dụng ch�nh l� diệu hữu.

Thấy được T�nh Kh�ng, thấy được Ch�n Kh�ng ch�ng ta c�n việc g� phải l�m nữa kh�ng? Thiền sư Huyền Gi�c trong b�i Chứng Đạo Ca đ� n�i "Ph�p th�n gi�c liễu v� nhất vật". V� nhất vật ch�nh l� chỗ kh�ng một vật của Lục Tổ, l� Ph�p th�n, l� Ch�n Kh�ng vậy. "Bản nguy�n tự t�nh thi�n ch�n Phật", chữ thi�n n�y kh�ng phải trời, m� thi�n l� sẵn c�. N�i bản nguy�n tức l� n�i nguồn gốc ban đầu. Nguồn gốc ban đầu của ch�ng ta ch�nh l� �ng Phật sẵn c� từ mu�n đời đ�.

Khi gi�c ngộ th� thấy: "Ngũ uẩn ph� v�n kh�ng khứ lai. Tam độc thủy b�o hư xuất một. " Thấy được, nhận được ph�p th�n th� th�n năm uẩn n�y cũng như m�y nổi, qua lại trong hư kh�ng, chẳng c� nghĩa l� g� hết. Chỉ v� ch�ng ta kh�ng nhận ra được ph�p th�n, n�n thấy th�n năm uẩn l� qu�. Khi ngũ uẩn đ� như ph� v�n, th� tam độc cũng như bong b�ng nước.

Người tu thấy tột như vậy th� việc tu kh�ng phải l� kh�, kh�ng phải l� chuyện xa vời, m� n� rất gần rất thực tế. Sống được với Ch�n Kh�ng tức l� sống được với Ph�p th�n. Sống được với Ph�p th�n th� kh�ng c�n tạo nghiệp, kh�ng tạo nghiệp th� l�m g� đi trong lu�n hồi nữa. Đ� l� giải tho�t rồi.

R� r�ng chỉ cần nhận ch�n được hai điều "T�nh Kh�ng duy�n khởi" của c�c ph�p, "Ch�n Kh�ng diệu hữu" của t�m thể th� đời tu ch�ng ta vững như h�n n�i. Ngược lại cứ chạy theo b�n ngo�i, nghe chỗ n�y hay, chỗ kia lạ th� tu suốt kiếp cũng chỉ lẩn quẩn trong sanh tử, kh�ng đi tới đ�u hết.

N�n nhớ hai điều n�y kh�ng thể lẫn lộn nhau m� hỗ tương cho nhau. Thấy c�c ph�p T�nh Kh�ng th� duy�n khởi hư giả, thấy như vậy n�n phiền n�o lặng, từ đ� Ch�n Kh�ng mới hiện. Ch�n Kh�ng hiện, nh�n lại th�n n�y hư dối c�n g� nữa m� tham s�n si. Cho n�n trước phải d�ng tr� B�t-nh� dẹp hết phiền n�o th� "�ng chủ"� mới hiện ra.

Mong rằng Tăng Ni tu h�nh thấy đ�ng như thật, đừng bị v� minh che mờ nữa, để tr�n đường tu dễ tiến mới c� thể tho�t ly sanh tử được. Đ� l� mục ti�u của ch�ng ta nhắm.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]