Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập IV)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


ĐẠO PHẬT N�I THẲNG LẼ THẬT

Thiền viện Tr�c L�m - 08 - 2000

 

Thể theo y�u cầu của qu� Phật tử, nh�m b�c sĩ kh�m bệnh cho Tăng, Ni n�n c� buổi n�i chuyện h�m nay, với đề t�i Đạo Phật n�i thẳng lẽ thật. Đạo Phật l� đạo gi�c ngộ, m� gi�c ngộ l� thấy đ�ng như thật, n�n n�i v� dạy người cũng đ�ng như thật, kh�ng c� những lệch lạc, sai lầm.

Đạo Phật chuộng lẽ thật như thế n�o?

Người đời v� kh�ng thấy được lẽ thật, n�n rất sợ lẽ thật. Th� dụ như cha mẹ gi� sắp chết, lo sắm sẵn c�i h�m nhưng kh�ng d�m n�i h�m m� n�i c�i thọ. N�i thọ l� sống, v� sợ chết n�n kh�ng n�i h�m. Như vua ch�a hồi xưa thường được mu�n d�n tung h� "Vạn tuế! " tức l� sống mu�n năm m� c� �ng n�o sống được trăm tuổi đ�u. Mơ ước của con người qu� h�o huyền, r� r�ng kh�ng d�m nh�n lẽ thật.

Đạo Phật kh�ng như thế, m� n�i thẳng lẽ thật. Một lần đức Phật hỏi c�c thầy Tỳ-kheo: "Mạng người sống được bao l�u? " C� thầy n�i mạng người sống năm năm, c� thầy n�i một năm, c� thầy n�i ba th�ng cho đến c� thầy n�i một ng�y, đều bị Phật quở c�c �ng chưa thấy đạo. Rồi một thầy thưa: "Mạng người sống trong bữa ăn", Phật n�i: "�ng cũng chưa thấy đạo. " Cuối c�ng c� một thầy Tỳ-kheo thưa: "Bạch Thế T�n, mạng người sống trong hơi thở. " Phật khen: "�ng đ� thấy đạo. "

Đạo Phật n�i mạng người sống trong hơi thở l� n�i lẽ thật hay dọa dẫm người ta? C� người n�o h�t v� kh�ng thở ra m� sống được kh�ng? Trăm người như một, thở kh� ra m� kh�ng h�t lại th� chết. Như vậy mạng sống kh�ng phải "trong hơi thở" l� g�? Mới nghe ch�ng ta thấy ngắn qu�, đột ngột, nhưng sự thật l� như vậy. N�n người hiểu đạo Phật kh�ng mơ tưởng sống trăm năm, mu�n năm, bởi v� đ� l� mơ tưởng h�o huyền, kh�ng đ�ng lẽ thật.

C� một Thiền sư Nhật Bản, đầu năm Phật tử đến ch�c Tết Ng�i xong, Ng�i ch�c lại: "T�i ch�c qu� vị, �ng chết, b� chết, cha chết, mẹ chết, con chết, ch�u chết! " Người ta ngẩn ngơ, ch�c Tết g� m� lạ đời qu� vậy, một v�ng chết. Họ hỏi: "Sao H�a thượng ch�c con như vậy? " Ng�i b�n n�i: "Ch�c như vậy l� ch�c cho �ng hạnh ph�c đ�. " Bởi v� �ng nội chết, b� nội chết, rồi tới con, tới ch�u chết theo thứ tự. Nếu người bất hạnh l� cha c�n con chết, hoặc con c�n ch�u chết. T�i ch�c vậy đ� l� hạnh ph�c cho gia đ�nh �ng rồi.

Nhưng người đời c� chịu vậy đ�u. M�nh ch�c thế chắc họ chửi m�nh. Lối dạy của đạo Phật thực tế m� thế gian lại kh�ng th�ch. Trong cuộc sống n�y, ai cũng thầm ước mơ m�nh c� hạnh ph�c, nhất l� giới trẻ. Nhưng ngược lại, đức Phật n�i đời l� đau khổ. Từ người gi�u tới người ngh�o, gi� tới trẻ, thử hỏi cuộc đời hạnh ph�c kh�ng, c� ai d�m n�i "Đời t�i ho�n to�n hạnh ph�c". Kh�ng khổ c�i n�y cũng khổ c�i kh�c, khổ v� con c�i, khổ v� tiền bạc, khổ v� bệnh hoạn, khổ v� trong gia đ�nh kh�ng h�a thuận v. v� N�i chung truy nguy�n ra ai cũng khổ. Kh�ng người n�o ho�n to�n từ khi sanh ra, lớn l�n cho tới ng�y nhắm mắt đều được hạnh ph�c.

Vậy m� Phật n�i cuộc đời đau khổ, người ta bảo đạo Phật bi quan, n�i đời người ngắn ngủi, người ta cũng cho rằng bi quan. Nhưng đ� l� lẽ thật. Bởi con người sống trong tưởng tượng h�o huyền nhiều qu�, kh�ng d�m nh�n sự thật. Đạo Phật chỉ thẳng sự thật, kh�ng h�o huyền, kh�ng tưởng tượng. Thấy được lẽ thật rồi, đời sống m�nh mới được an vui, tự tại. C�n sống trong h�o huyền, tưởng tượng, khi gặp thực tế tr�i ngược ch�ng ta rất đau khổ, v� điều m�nh mong m� kh�ng được. Người thấy đ�ng lẽ thật, c�i g� đến cứ đến, kh�ng sợ chi hết. Kh�ng sợ l� hết khổ. Như vậy người tu theo đạo Phật l� người nh�n thẳng sự thật, kh�ng tưởng tượng h�o huyền.

Ch�ng ta ai cũng ngỡ th�n m�nh l� sạch đẹp, đ�u ai d�m nghĩ n� nhơ nhớp bẩn thỉu. Song Phật chỉ thẳng th�n n�y l� đ�y da h�i thối, kh�ng c� g� qu�. Nghe ch�n chưa! Ch�ng ta gẫm lại c� phải vậy kh�ng? Phần nhiều ai cũng tưởng tượng th�n m�nh qu� đẹp rồi từ đ� sanh tham lam, đắm nhiễm, ng�y c�ng t� điểm th�m những sai lầm. Nh�n thấy người n�y đẹp, người kia xấu rồi cứ tưởng với nhau th�i, chớ sự thật kh�ng phải như vậy. Con người, nếu n�i trắng ra kh�ng ai sạch sẽ hết, chẳng qua kh�o che đậy th�i. Người biết g�n giữ, d� dặt th� tương đối dễ chịu một ch�t, c�n l�i th�i th� kh� chịu hơn.

Đức Phật với tr� tuệ B�t-nh�, Ng�i thấy tất cả ph�p hữu vi như mộng huyễn b�o ảnh, như sương như điện. Tuổi trẻ thường tưởng đời m�nh c�n d�i, chớ cỡ như ch�ng t�i nh�n lại mấy chục năm qua như giấc mộng. Những c�i được, mất, th�nh, bại chỉ l� một giấc mơ, kh�ng c� g� thật hết. Nhưng người m� tưởng n� thật, n�n tranh gi�nh nhau, cướp đoạt nhau, g�y đủ thứ khổ cho nhau. Nếu biết cuộc đời tạm bợ th� thương nhau kh�ng hết, c� đ�u gi�nh hại nhau. Lẽ thật th� ai cũng chuộng nhưng kh�ng d�m nh�n thẳng. Chỉ c� đạo Phật d�m nh�n thẳng, n�i thẳng. Thế th� điều đ� c� lợi hay c� hại?

Ch�ng ta từ b� đ� được cha mẹ, �ng b�, x�m giềng gi�o dục theo sự tưởng tượng, kh�ng d�m n�i lẽ thật. Cứ nu�i những ảo tưởng đ�, rồi gặp việc tr�i ngược liền hốt hoảng, chịu kh�ng nổi n�n muốn tự tử. Như thanh ni�n nam nữ thương mến nhau hay thề nguyền "non m�n biển cạn, l�ng vẫn kh�ng đổi". Ngược lại đức Phật n�i t�m người lu�n thay đổi từng ph�t từng gi�y. V� thường m�! Tất cả những t�m niệm của ch�ng ta l� một d�ng chuyển biến, lu�n đổi thay. Người ta cứ ngỡ non m�n biển cạn, chớ l�ng m�nh kh�ng thay đổi, nhưng kh�ng ngờ n� c� thể thay đổi bất cứ l�c n�o.

Th� dụ một đ�i nam nữ trẻ thương nhau, nếu một trong hai người ph�t hiện ra người m�nh thương bị bệnh c�i, th� t�nh thương đ� c�n minh sơn thệ hải nữa kh�ng? Lấy g� bảo đảm cho lời thề nguyền đ�y? Như vậy r� r�ng t�m người đổi thay t�y ho�n cảnh, t�y trường hợp, chớ kh�ng c� g� l� thủy chung như nhất được hết. Nhưng thế gian cứ tưởng như vậy n�n hứa với nhau như vậy. Do đ� khi c� người thay đổi th� khổ t�m đến nỗi muốn tự tử. Đ� l� tự ch�ng ta gạt nhau th�i.

Nếu hiểu đ�ng như đạo Phật, t�m con người l� một d�ng chuyển biến thay đổi. Ng�y nay hội đủ điều kiện th� thương, ng�y mai thiếu th� hết thương. Đ� l� lẽ thật, ai cũng như ai th�i, chớ kh�ng c� lời n�i n�o đ�ng sự thật một trăm phần trăm. Cho n�n t�i c� viết c�u n�y: " Ng�y nay bạn thương mến t�i. V�ng, t�i cảm ơn bạn. Nhưng ng�y mai t�i kh�ng d�m nghĩ đến. " Ng�y nay t�i biết như vậy, c�n ng�y mai t�i chưa d�m nghĩ, v� ng�y mai c�n bao nhi�u sự đổi thay nữa.

Thấy được lẽ thật, ch�ng ta sống kh�ng bị lầm, kh�ng bị gạt n�n vui ho�i. Ngược lại, kh�ng hiểu lẽ thật th� bị lầm, bị gạt n�n khổ đau ho�i. Ng�y nay người ta mến m�nh, cảm ơn; ng�y mai người ta thay đổi, m�nh cũng kh�ng buồn v� biết trước rồi. Ch�ng ta đ� thấy được lẽ thật rồi th� kh�ng c� g� l�m cho m�nh đau khổ. N�n người biết được lẽ thật l� người tho�t khỏi đau khổ. Người tu như qu� thầy, biết cuộc đời đau khổ, tạm bợ� lẽ ra buồn b�, rũ rượi, nhưng tr�i lại qu� thầy rất vui. C�n người đời cho cuộc sống l� hạnh ph�c, nhưng lại buồn phiền nhiều. Mới thấy gi� trị của đạo Phật kh�ng đ�nh lừa con người, m� chỉ thẳng lẽ thật cho con người, từ cuộc sống nội t�m cho tới ngoại cảnh.

Đức Phật ng�y nay bị hiểu lầm qu� nhiều. Ng�i từng tuy�n bố: "Ta kh�ng c� quyền ban phước, xuống họa cho ai" m� b�y giờ Phật tử lại xin Phật đủ thứ. Phật cho con c�i n�y, cho con c�i kia, nếu Phật cho được th� Ng�i đ�u n�i l� nh�n quả l�m chi. Ch�ng ta l�m nh�n l�nh hưởng quả l�nh, tạo nh�n �c chịu quả �c, đ� l� quyền của m�nh, chớ kh�ng phải của Phật.

Trong kinh, Phật n�i một Phật tử tạo tội �c với một người kh�c đạo tạo tội �c th� cả hai đều bị quả b�o ngang nhau. Kh�ng phải Phật tử tạo tội �c, chịu quả b�o nhẹ hơn người kh�c đạo tạo tội �c. Tội �c đ� tạo ra th� nghiệp quả c�ng bằng, nặng nhẹ c�ng chịu như nhau, kh�ng c� sai biệt. Giả sử m�nh l�m điều tốt với nhiều người, nhưng thương tổn một người, rồi cho rằng: "T�i v� cứu nhiều người, n�n l�m khổ một người, v� vậy kh�ng c� tội. " Nghĩ như vậy l� kh�ng được.

Trong kinh Ưu-b�-tắc, Phật kể lại đời qu� khứ Ng�i tu hạnh Bồ-t�t, đi c�ng chuyến đ� với những người thương bu�n. Giữa đường, anh l�i đ� t�m c�ch giết thương bu�n để lấy tiền. Ng�i biết được n�n giết anh l�i đ� để cứu những thương bu�n. Thế thường người ta cho rằng giết như vậy kh�ng c� tội, nhưng trong kinh n�i d� Ng�i cứu nhiều người, nhưng đ� giết ai th� phải chịu tội với người đ�. Phần phước đối với những người kia l� chuyện kh�c. Như vậy mới c�ng bằng chứ. Chớ giết người m� khỏi tội th� kh�ng c�ng bằng rồi. Phật tử n�n nhớ ta l�m khổ một người th� tội với một người, gi�p được một trăm người th� c� phước với một trăm người. Việc n�o ra việc ấy, r� r�ng như vậy.

Tội giết hay l�m khổ một người để cứu nhiều người c� ảnh hưởng g� đến cuộc sống n�y kh�ng? V� dụ trong x�m, c� một người bất lương ph� hại, cướp b�c x�m l�ng, b�y giờ m�nh tố c�o khiến họ phải ở t�. Như vậy đối với kẻ xấu kia m�nh l� người hại họ, n�n họ vẫn th� m�nh như thường. Nhưng v� t�m ta muốn gi�p cho x�m l�ng y�n vui n�n chấp nhận tất cả. Tới chừng ra khỏi t�, họ muốn hại lại như v�y đ�nh m�nh, khi ấy những người được ta cứu trước đ� b�nh vực lại. Như vậy nh�n quả r� r�ng. M�nh l�m khổ người n�o th� người đ� trả th�, m�nh gi�p người n�o th� người đ� trả �n. Chớ đừng hiểu lầm ta hại người n�y để cứu người kia l� kh�ng c� tội.

Cho n�n Phật tử khi l�m việc g� phải chấp nhận hậu quả của việc đ�. Ch�ng ta thường hay tr�nh n� tội lỗi, l�m phước một ch�t, hay hại một người để gi�p nhiều người, th� cứ bảo m�nh l�m phước, kh�ng c� tội. Hiểu như vậy l� tr�i lẽ đạo, thiếu sự c�ng bằng. Người thật hiểu đạo Phật, trong cuộc sống l�c n�o cũng c� c�i nh�n đ�ng như thật, kh�ng gian dối, kh�ng lừa gạt. C�n người kh�ng hiểu th� hay lo sợ.

Th� dụ đối với người �c, m�nh muốn trừ khử họ để cứu nhiều người nhưng sợ tội th�nh ra kh�ng d�m l�m, đ� l� �ch kỷ. C�n ta chấp nhận c� tội với kẻ �c, để cứu nhiều người lương thiện kh�c, th� hậu quả thế n�o cũng được. Họ chửi cũng được, đ�nh cũng được, giết cũng được. Gan dạ chấp nhận như vậy, mới l� t�m niệm cao thượng của người Phật tử hiểu đ�ng lẽ thật.

Trong đạo Phật, t�m �ch kỷ v� t�m từ bi lợi tha kh�c nhau. Người c� t�m từ bi lợi tha lu�n l�m điều tốt v� chấp nhận thiệt th�i. Người c� t�m �ch kỷ d� l�m việc tốt m� m�nh bị thiệt th�i th� cũng kh�ng l�m. Hiểu như vậy ch�ng ta mới thấy thế n�o l� đạo đức ch�n thật v� đạo đức giả dối.

Đức Phật đ� n�i Ng�i kh�ng c� quyền ban phước xuống họa cho ai, đ� l� Ng�i n�i lẽ thật. Nhưng ch�ng ta b�y giờ mỗi lần đem phẩm vật đến c�ng ch�a th� đ�i đủ thứ. V� vậy qu� thầy qu� c� cũng phải chiều l�ng n�n t�n th�n c�ng đức v� lượng v� bi�n, v. v� đủ thứ. Thật ra, nếu ch�ng ta c�ng ch�a với l�ng th�nh của m�nh, v� muốn Tam Bảo hiện hữu m�i ở thế gian, n�n phụ gi�p cho qu� thầy, qu� c� y�n t�m tu h�nh, giảng dạy cho mọi người hiểu đạo. Đ� l� tốt rồi, đ�i l�m chi nữa. Nhưng n�i thế người ta kh�ng c�ng đ�u, nghe kh� khan qu�. Cho n�n Tăng Ni phải khen ngợi c�ng đức c�ng dường v� lượng v� bi�n, như vậy Phật tử mới vui. L�u ng�y th�nh lệ, cứ n�i c�ng l� phước đức v� lượng v� bi�n, n�n thi�n hạ rủ nhau: "C�ng ch�a c� phước lắm nghen", m� kh�ng biết tại sao c� phước. Phước l� do l�ng m�nh ch�n th�nh muốn Tam Bảo thường c�n để lợi lạc ch�ng sanh, đ� l� t�m tốt. Từ t�m tốt ban đầu n�n quả tốt theo sau. C�n người cầu lợi, muốn c� phước v� lượng v� bi�n n�n c�ng, đ� l� t�m tham, l�m sao c� phước được.

Ch�ng ta kiểm lại xem đạo Phật l� đạo chuộng lẽ thật, m� người tu thiếu lẽ thật th� v� t�nh đ�nh lừa Phật tử. Đ�nh lừa bằng c�ch bảo: "Nh� con c� cha bệnh, để thầy cầu an cho" hoặc "nh� con c� mẹ mất, để thầy cầu si�u cho". Nếu chiếu theo luật nh�n quả th� thầy c� thể cầu được kh�ng? Luật nh�n quả n�i r� r�ng, ai l�m người đ� phải chịu quả b�o của m�nh. Nếu cầu được th� Phật kh�ng dạy ch�ng ta tu. Ai l�m g� cứ l�m, c� tiền đưa thầy cầu cho th� kh�ng c� tội lỗi chi hết, như vậy khỏi tu. C�n nếu tu th� kh�ng phải do cầu m� được.

Tu l� mỗi người tự thấy lỗi lầm của m�nh rồi tr�nh sửa. Tr�nh sửa, kh�ng tạo tội �c, kh�ng g�y lỗi lầm th� tự m�nh đầy đủ phước đức, tự m�nh tốt rồi, đ�u cần ai ban cho. Chớ c�n c�ng m� kh�ng chịu tu, cứ ỷ lại thầy lo cho m�nh hết th� c�ng ch�a h�a ra l� đ�ng tiền bảo hiểm sao? C�ng rồi, m� bệnh thầy kh�ng đến kịp liền buồn tr�ch thầy kh�ng thương, v� kh�ng đ�p lại đ�ng những g� Phật tử mong muốn. Vậy th� đồng tiền bỏ ra chỉ để đ�p lại những y�u cầu trước mắt th�i, chớ kh�ng c� � nghĩ s�u xa, như gieo duy�n với Tam Bảo để được lợi �ch cho nhiều người. L�m như vậy v� t�nh đạo Phật kh�ng c�n l� đạo của lẽ thật nữa.

Đạo Phật chuộng lẽ thật, m� b�y giờ biến th�nh đạo huyền h�o, kh�ng c� lẽ thật, lỗi tại đ�u? Ch�nh những người hướng dẫn phải chịu tr�ch nhiệm n�y, chớ Phật tử c� biết g�. Thế n�n người tu phải hiểu thật thấu đ�o tr�ch nhiệm của m�nh. Như Phật tử muốn tu theo đạo Phật cho hết khổ, th� phải dạy họ thấy được lẽ thật. V� dụ khi biết t�m con người l� một d�ng chuyển biến đổi thay, t�y duy�n t�y cảnh, c� người n�o đ� đổi thay với m�nh th� ch�ng ta cười th�i, kh�ng tr�ch m�c giận hờn. Đ� l� lẽ thật ta kinh nghiệm rồi, n�n đ�u c� khổ.

Như đối với th�n n�y, ai d�m bảo đảm từ trẻ tới gi� m�nh kh�ng bệnh? Trong ng�nh y dễ nhận điều n�y lắm. Ch�nh th�n m�nh, m�nh c�n kh�ng biết hết được, kh�ng tự cứu được, th� cứu người cũng chỉ một phần th�i. C� th�n l� c� bệnh, Phật đ� dạy như thế. Th�n n�y l� ổ của bệnh hoạn. Chỉ cần một giọt m�u đ�ng lại, chận đứng mạch m�u th� thấy chết tới nơi rồi, phải kh�ng? Đ� l� mới n�i mạch m�u, c�n bao nhi�u tế b�o sanh hoạt nữa, su�n sẻ đều đặn th� y�n, nếu tế b�o n�o ngỗ nghịch một ch�t th� thấy nguy rồi. R� r�ng đối với th�n n�y, ch�ng ta kh�ng c� quyền l�m chủ, m� cứ ngỡ m�nh l� chủ. Thật tức cười. Cho n�n Phật n�i v� ng�, tức kh�ng c� chủ thể.

Th�n n�y kh�ng c� chủ thể, chẳng qua duy�n đủ th� an to�n, duy�n thiếu th� tan r�. Nhiều khi ch�ng ta kh�ng biết b�y giờ trong đ� n� đang l�m g�? Chỉ đ�i th� cho cơm, v� đ� n� ti�u h�a được, hay kh�ng được cũng r�ng chịu, chớ kh�ng biết g� cả. Nếu ch�ng ta l�m chủ th� phải biết n� đang trục trặc ở đ�u, t�m c�ch giải quyết được. Đằng n�y kh�ng biết g� hết, cứ dồn v� rồi n� tự giải quyết sao th� giải quyết, như vậy chủ ở chỗ n�o?

N�n c�i nh�n của thế gian rất hời hợt, cứu đời chỉ l� cứu tạm th�i, chớ kh�ng cứu được chỗ rốt r�o c�ng tột. Đạo Phật dạy th�n n�y kh�ng c� chủ, sống t�y theo duy�n. Duy�n thuận th� tốt khỏe, duy�n nghịch th� đau yếu bệnh hoạn, vậy th�i. Do đ� ch�ng ta kh�ng phải l� chủ trọn vẹn của th�n n�y, m� chỉ nương g�, mai mốt n� sẽ hoại. Cũng như ch�ng ta sắm chiếc xe, khi đang điều khiển thấy như m�nh l�m chủ n�, nhưng tới chừng n� trục trặc th� chủ cũng phải cởi �o ra sửa gần chết. Rồi mai mốt n� cũ kh�ng biết m�nh l�m chủ n� hay n� l�m chủ lại m�nh. Ta đẩy n� th� ai l� chủ? R� r�ng mọi vật chỉ nương g� với nhau m� tồn tại, chớ kh�ng c� chủ thể.

Trở lại, tại sao ch�ng ta phải tu? Tu l� chuẩn bị cho m�nh giải tho�t như Phật. Nếu chưa th�nh tựu sở nguyện ấy, ch�ng ta c�n trở lại, nhưng trở lại với điều kiện tốt hơn. Do đ� th�n n�y c� hoại m�nh cũng kh�ng sợ. C�n nếu ta cứ lo cho th�n hiện tại, tạo nghiệp �c, tới chừng th�n sắp hoại khổ sở hoảng hốt, kh�ng biết l�m sao.

Như vậy mới nh�n người tu như thiệt th�i, thua s�t, nhưng thật ra lại l� người s�ng suốt, biết lo xa, biết nghĩ tới th�n ch�n thật bất hoại. M�nh biết chiếc xe cũ sẽ hư th� chuẩn bị tiền mua xe mới tốt hơn. Cũng vậy ch�ng ta biết th�n n�y phải gi�, phải chết, n�n l�m sao ng�y n� gi� chết, m�nh đủ phước, đủ duy�n để được th�n sau tốt đẹp hơn, nhẹ nh�ng hơn. Đ� l� biết lo xa.

Thế gian người c� đầy đủ phương tiện, muốn g� cũng c�, nh� cao cửa rộng, sang trọng đủ hết, nhưng rồi th�n n�y cũng bại hoại. Tuy nhi�n trong th�n bại hoại ấy c� c�i kh�ng bại hoại, m� ch�ng ta cứ dồn sức lo cho c�i bại hoại, qu�n mất c�i ch�n thật. Chừng th�n bại hoại tan r�, kh�ng biết l�m sao. Người tu biết ngay trong th�n n�y phần n�o bại hoại, phần n�o kh�ng bại hoại, n�n dồn sức lo cho th�n kh�ng bại hoại.

Qu� Phật tử biết trong th�n n�y c� c�i g� kh�ng bại hoại? Như ch�ng ta thấy c�i b�n, c�i ghế, c�i nh� v. v� thế n�o rồi cũng hư mục. Nhưng khoảng kh�ng trong c�i b�n, c�i ghế n�y kh�ng c� hư mục. C�i g� c� tướng l� duy�n hợp, tạm c� rồi mất. C�n c�i kh�ng tướng th� kh�ng do duy�n hợp n�n kh�ng mất. Kh�ng tướng t�i muốn n�i ở đ�y kh�ng phải kh�ng tướng của hư kh�ng, kh�ng tướng nhưng lại c� tri gi�c. C� tri gi�c tức l� c� biết, biết m� kh�ng tướng.

T�m ch�ng ta c� hai thứ, một thứ biết c� tướng, một thứ biết kh�ng tướng. Biết c� tướng l� khi ch�ng ta nghĩ về người, h�nh ảnh người hiện ra; nghĩ về vật h�nh ảnh vật hiện ra; đ� l� c�i biết c� tướng. C�n khi ta ngồi chơi thản nhi�n tự tại, kh�ng nghĩ, kh�ng suy, l�c đ� vẫn thấy cảnh trước mắt, vẫn nghe �m thanh chung quanh, biết rất r� m� kh�ng nghĩ suy, đ� l� c�i biết kh�ng tướng. C� tướng th� sanh diệt, kh�ng tướng l�m sao sanh diệt?

Nhưng ch�ng ta lại kh�ng để � đến c�i biết kh�ng tướng, chỉ chạy theo c�i biết c� tướng, nghĩ việc n�y, việc kia v. v� Những c�i b�ng đ� cứ theo m�nh suốt ng�y, suốt đời, l�m khổ ch�ng ta v� cuối c�ng n� cũng kh�ng c�n, thế m� ta lại ch� t�m đến n�. Nghĩ thương, nghĩ gh�t, nghĩ buồn, nghĩ giận� chợt c� chợt kh�ng. Nếu những thứ đ� thật th� n� c�n ho�i; nhưng n� c� rồi mất, như vậy đ�u phải ch�n thật. Trong khi c�i hằng thấy hằng nghe của m�nh, từ b� đến gi� lu�n hiện hữu b�n ch�ng ta, kh�ng thay đổi m� m�nh lại qu�n, kh�ng để � đến n�. Thật l� ch�ng ta ngớ ngẩn l�m sao! Thế gian gi�nh phải gi�nh quấy, nhưng sự thật phải quấy đ� lấy g� l�m ti�u chuẩn? Người ta cho rằng những g� tr�i với luật ph�p l� quấy. Nhưng luật ph�p c� phải l� ch�n l� chưa? Luật ph�p chẳng qua do một số người suy gẫm đặt ra theo nhu cầu của x� hội đương thời. Nhưng khi c� chuyển biến mới th� nhu cầu x� hội thay đổi, cho n�n luật ph�p cũng thay đổi theo. Như vậy c�i g� ch�n l�?

Khi nghe mọi người n�i "c�i n�y phải", m�nh liền chấp đ� l� phải, ai l�m kh�c th� cho l� quấy, như vậy m� con người đả k�ch th� gh�t nhau ho�i. C�i phải của ng�y nay kh�ng l� c�i phải của ng�y xưa v� cũng kh�ng l� c�i phải của ng�y mai. Như vậy đ�u c� phải quấy thật. V� dụ ở nước ta ra đường đi tay phải l� đ�ng, nhưng qua b�n Anh đi như vậy l� sai. Cho n�n luật lệ c�n t�y v�o ho�n cảnh, xứ sở, tập tục� của mỗi nơi nữa, kh�ng c� g� cố định cả. Vậy m� con người cứ khen, ch�, phải, quấy, đi�n cuồng như vậy.

Đạo Phật chỉ ra lẽ thật ch�nh l� c�i hằng thấy hằng biết, kh�ng hơn thua, phải quấy nằm sẵn ngay nơi mỗi ch�ng ta. Bởi vậy tu l� để cho t�m m�nh y�n tịnh, thấy được lẽ thật n�y. Sống được với lẽ thật rồi th� những o�n hờn, th� gh�t của thế gian kh�ng l� g� đối với m�nh cả. Ta sống an l�nh, tự tại. Người tu nếu kh�ng được như vậy m� cuồng loạn như người đời th� thật xấu hổ v� c�ng.

N�n hiểu tường tận lẽ thật của đạo Phật, ch�ng ta mới thấy gi� trị cao cả của sự tu h�nh, nếu kh�ng ch�ng ta sẽ kh�ng biết tu thế n�o? Tại sao phải tu? Hiểu đạo Phật một c�ch đ�ng đắn th� trong cuộc sống đ� c� tr� tuệ. V� dụ nghe người ta n�i bậy m�nh cười th�i, kh�ng giận. Kh�ng giận th� đ�u c� khổ, kh�ng khổ l� vui. Sống vui l� sống c� tr� tuệ. Chớ nghe người ta n�i bậy, m�nh bực bội theo, l� khổ chung với họ rồi. Khổ như vậy th� thật l� khờ dại, kh�ng c� ch�t tr� tuệ n�o cả.

Người cuồng loạn, kh�ng biết lẽ thật, ch�ng ta thương họ n�n phải tỉnh, đừng c� đi�n theo. Đằng n�y người ta đi�n m�nh đi�n theo, th�nh ra đi�n cả ch�m, rốt cuộc cả thế gian cuồng loạn, kh�ng thấy, kh�ng hiểu ch�n l� ch�t n�o hết. Đ� l� n�i đạo Phật chuộng lẽ thật.

V� chuộng lẽ thật cho n�n đạo Phật n�i thẳng lẽ thật, kh�ng vuốt ve, kh�ng lừa bịp. Thế gian th� tr�nh n� sự thật, t� điểm th�m ảo tưởng cho con người, n�n sống trong m� lầm, đau khổ. M� lầm l� gốc của đau khổ. Ch�ng ta biết được lẽ thật, thấy được lẽ thật rồi, cười với cuộc đời th�i, th� hết đau khổ. Hết đau khổ l� ngay cuộc đời n�y giải tho�t rồi. M�nh kh�ng bị v�ng đời cuốn tr�i, sống an vui tự tại. Đ� l� gi� trị ch�n thật của người tu.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]