HOA V� ƯU
(Tập IV)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]
| T�Y DUY�N NHI BẤT BIẾN Giảng tại ch�a Việt Nam - Hoa Kỳ - 2000
Đến ch�a Việt Nam lần n�y, nh�n thấy ch�a khang trang, ch�ng t�i rất vui mừng. Người Việt Nam ch�ng ta đ� xa qu� hương đi nơi kh�c, m� biết chung lưng đấu cật để gầy dựng nền đạo ph�p ở nước người được tốt đẹp, đ� l� điều rất đ�ng t�n th�n. Đề t�i t�i giảng h�m nay l� T�y duy�n nhi bất biến, hoặc ngược lại Bất biến nhi t�y duy�n. Tr�n phương diện truyền b� ch�nh ph�p, chư Tổ rất s�ng suốt. C�c ng�i thấy được từng tr�nh độ, từng t�m tư của mọi người, n�n sự truyền b� của c�c ng�i hết sức linh động. Nh�n theo chiều d�i lịch sử của Phật gi�o, ch�ng ta thấy tr�n hai mươi lăm thế kỷ qua, đạo Phật đ� đi từ Ấn Độ dần dần sang đến Việt Nam. Nh�n theo chiều rộng kh�ng gian, Phật gi�o đ� truyền b� gần như khắp cả năm ch�u. Như vậy, tr�n phương diện truyền b�, đạo Phật c� bị va chạm với những tập tục, tư tưởng, hoặc � niệm kh�c nhau kh�ng? Nếu va chạm với những điều đ� th� đạo Phật sẽ linh động như thế n�o? Thiết nghĩ h�ng tăng sĩ ch�ng ta cần phải biết v� c� bổn phận n�i r� cho qu� Phật tử hiểu về những điều n�y. Nếu kh�ng th� ch�ng ta kh�ng hiểu g� về đạo Phật. Trước hết t�i n�i về sự truyền b� của đạo Phật. Đạo Phật khi truyền b� tr�n thế giới, kh�ng thể n�o tr�nh khỏi những va chạm tr�n. Từ đ� m� ch�ng ta ph�t hiện ra hoặc khuyết điểm, hoặc ưu điểm tr�n bước đường hoằng ph�p c�c nh� truyền gi�o. Về khuyết điểm, từ khi đức Phật ra đời, truyền đạo, cho tới sau Phật nhập Niết-b�n một hai thế kỷ đầu, kinh điển được kiết qua hai lần, đều đi thẳng v�o đường lối ch�nh yếu của đức Phật dạy. Đức Phật lu�n lu�n nhắc mọi người đến với đạo Phật để thấy, chớ kh�ng phải đến để tin. Nhưng đ�ng buồn thay, ng�y nay Phật tử đến với đạo Phật để tin, chớ kh�ng chịu đến để thấy. Đ� l� điều đ�ng buồn. Phật l� bậc gi�c ngộ vi�n m�n. Sự gi�c ngộ của Ng�i l� do tu h�nh m� được. Tự gi�c ngộ rồi, Ng�i đem đạo gi�c ngộ ấy truyền b� cho mọi người, n�n mới c� đạo Phật. Như vậy n�i đến đạo Phật l� n�i đến tr� tuệ. Nếu l� tr� tuệ th� đến với đạo Phật để thấy, để hiểu, chớ kh�ng phải đến để tin. Nhưng ng�y nay Phật tử lại qu�n điều đ�, chỉ tin Phật, lạy Phật, cầu Phật ban cho đủ thứ hết. Khi hỏi đến gi�o l� Phật dạy, ch�ng ta kh�ng hiểu, chỉ biết rằng lạy Phật c� phước. Như vậy th� r� r�ng ch�ng ta đến với đạo Phật bằng l�ng tin. Nếu đến bằng l�ng tin l� đ� ngược lại với đạo Phật rồi. Phật tử qui y Phật, l� đệ tử Phật, đệ tử của bậc gi�c ngộ; m� con ch�u kh�ng gi�c ch�t n�o hết. Thật l� đ�ng buồn! Ch�nh v� đạo Phật l� đạo tr� tuệ, n�n việc truyền b� đạo Phật trong thời đức Phật c�n tại thế v� sau khi Ng�i nhập diệt rất dễ. V� sao? V� nhờ d�ng tr� tuệ cho n�n từ đức Phật cho đến c�c vị Th�nh đệ tử đều lấy gi�c ngộ l�m đầu. Rồi cũng từ tr� tuệ đức Phật nh�n thấy, biết r� căn cơ của mọi người, n�n Ng�i gi�o h�a rất th�ch hợp. C�c vị đệ tử của Ng�i cũng vậy, do chứng được A-la-h�n n�n biết được t�m tư nguyện vọng của người, đến đ�u c�c ng�i dạy cũng đ�ng, n�n Phật ph�p hưng thạnh. Chỉ c� về sau n�y, người tu �t chứng đạo, kh�ng đủ phương tiện để gi�o h�a ch�ng sanh, n�n sự cao si�u của đạo Phật �t người thấy được. V� thế đạo Phật cũng kh�ng được phổ cập trong mọi giới. Như trong kinh B�t Đại Nh�n Gi�c, tức T�m điều gi�c ngộ của bậc đại nh�n, những c�u đầu l�: Đệ nhất gi�c ngộ Thế gian v� thường Quốc độ nguy th�y Tứ đại khổ kh�ng Ngũ ấm v� ng� L�m sao đầu �c trẻ hiểu nổi! Thế gian v� thường l� sao? Lớp trẻ năm mười tuổi nghe n�i những chuyện đ�u đ�u tr�n trời tr�n m�y, như vậy ch�ng c� chịu đi ch�a kh�ng? Rồi người gi�, người dốt cũng kh�ng hiểu biết g� cả. Đ� l� khuyết điểm lớn của những vị mang tr�ch nhiệm truyền gi�o của đạo Phật. M�nh truyền b� m� người ta kh�ng hiểu th� l�m sao truyền được? Đến thế kỷ thứ s�u, kinh Di-đ� ra đời rất th�ch hợp với căn cơ của những tầng lớp tr�n. V� tu Tịnh độ đơn giản, dễ tu. Chỉ cần ch� t�m niệm Nam-m� A-di-đ� Phật th� được Phật đ�n về Cực lạc, khỏi cần hiểu biết g� hết. Do đ� người gi� trẻ con dễ hiểu dễ tu. Từ đ� đạo Phật đến gần với mọi người dễ d�ng. Nếu n�i cao qu� người ta kh�ng hiểu tới, m� ngay cả bản th�n vị thầy cũng chưa gi�c ngộ, đ�u biết tr�nh độ của người m� chỉ dạy. Thế n�n Phật ph�p chỉ được giảng chung chung, đ�u cũng kh�ng tới đ�u. Nhưng d� sao, tinh thần Tịnh độ ra đời đ� bổ khuyết lại được những điểm kh� khăn của Phật gi�o ở giai đoạn trước. Đạo Phật kh�ng dạy ch�ng ta ban �n gi�ng họa cho ai, bởi v� đức Phật kh�ng bao giờ ban �n gi�ng họa. Thế n�n Ng�i đ� dạy gi�o l� nh�n quả, ch�ng ta tạo nh�n thế n�o th� hưởng quả thế ấy. Người tạo nh�n l�nh sẽ hưởng quả l�nh, tạo nh�n �c sẽ chịu quả �c. L�nh dữ đều do m�nh cả, chớ kh�ng ai kh�c c� thể thế được. Nhưng nghe như vậy, người học đạo thấy nhọc qu�, phải chi Phật ban cho m�nh đỡ một ch�t. Hơn nữa, về sau c� những t�n gi�o kh�c ra đời, chỉ dạy hết sức giản đơn: Nếu tin v�o một Đấng tối cao th� Đấng tối cao ấy sẽ ban ơn cho; c�n kh�ng tin th� bị gi�ng họa. Nghe thế những người quen yếu đuối, ỷ lại liền chạy theo để được bảo vệ y�n ổn. C�n theo Phật, Phật bảo m�nh tự l�m lấy, kh�ng cho g� hết n�n kh�ng th�ch. Để bổ khuyết cho phần n�y, kinh Địa Tạng ra đời, ai l�i th�i th� rớt xuống địa ngục, bị cắt lưỡi bị thi�u đốt, bị v�o vạc dầu s�i� C�n đến với Phật, l�m l�nh l�nh dữ th� sẽ được an nh�n, được sanh l�n c�i trời hưởng quả vui th� thắng. Từ khi kinh Địa Tạng ra đời, nhiều ch�a vẽ tranh Thập điện Di�m vương, h�nh ảnh thật l� gh� rợn, ai thấy cũng rởn �c n�n r�ng tu, kh�ng l�i th�i được. Đ� l� đạo Phật t�y căn cơ ch�ng sanh m� c� tinh thần răn đe như thế, nhằm gi�o h�a họ trở về với ch�nh ph�p. Như vậy đạo Phật mới c� thể tồn tại được. Cho n�n tr�n phương diện truyền b�, c� những điểm cần phải linh động mới được. Lại, đạo Phật kh�ng quan trọng về thần th�ng. Tại sao? Bởi v� đức Phật dạy chư Tăng tu, khi chứng quả A-la-h�n, được Lục th�ng nhưng cấm kh�ng được tự � d�ng thần th�ng, trừ khi Phật cho ph�p. Nếu Phật nhập Niết-b�n rồi, th� phải xin ph�p những vị trưởng l�o. C�c vị n�y cho ph�p mới được d�ng. Do đ� ai tự tiện d�ng thần th�ng xem như phạm giới cấm. Một h�m, vua Ba-tư-nặc đến bạch với Phật: "Bạch Thế T�n, trong nước con c� một v�ng d�n ch�ng th�ch thần th�ng m� kh�ng chịu nghe đạo l�. Xin Thế T�n vận dụng thần th�ng khiến cho họ hoảng sợ mới c� thể dạy họ được. " Phật bảo: "Ta trọng đạo th�ng chớ kh�ng trọng thần th�ng. " Thế l� Ng�i đem ch�nh ph�p đ�ng lẽ thật chỉ cho mọi người ở đ�, kết quả họ đều được Phật cảm h�a. Ch�nh ph�p dạy đ�ng lẽ thật l� ch�n l�; m� ch�n l� l� tr� tuệ. N�n đức Phật chỉ ch� trọng tr� tuệ, chớ kh�ng ch� trọng thần th�ng. V� vậy những người th�ch thần th�ng, th�ch huyền b�, họ kh�ng muốn đi ch�a, kh�ng muốn đến với đạo Phật. M� thường ở thế gian, số người hiếu kỳ như vậy lại l� phần nhiều. Như hiện giờ t�i đang giảng kinh một c�ch b�nh thường, chợt ngo�i s�n ch�a c� ai bay l�n hư kh�ng, ngồi kiết-gi� th� chắc rằng nơi đ�y chẳng c�n ai ngồi nghe t�i giảng nữa. R� r�ng t�m con người th�ch những g� kỳ lạ, c�n lẽ thật b�nh dị th� coi thường lắm. V� vậy, nếu đạo Phật kh�ng d�ng tới thần th�ng, sẽ kh�ng l�m sao đưa đạo Phật v�o cuộc đời. Cho n�n c� những trường hợp đặc biệt, Phật chế cho d�ng thần th�ng, tuy nhi�n Ng�i lu�n khuyến c�o thần th�ng kh�ng phải l� mục đ�ch cứu k�nh của người tu Phật. Do đ�, sau n�y đến đời Tổ Long Thọ, ph�t sanh ra Mật t�ng nghi�ng về tr� ch�, sử dụng thần th�ng huyền b�. Đ� l� để đ�p ứng cho số người hiếu kỳ muốn đến với đạo Phật. Hiện nay Phật gi�o Việt Nam, cũng như Phật gi�o ở c�c nơi c� nhiều t�ng ph�i. Nguy�n nh�n c� c�c t�ng ph�i l� v� chư Tổ t�y căn cơ, t�y ho�n cảnh m� lập ra. L�m sao mọi người đến với đạo Phật đều kh�ng gặp trở ngại, đều c� thể tu tập v� đạt được lợi �ch cả. Đ� l� điểm đặc biệt của đạo Phật. Điểm đặc biệt đ� gọi l� "T�y duy�n". Kế đến, t�i n�i về những ưu điểm của đạo Phật. Đạo Phật đặt nặng phần tr� tuệ, người tu cần phải đạt được đạo, tức đạt được ch�n l�. C� tr� tuệ mới thấy được lẽ thật, kẻ ngu si kh�ng thấy lẽ thật được. Như vậy tr� tuệ l� căn bản của đạo Phật. Nhờ c� tr� tuệ n�n ch�ng ta nhận ch�n được lẽ thật, sống đ�ng với lẽ thật v� truyền b� lẽ thật ấy. Do đ� đạo Phật ng�y c�ng lan rộng v� trường tồn d�i l�u. Hơn hai mươi lăm thế kỷ nh�n lại, kinh điển Phật được đối chiếu với nền văn minh hiện đại của con người, c� lạc hậu kh�ng? Ho�n to�n kh�ng, m� ngược lại khoa học c�n phải nể phục. Đ� l� điểm ưu thứ nhất của đạo Phật. Đạo Phật t�n trọng tự do n�n th�ch hợp với thời đại văn minh d�n chủ n�y. Đạo Phật l�c n�o cũng t�n trọng quyền tự do của mọi người. Đức Phật từng tuy�n bố rằng Ng�i l� một vị Đạo sư. Đạo sư nghĩa l� vị thầy dẫn đường cho mọi người. Ng�i thấy đ�y l� con đường �c n�n tr�nh, kia l� con đường thiện n�n đi. Ng�i chỉ rồi, mọi người tự đi, tự tr�nh, chớ Phật kh�ng đem ai l�n đường thiện, cũng kh�ng x� ai v�o đường �c. Như vậy c� tự do kh�ng? Đ� l� tự do. Cho đến tất cả giới luật lẽ ra mang t�nh c�ch bắt buộc, nhưng Ng�i lại bảo nếu v� điều kiện n�o đ� ch�ng ta chưa giữ được trọn vẹn, th� c� thể giữ khiếm khuyết một hai giới cũng được. Ch�ng ta tự nguyện giữ, chớ Phật kh�ng bắt buộc, Ng�i giải th�ch r� giữ giới l� v� lợi �ch của m�nh, chớ kh�ng phải lợi �ch của đức Phật. Ng�i v� thương m� chế giới, chớ kh�ng phải v� sự �p buộc m� chế giới. Đ� l� tinh thần tự do triệt để của đạo Phật. Gần hơn, đến ng�y rằm hoặc ba mươi, Phật tử n�o rảnh th� đi ch�a s�m hối; kh�ng rảnh th� ở nh� tự tu cũng được. Thầy Trụ tr� kh�ng kiểm từng người, cũng kh�ng phạt ai hết. Đi th� tốt, kh�ng đi th� th�i, kh�ng bắt buộc. Bởi tu l� tu cho m�nh, chớ kh�ng phải tu cho qu� thầy. Phật tử đến th� qu� thầy hướng dẫn, kh�ng đến th� th�i. Như vậy đạo Phật rất tự do. Song cũng v� thế, nếu tinh thần tu của người Phật tử kh�ng cao sẽ dễ rơi v�o t�nh trạng chểnh mảng. Ch�a c� một ng�n đệ tử, m� s�m hối chỉ c� chừng một trăm người. Đ� l� tại chểnh mảng. Tuy vậy, nh� Phật vẫn t�n trọng quyền tự do của mỗi con người. Ai hiểu được, họ tự cố gắng phấn đấu tu tập để c� sự lợi �ch thiết thực cho bản th�n. Đ� l� điểm ưu thứ hai của đạo Phật. Đạo Phật chỉ dạy cho ch�ng ta hiểu biết, rồi ch�ng ta tự tu. Thế n�n sự tự do của đạo Phật rất kỳ đặc, kh�ng phải đ�i tự do với ch�nh phủ hay với những người c� quyền, m� l� đ�i tự do với ch�nh m�nh. M�nh phải l�m chủ được m�nh. L�m chủ được m�nh mới c� tự do; chưa l�m chủ được m�nh th� kh�ng c� tự do. Tại sao? V� như người chưa l�m chủ được m�nh, khi l�m cảnh ngh�o n�n t�ng thiếu, thấy ai để rơi tiền của, liền lượm bỏ t�i ngay. Khi đ� nếu người ta ph�t gi�c th� bị tr�i, bị đ�nh hay v�o kh�m. V�o kh�m tức l� bị g�ng c�m xiềng x�ch rồi, đ�u c�n tự do nữa. Ngược lại, người l�m chủ được m�nh, trong bụng vừa dấy niệm tham th� dẹp ngay, kh�ng để cho l�ng tham l�i cuốn, như thế đ�u c� ngồi t�. Đ� kh�ng phải tự do l� g�? Cho n�n tự do trong đạo Phật l� thắng được m�nh, đ�i hỏi nơi m�nh chớ kh�ng đ�i hỏi ở người kh�c. Tự do ấy mới nghe như dễ nhưng nghiệm lại th� kh�. Nhưng đ� l� sự thật. Bởi con người cứ đ�i hỏi b�n ngo�i phải thế n�y, thế nọ nhưng kh�ng bao giờ biết thỏa m�n. Như mấy đứa b� đ�i cha mẹ n� đồ chơi, hễ được c�i n�y th� đ�i c�i kh�c, cứ đ�i ho�i, cha mẹ kh�ng thể lo nổi. Tại sao ch�ng ta đ�i tự do nơi m�nh? Bởi v� nếu kh�ng l�m chủ được m�nh th� mắt đối với sắc nhiễm sắc, tai đối với thanh nhiễm thanh, mũi đối với hương nhiễm hương, lưỡi đối với vị nhiễm vị, th�n đối với x�c nhiễm x�c, chỗ n�o cũng mắc kẹt. Đ�i tự do m� mắt tai mũi lưỡi th�n đều bị d�nh nhiễm, bị tr�i buộc hết. Muốn tự do, trước hết đừng cho năm căn d�nh với năm trần. Đối với năm trần sắc, thanh, hương, vị, x�c, ch�ng ta l�m chủ được, kh�ng d�nh, kh�ng kẹt, đ� l� tự do. Như vậy c� hợp đạo l� kh�ng? Phật dạy người muốn tự do th� phải giữ năm căn đừng d�nh với năm trần. Đ� l� tự do tự tại. Ở một mức độ cao hơn nữa, tự do ch�nh l� giải tho�t, kh�ng c�n bị bất cứ g� tr�i buộc. Thế gian đ�i tự do m� tr�i lại bị tr�i buộc đủ thứ hết, v� vậy c�ng tự do c�ng khổ. Tiến th�m một bước nữa, người tu chẳng những đ�i tự do ở năm căn, m� c�n đ�i tự do ở căn thứ s�u, đ� l� � căn. � đừng d�nh với ph�p trần. Ph�p trần tức l� b�ng d�ng của năm trần trước. Bởi v� năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n khi x�c chạm với năm trần sắc, thanh, hương, vị, x�c dễ biết, dễ thấy; c�n � căn khi x�c chạm với ph�p trần, ch�ng ta kh� thấy. Muốn thấy n�, khi ngồi thiền hoặc niệm Phật sẽ dễ thấy hơn. Như ngồi niệm Phật lẽ ra chỉ nhớ c�u niệm Phật th�i, nhưng niệm một l�t bỗng nhớ chuyện đ�u đ�u. Chuyện đ�u đ�u đ� ch�nh l� ph�p trần. Th� dụ như lỗ tai tiếp x�c với thanh trần, những tiếng hay m�nh th�ch n�n nhớ ho�i, bởi v� n� đ� rớt v�o trong t�m thức rồi. Hoặc những lời lẽ chửi bới nặng nề, m�nh kh�ng th�ch cũng nhớ ho�i, v� n� cũng được in v�o t�m thức. Những g� ch�ng ta th�ch hoặc kh�ng th�ch, th� ưa kể với người n�y, người kia, lặp tới lặp lui m�i n�n v� t�nh học thuộc l�ng, cho n�n nhớ s�u v� c�ng. Nhớ s�u trong t�m khảm tức l� n� đ� được hu�n v�o t�ng thức của m�nh, ch�n sẵn trong đ�, khi n�o đủ duy�n hoặc y�n tịnh n� sẽ trồi l�n. Đ� l� l� do tại sao ch�ng ta niệm Phật hoặc tọa thiền m� c�c tạp niệm cứ trồi l�n ho�i. Nhiều khi n� trồi l�n đến nỗi m�nh phải bực bội. Bực bội m� rầy n� kh�ng được, mới thấy ph�p trần rất l� quan trọng. Bởi sự t�ch lũy của ph�p trần s�u đậm như vậy, n�n m�nh th� ai, o�n ai th� tới chết vẫn chưa hết o�n th�. V� vậy những thứ đ� sẽ theo m�nh đến l�c nhắm mắt v� sẽ gặp lại ở đời sau. Cho n�n c�n o�n th�, c�n thương y�u th� c�n gặp lại m�i để đền trả. Gh� gớm như vậy đ�. Người ta cứ sợ đời sau khổ, nhưng lại �m ấp o�n th� kh�ng ngu�i. Thật l� m�u thuẫn. Biết như vậy rồi, ch�ng ta tu l� xả bỏ hết những sự giận hờn hay thương y�u trong tr�i buộc. Mạng người sống kh�ng bao l�u, �m ấp l�m g� để đời sau khổ nữa. Vậy đ�, m� c� nhiều c� nhiều b� n�i: "T�i giận người đ� suốt đời kh�ng qu�n. " C� nhiều người c�n d�m thề kh�ng đội trời chung nữa chứ! Nếu kh�ng đội trời chung th� đi đ�u, xuống địa ngục sao? Ch�ng ta rất tự m�u thuẫn m� kh�ng hay. Muốn một đường lại l�m một ngả. Ch�ng ta muốn đời n�y tự do, đời sau c�ng tự do hơn, th� trong t�m phải loại trừ tất cả những mầm mống xấu đang t�ch lũy trong đ�. Nh� Phật gọi l� loại bỏ hạt giống xấu hay chủng tử xấu. Dẹp bỏ được n�, l� ch�ng ta d�nh được quyền tự do. Nếu kh�ng dẹp bỏ được, th� n� sẽ dẫn ch�ng ta đi trong c�c con đường tăm tối, kh�ng biết đến bao giờ mới c�ng. Nh� Phật n�i tu l� để giải tho�t. Giải tho�t tức gỡ bỏ những sự tr�i buộc. Gỡ bỏ được những tr�i buộc l� tự do. Tự do đ� mới thật l� ch�n ch�nh tự do. Đ� l� sự tự do của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương "Từ bi b�nh đẳng" v� "Nghiệp b�o b�nh đẳng". Thế gian hiện giờ lu�n ca tụng tự do, ca tụng b�nh đẳng nhưng thật sự họ lại mất tự do, mất b�nh đẳng. C�n đạo Phật dạy rằng từ bi l� b�nh đẳng, nghiệp b�o cũng l� b�nh đẳng. Về nghiệp b�o, c� nhiều t�n gi�o cho rằng m�nh l�m tội lỗi g� chỉ cần xin bề tr�n tha l� hết. Nhưng đối với đạo Phật, điều đ� kh�ng thể c�. D� l� Phật tử hay kh�ng phải Phật tử khi l�m �c, cũng phải g�nh chịu hậu quả như nhau; kh�ng c� chuyện Phật tử th� được đức Phật bảo hộ. Tất cả đều b�nh đẳng trong việc trả quả. Đ� l� một lẽ thật. Bởi v� ch�ng ta tạo nghiệp �c tức l� l�m cho người kh�c khổ. L�m cho người kh�c khổ th� ch�ng ta phải đền b� lại, chớ kh�ng thể n�o trốn được. Đ� l�m cho người khổ th� c�i khổ đ� ch�ng ta phải trả. Bất cứ người n�o g�y khổ cho kẻ kh�c cũng phải trả như nhau. Đ� l� b�nh đẳng tr�n nghiệp b�o. Điều n�y c� th�ch hợp với thời đại văn m�nh hiện nay kh�ng? Thời đại văn minh n�y người ta thường đề xướng c�u: "Mọi người đều b�nh đẳng trước ph�p luật. " D� cho người đ� l� quan hay d�n, hễ phạm tội th� phải chịu tội như nhau. Hồi xưa kh�c, nếu con vua phạm tội th� kh�ng bị xử phạt. Ng�y nay d�n chủ, đ�i hỏi mọi người đều b�nh đẳng trước ph�p luật. Như vậy rất đ�ng với tinh thần của đạo Phật. Đạo Phật n�i "Từ bi b�nh đẳng", tức l� sự thương y�u b�nh đẳng. X�t lại ch�ng ta xử sự với mọi người c� được b�nh đẳng chưa? Đa số người tu thời nay đều ph�t t�m tu, nguyện gi�p cho những người ngh�o khổ, chớ những người gi�u, người c� quyền tước, ch�ng ta kh�ng cứu. Đ� chưa phải l� từ bi của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương từ bi l� thương tất cả, cứu tất cả, kh�ng chỉ ri�ng một c� nh�n n�o. Từ bi đ� căn cứ ở đ�u m� được như vậy? T�i xin hỏi qu� vị, ch�ng ta mang th�n n�y l� th�n ch�n thật hay tạm bợ? M�nh c� thương n� kh�ng? Tạm bợ m� rất thương. Th�n n�y ai cũng biết n� tạm bợ, một ng�y n�o đ� sẽ tan hoại. Biết th� biết nhưng vẫn qu� thương n�, ai đụng tới l� bất an liền. Bởi thật l�ng ch�ng ta ngầm tưởng n� thật. Ngầm tưởng như thế l� si m�. Đạo Phật l� đạo gi�c ngộ, n�n c�n một ch�ng sanh m� l� Phật đều thương hết. Trong kinh A-h�m Phật n�i: "Bị thi�u đốt trong địa ngục chưa phải l� khổ, bị đ�i kh�t lang thang l�m ngạ quỉ cũng chưa phải l� khổ, bị k�o c�y k�o xe, l�m kiếp tr�u ngựa cũng chưa phải l� khổ, chỉ si m� kh�ng biết lối đi, đ� mới l� khổ. " Đạo Phật cứu khổ l� cứu c�i si m�. Cho n�n ai c�n si m� Phật đều thương hết, d� người ấy gi�u hay ngh�o, quan quyền hay b�nh d�n. Đ� l� t�nh thương b�nh đẳng. N�i tới truyền b� đạo Phật l� n�i tới gi�c ngộ, n�i tới tr� tuệ để đ�nh tan gốc si m� nơi mọi người. Cho n�n kinh Ph�p C� dạy: "C�c ngươi phải tự thắp đuốc l�n m� đi, thắp l�n với ch�nh ph�p. " Thắp đuốc ch�nh l� thắp s�ng tr� tuệ. Ch�ng ta phải mở s�ng con mắt tr� tuệ của m�nh, nếu tự mở chưa được th� phải mồi với ngọn đuốc ch�nh ph�p. Hết si m� mới hết đau khổ, c�n si m� l� c�n đau khổ. Do đ� n�i đạo Phật từ bi b�nh đẳng. Qua đ� đủ thấy đạo Phật si�u vượt hơn thế gian rồi. Đ�y l� điểm ưu thứ ba của đạo Phật. N�i đạo Phật t�y duy�n bất biến, tức l� t�y theo duy�n, theo tr�nh độ căn cơ của ch�ng sanh m� chỉ dạy, kh�ng hạn chế ở bậc n�y hay bậc kh�c, cũng kh�ng hạn chế nơi chốn n�o. Thế n�o l� t�y duy�n, thế n�o l� bất biến, ch�ng ta cần hiểu cho r� chỗ n�y. T�y duy�n tức l� linh động, l�m sao khế hợp với tr�nh độ căn cơ của mỗi người m� gi�o h�a. Bất biến tức l� mục ti�u chủ yếu kh�ng bao giờ lệch, kh�ng bao giờ sai. T�y duy�n bất biến nghĩa l� t�y theo căn cơ của mỗi người mỗi nơi, m� ta c� c�c phương tiện gi�o h�a kh�c nhau, nhưng lu�n lu�n giữ đ�ng mục ti�u giữ đ�ng ch�nh ph�p, kh�ng để sai lệch. Như người tu Tịnh độ, niệm ho�i c�u Nam-m� A-di-đ� Phật, kh�ng cần suy nghĩ g� kh�c. Niệm tới nhất t�m bất loạn, từ một ng�y hai ng�y cho tới bảy ng�y. Được thế, khi l�m chung Phật v� Th�nh ch�ng mới hiện ra, đ�n về Cực lạc. Mục đ�ch cuối c�ng của ph�p tu Tịnh độ l� niệm Phật tới chỗ nhất t�m bất loạn. Niệm đến v� niệm. Người tu Mật t�ng th� tr� thần ch�. Đọc một c�u thần ch� phải tin sự mầu nhiệm của c�u thần ch� đ�. H�nh giả ngồi kiết-gi�, tay bắt ấn, miệng tụng ch�, � duy�n theo c�u ch� kh�ng cho nghĩ g� hết. Th� dụ c�u �n ma-ni b�t-di hồng, kh�ng c� nghĩa g� hết, cốt cho t�m kh�ng c�n chỗ g� nương. Niệm ho�i cho tới khi n�o ba nghiệp th�n khẩu � đều mật, gọi l� tam mật, tức ba nghiệp ấy thầm hợp với nhau th� đức Đại Nhật Như Lai sẽ hiện ra, ph�ng quang xoa đảnh v� thọ k� cho người ấy. Như vậy d� tu Tịnh độ hay tu Mật t�ng, t�m đều phải chuy�n nhất, kh�ng c�n một niệm n�o kh�c th� mới đạt được kết quả mong muốn. Đ� l� n�i về tu Tịnh v� tu Mật. Đến người tu Thiền. Tu thiền theo Nguy�n thủy, kinh Đại Tứ Niệm Xứ dạy rằng: "Người tu thiền, qu�n Tứ niệm xứ từ một ng�y, hai ng�y cho tới bảy ng�y kh�ng dời đổi, sẽ chứng từ Tam quả cho tới Tứ quả A-la-h�n. " Qu�n Tứ niệm xứ từ một ng�y đến bảy ng�y kh�ng dời đổi sẽ chứng quả A-la-h�n, như vậy đ�u c� kh�c với niệm Phật tới nhất t�m bất loạn, hay tr� ch� tới tam mật. Đến Thiền t�ng, như Tổ Đạo T�n thứ tư của Trung Hoa l�c c�n Sa-di, Ng�i gặp Tổ Tăng X�n đảnh lễ v� thưa: "Xin H�a thượng dạy cho con ph�p m�n giải tho�t. " Tổ Tăng X�n nh�n thẳng v� mặt ng�i Đạo T�n, hỏi: "Ai tr�i buộc ngươi? " Ng�i liền nh�n lại thấy kh�ng ai tr�i buộc m�nh, liền thưa: "Bạch H�a thượng, kh�ng ai tr�i buộc con. " Tổ bảo: "Vậy cầu giải tho�t l�m g�? " Ngay đ� ng�i Đạo T�n ngộ đạo. C�u "cầu giải tho�t l�m g�", c� gi�o l� trong đ� kh�ng? Kh�ng c� g� hết. Tổ chỉ muốn đ�nh thức kẻ cầu đạo đừng chạy theo những niệm nghĩ tưởng th�i. Lắng dừng được những niệm tưởng đ� rồi l� y�n tĩnh, l� giải tho�t. Thiền sư Hương Nghi�m Tr� Nh�n, một học tr� th�ng minh của ng�i Qui Sơn, hỏi một đ�p mười. Tổ Qui Sơn gọi l�n bảo: "�ng rất th�ng minh, vậy thử n�i cho ta nghe một c�u trước khi cha mẹ chưa sanh ra xem. " Ng�i Tr� Nh�n b� lu�n, kh�ng biết n�i g�, n�n cuốn g�i l�n n�i ở. Cho tới một h�m, nh�n cuốc đất nghe tiếng h�n sỏi chạm v�o bụi tre một tiếng "cốc", ngay đ� liền ngộ đạo. "N�i một c�u trước khi cha mẹ chưa sanh" giống c�u thần ch�, ở đ� kh�ng cho m�nh nghĩ g� hết. Những c�u kh�c như "ba c�n gai" của ng�i Động Sơn hay "tiếng vỗ của một b�n tay" của Thiền sư Bạch Ẩn, đại loại đều như thế cả. Tại sao c�c ng�i lại n�i kỳ qu�i như vậy? Bởi v� ch�ng ta tu theo đạo Phật, muốn đến chỗ cứu k�nh ch�n thật, th� phải dẹp hết mọi suy l�, mọi nghĩ tưởng. Như c�u thoại đầu "Trước khi cha mẹ chưa sanh, ta l� g�? " Cứ đọc đi đọc lại c�u đ� ho�i cho tới th�nh khối. Th�nh khối rồi bỗng l�c n�o đ� n� bung ra th� h�nh giả ngộ đạo. Đ� l� một c�ch dồn m�nh đi tới chỗ bặt hết những nghĩ suy. Điểm đặc biệt nữa trong nh� thiền l� khi được hỏi, nếu ch�ng ta đ�p một c�u c� � nghĩa, tức c� thể suy gẫm được, th� c�u đ� gọi l� "tử ngữ" tức c�u chết. Nếu đ�p một c�u kh�ng thể suy luận được, th� c�u đ� gọi l� "hoạt ngữ" tức c�u sống. N�n c�c c�u "tiếng vỗ của một b�n tay" hay "ba c�n gai" l� những c�u sống, rất được nh� thiền qu� trọng. V� n� khiến cho h�nh giả bặt hết c�c nghĩ tưởng, t�m thanh tịnh, chừng ấy mới c� thể nhận ra được c�i ch�n thật hằng hữu nơi m�nh. Ở đ�y, t�i đặt th�m một vấn đề nữa. Ngay nơi th�n tứ đại của ch�ng ta c� c�i ch�n thật kh�ng? Th�n n�y l� hư giả phải bại hoại, kh�ng nghi ngờ. T�m ph�n biệt suy nghĩ được mất, tốt xấu cũng v� thường kh�ng thật. Điều n�y ch�ng ta đ� biết rồi. Thế nhưng trong kinh Ph�p Hoa n�i ch�ng ta c� sẵn h�n ngọc nhưng lại bỏ qu�n. Vậy c�i g� l� h�n ngọc của m�nh? Th�n n�y bại hoại kh�ng phải l� h�n ngọc. T�m lăng xăng cũng kh�ng phải h�n ngọc lu�n. Vậy c�i g� l� h�n ngọc? Ch�nh chỗ n�y l� chỗ niệm tới v� niệm của người tu Tịnh độ. Phật Di-đ� hiện ch�nh l� h�n ngọc hiện. Nghĩa l� Phật t�nh sẵn c� của m�nh bất sanh bất diệt hằng s�ng suốt, v� Phật Di-đ� l� V� lượng thọ, V� lượng quang tức tuổi thọ v� lượng, �nh s�ng v� lượng. T�nh m�nh l� s�ng, t�nh m�nh l� bất sanh bất diệt. Đ� ch�nh l� h�n ngọc của m�nh. Ai cũng c� h�n ngọc đ� hết, chớ kh�ng ri�ng người n�o. Đức Phật đ� tuy�n bố: "Ta l� Phật đ� th�nh, c�c ngươi l� Phật sẽ th�nh", ai cũng sẵn c� t�nh Phật, chỉ kh�c nhau ở chỗ người qu�n kẻ nhớ th�i. Ng�y nay ch�ng ta tu, nh�n lại tất cả đều b�m v�o hai phần th�n tạm bợ v� t�m tạm bợ cho l� m�nh, cứ thế m� đi�n đảo. Phật thương n�n dạy ch�ng ta l�m sao đừng chấp về hai thứ n�y nữa, th� sẽ được giải tho�t sanh tử. Niệm Phật đến nhất t�m bất loạn l� kh�ng c�n c�i "t�i" nữa. Tu thiền tới chỗ kh�ng c�n một niệm, đ� ch�nh l� chỗ ch�n thật kh�ng sanh kh�ng diệt. Ch�ng ta nhớ Lục tổ Huệ Năng khi được truyền y b�t, Ng�i trở về phương Nam. Tr�n đường c� nhiều người đuổi theo gi�nh lại. Trong số đ� c� Thượng tọa Minh chạy giỏi n�n đuổi kịp. Thấy thế, Tổ Huệ Năng để y b�t tr�n b�n thạch rồi chui v� l�m ẩn. Thượng tọa Minh đến thấy y b�t, mừng rỡ �m l�n nhưng �m kh�ng nổi. �ng ngạc nhi�n v� cứ ngỡ đ� l� vật thường, nhưng b�y giờ mới biết đ� l� vật linh thi�ng phi thường n�n kh�ng d�m gi�nh lấy nữa. �ng liền k�u: "H�nh giả, h�nh giả! T�i tới đ�y v� ph�p, chớ kh�ng phải v� y b�t. " Ng�i Huệ Năng ở trong bụi chui ra, bảo: "Nếu �ng cầu ph�p th� h�y lặng y�n một l�t, ta sẽ n�i cho. " Huệ Minh liền đứng y�n lặng. C�u n�i ph�p đầu ti�n của Tổ Huệ Năng l�: "Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c, c�i g� l� Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Ngay c�u đ� Thượng tọa Minh liền ngộ đạo. Nghĩ thiện, nghĩ �c l� t�m sanh diệt. Nếu hai thứ đ� kh�ng c�n th� c�i thật của ch�nh m�nh hiện ra. Điều đ� qu� r� r�ng. V� vậy c�c Thiền sư thường n�i cho ch�ng ta kh�ng c�n nghĩ g� được. Kh�ng nghĩ g� được th� t�m sẽ lặng. T�m lặng, c�i ch�n thật mới hiện ra. C�c ng�i chỉ thẳng chỗ ch�n thật đ� m� m�nh lại kh�ng biết, bảo c�c ng�i n�i nghe điếc lỗ tai. Cho n�n những c�u n�i trong nh� thiền thường l� những c�u phi nghĩa. Đ� l� những c�u sống, bởi n� l�m cho m�nh bặt dứt t�m lăng xăng. Hiểu vậy mới thấy gi� trị của đạo Phật. Nhiều Phật tử cho rằng nghĩ �c mới c� tội chớ nghĩ thiện đ�u c� tội. Bước đầu tu th� như vậy. Nghĩ �c sẽ đọa v�o ba đường địa ngục, ngạ quỉ, s�c sanh. Nghĩ thiện được đi trong ba đường l�nh trời, người, a-tu-la. Như vậy vẫn c�n lu�n hồi, bởi c�n đi trong c�c đường, c�n l�n c�n xuống m�i. Được l�n trời sống l�u, hưởng phước nhiều, nhưng hết phước cũng tuột xuống như thường, chưa phải l� giải tho�t. Chỉ khi n�o niệm thiện, niệm �c hay n�i chung l� những niệm đối đ�i đều lặng hết th� chừng đ� t�m ch�n thật bất sanh bất diệt mới hiển b�y. T�m đ� mới kh�ng dẫn ch�ng ta đi trong c�c đường, chừng đ� mới giải tho�t sanh tử. N�i như vậy, qu� vị kh�ng biết c�i ch�n thật ấy ở đ�u, hiện giờ n� c� kh�ng, ra sao? T�i sẽ n�i hết sức đơn giản, nếu qu� vị lắng l�ng c� thể nhận biết. Khi n�o ch�ng ta ngồi chơi y�n tĩnh, kh�ng c� niệm n�o trong đầu hết. L�c đ� chim k�u, gi� thổi, người đi qua lại m�nh c� biết kh�ng? Biết. C�i biết đ� c� động, c� thuộc về nghĩ suy kh�ng? Kh�ng. Cho n�n nh� Phật mới chia c�i biết ra l�m hai loại: C�i biết ch�n thật gọi l� Ch�n t�m v� c�i biết sanh diệt gọi l� vọng t�m. Thường ng�y ch�ng ta cứ b�m lấy vọng t�m cho l� m�nh, n�n qu�n mất Ch�n t�m. B�y giờ thử nhớ lại những ph�t gi�y kh�ng suy nghĩ, ch�ng ta vẫn hiện tiền, c� thiếu đ�u. Vậy m� cứ cho nghĩ phải, nghĩ quấy, nghĩ hơn, nghĩ thua l� m�nh rồi chạy theo n� n�n đi�n đảo. Chỉ cần lặng hết những thứ n�y th� Ch�n t�m hiện tiền, khỏi cầu xin ở đ�u hết. Đ� l� h�n ngọc sẵn c� của m�nh. Chỉ tại ch�ng ta kh�ng biết, kh�ng d�ng, cứ chạy theo c�i tạm bợ, c�i giả dối n�n khổ. C� th�n n�o c�n ho�i kh�ng chết đ�u, vậy m� ta vẫn thương n�. Lo ăn cho ngon, mặc cho đẹp, cuối c�ng n� r� rời rồi k�u khổ. Si m� như vậy n�n mất c�i giả n�y lại t�m c�i giả kh�c, rồi giữ nữa. Thật c� đ�ng thương kh�ng? Nh�n lại, thế gian được mấy người kh�ng si m�? Kh� t�m được người kh�ng si m�, cho n�n Phật n�i cả thế gian đều đ�ng thương x�t. Biết thế rồi, ch�ng ta c� c�n gh�t ai, giận ai nữa kh�ng? D� họ n�i bậy g� m�nh cũng thương, v� họ si m� kh�ng biết m� th�i. Nếu người n�i bậy m� m�nh c�i lại với họ th� m�nh cũng si m� lu�n. Một đ�m si m� với nhau, c� ai hơn ai. Cho n�n người biết tu l� người tỉnh trong đ�m m�. Những g� v� nghĩa, kh�ng đem lại lợi �ch cho m�nh th� kh�ng quan t�m. Phải hướng về c�i ch�n thật của ch�nh m�nh, đ� mới l� điều ch�nh yếu. Tu như vậy mới thật l� tu, thật cầu giải tho�t sanh tử. T�m lại, ch�ng ta đ� nắm vững � nghĩa tu h�nh rồi, d� tu theo ph�p m�n n�o cũng phải biết dừng bỏ c�c thứ th�n t�m hư dối, nhận lại c�i ch�n thật sẵn c� nơi m�nh. Đ� ch�nh l� chỗ t�y duy�n m� bất biến của đạo Phật vậy. ]
|
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]