Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập IV)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


PH�P TU CĂN BẢN CỦA HỆ NAM T�NG V�

PH�P TU CĂN BẢN CỦA HỆ BẮC T�NG

Giảng tại ch�a Dược Sư - TP. HCM 12-2000

 

H�m nay, t�i giảng buổi cuối năm với đề t�i Ph�p tu căn bản của hệ Nam t�ng v� ph�p tu căn bản của hệ Bắc t�ng. Qua đ�, đối chiếu cho qu� vị thấy mỗi ph�i c� một hướng nh�n kh�c nhau, v� vậy chia th�nh Nam t�ng, Bắc t�ng ri�ng biệt.

Hệ Nam t�ng lấy Tứ đế l�m ph�p tu căn bản. Trong Tứ đế, phần Đạo đế tức Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, th� B�t ch�nh đạo l� phần căn bản tu h�nh. Bắc t�ng c� nhiều ph�p nhưng lấy Lục độ l�m căn bản tu h�nh. Như vậy ch�ng ta đối chiếu ph�p Lục độ của Bắc t�ng v� B�t ch�nh đạo của Nam t�ng, để thấy tinh thần kh�c nhau của mỗi b�n.

N�i về Nam t�ng, B�t ch�nh đạo l� ph�p căn bản, v� vậy người tu phải nắm vững ph�p n�y. T�i hiểu v� dịch B�t ch�nh đạo l� t�m đoạn đường ngay thẳng đưa ch�ng ta đến Niết-b�n. T�m đoạn đường chớ kh�ng phải t�m nẻo đường. V� mỗi một đoạn đường l� một chặng, ch�ng ta đi từ chặng số một đến chặng số hai số ba, cuối c�ng đến chặng số t�m th� vi�n m�n sự tu h�nh, tức vi�n m�n con đường đi đến Niết-b�n. Cho n�n t�i gọi l� t�m đoạn đường đưa đến Niết-b�n.

T�m đoạn đường đ� l� g�? Thứ nhất l� Ch�nh kiến, thứ hai l� Ch�nh tư duy, thứ ba l� Ch�nh ngữ, thứ tư l� Ch�nh nghiệp, thứ năm l� Ch�nh mạng, thứ s�u l� Ch�nh tinh tấn, thứ bảy l� Ch�nh niệm, thứ t�m l� Ch�nh định.

Ch�nh kiến l� nhận định đ�ng đắn ch�n ch�nh. Nhận định đ�ng đắn từ đ�u m� ra, h�ng ph�m phu c� nhận định n�y kh�ng, muốn c� ch�nh kiến phải l�m sao? Chỗ n�y l�u nay nhiều người l�ng t�ng khi nghi�n cứu n�. Ai cũng c� thể nhận định thế n�y thế kia, nhưng l�m sao biết đ� l� nhận định đ�ng đắn. Nếu kh�ng nắm vững chỗ n�y, tự nhi�n ch�ng ta sẽ l�ng t�ng, kh�ng biết thế n�o l� nhận định đ�ng đắn, tư duy đ�ng đắn. Nếu nhận định sai lầm th� tư duy cũng sai lầm. Vậy nhận định đ�ng đắn ph�t nguồn từ đ�u?

Ch�ng ta nhớ trong Tam tuệ học, thứ nhất l� Văn tuệ. C� Văn tuệ rồi mới tới Tư tuệ. Ở đ�y cũng vậy, muốn c� nhận định đ�ng đắn trước hết phải học Kinh tức lời Phật, Tổ dạy. Nhờ học kinh, ch�ng ta thấm nhuần gi�o ph�p ch�n ch�nh, từ đ� nhận định mới đ�ng, tư duy mới đ�ng. Đ� l� điều hết sức r� r�ng. Nếu kh�ng học kinh Phật th� kh� c� ch�nh kiến được. Ph�p tu n�y thuộc về Thanh văn thừa, n�n bước đầu l� nghe lời Phật dạy. Văn l� nghe, thanh l� �m thanh, nghe được �m thanh Phật dạy mới thấu hiểu. Nhờ thấu hiểu mới c� tr� tuệ nhận định đ�ng đắn.

V� vậy muốn tu theo Nam t�ng, trước hết ch�ng ta phải học kinh tức c� Văn tuệ, rồi mới đến Tư duy tuệ, v� sau c�ng l� Tu tuệ. Thế n�n Văn tuệ l� bước đầu để c� Ch�nh kiến. Ch�ng ta tu, l�m việc, phải c� nhận định đ�ng đắn mới suy nghĩ đ�ng đắn. Suy nghĩ đ�ng đắn mới c� ng�n ngữ đ�ng đắn, tức Ch�nh ngữ.

Suy nghĩ đ�ng l� suy nghĩ như thế n�o? C� phải suy nghĩ l�m ăn thế n�y mau gi�u, thế kia mau ph�t t�i kh�ng? Kh�ng phải vậy. Gi�o l� căn bản trong hệ A-h�m lu�n chỉ cho ch�ng ta thấy tất cả ph�p l� v� thường, khổ, kh�ng, v� ng�. Nghĩ như thế l� suy nghĩ đ�ng với những g� Phật dạy. Đ� l� Ch�nh tư duy. Nhờ c� ch�nh kiến n�n mới c� Ch�nh tư duy.

Suy nghĩ đ�ng rồi, ch�ng ta n�i năng hay dạy bảo ai cũng đ�ng với ch�nh ph�p của Phật dạy, đ� l� Ch�nh ngữ. H�nh động đ�ng như ch�nh ph�p l� Ch�nh nghiệp. Sống cuộc đời an l�nh giải tho�t kh�ng bị c�c nghiệp �c tr�i buộc l� Ch�nh mạng. Từ Ch�nh mạng ch�ng ta cố gắng tinh tấn tiến l�n l� Ch�nh tinh tấn. Từ Ch�nh tinh tấn, ch�ng ta chuy�n t�m niệm c�c ph�p như Tứ niệm xứ� l� Ch�nh niệm. C� Ch�nh niệm mới đi tới Ch�nh định. Trong ch�nh định, định cuối c�ng l� Diệt tận định. Được Diệt tận định, cũng gọi l� Diệt thọ tưởng định, tức giải tho�t sanh tử chứng Niết-b�n.

Ngoại đạo cũng c� những thứ định như Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, Kh�ng v� bi�n xứ, Thức v� bi�n xứ, V� sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ, nhưng kh�ng c� Diệt tận định. Chỉ những người tu Phật, sắp chứng A-la-h�n mới đi tới Diệt tận định. Diệt tận định th� nhập Niết-b�n, v� sanh, giải tho�t sanh tử.

Cho n�n Ch�nh kiến l� chặng đường ban đầu, chặng đường học Phật. Ch�ng ta học được ch�nh ph�p của Phật, hiểu đ�ng rồi mới suy nghĩ đ�ng. Nhưng kh�ng phải học như con vẹt, học rồi c�n suy gẫm, t�m hiểu. Suy gẫm thấy đ�ng ch�ng ta mới c� lời n�i v� h�nh động đ�ng. Người đến với đạo Phật, tu theo Thanh văn th� sở nguyện phải chứng quả Niết-b�n, giải tho�t sanh tử. Muốn thế cần c� đủ t�m điều n�y: Ch�nh kiến, Ch�nh tư duy, Ch�nh ngữ, Ch�nh nghiệp, Ch�nh mạng, Ch�nh tinh tấn, Ch�nh niệm, Ch�nh định. Mỗi một điều l� một chặng đường. Đ� l� đại cương gi�o l� căn bản của hệ Nam t�ng.

Bắc t�ng th� lấy Lục độ l�m căn bản. Lục độ tức s�u điều cứu tho�t: Bố th�, Tr� giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Tr� tuệ. S�u điều n�y c� c�ng năng chuyển xấu dở th�nh tốt đẹp n�n gọi l� Lục độ. V� vậy d�ng Lục độ để độ lục tệ. Lục tệ tức l� s�u điều xấu: san tham, ph� giới, s�n nhuế, giải đ�i, t�n loạn, ngu si. Bố th� độ san tham, tr� giới độ ph� giới, nhẫn nhục độ s�n nhuế, tinh tấn độ giải đ�i, thiền định độ t�n loạn, tr� tuệ độ ngu si. Kiểm lại ch�ng ta c� đủ cả s�u tệ, cho n�n phải d�ng Lục độ để cứu m�nh từ xấu tệ trở th�nh hay tốt.

T�i sẽ đối chiếu B�t ch�nh đạo của Nam t�ng v� Lục độ của Bắc t�ng cho qu� vị thấy. B�t ch�nh đạo mở đầu l� ch�nh kiến, c�n Lục độ mở đầu l� bố th�. Hai b�n kh�c nhau thế n�o? Nam t�ng l� phải thấy đ�ng như ch�nh ph�p của Phật, c�n Bắc t�ng đầu ti�n phải c� đủ l�ng từ bi. C� từ bi mới bố th�, kh�ng c� từ bi l�m sao bố th�.

Như vậy với Bắc t�ng, bước đầu phải c� l�ng từ bi thương người. Bởi thương người n�n ai khổ m�nh gi�p, ai đ�i m�nh cho cơm gạo. Nhưng đ�i c� đ�i của th�n v� đ�i ch�nh ph�p. Người muốn nghe ch�nh ph�p m� kh�ng được nghe l� đ�i ch�nh ph�p, hạng n�y phải bố th� ch�nh ph�p. Đ�i cơm th� cho cơm, đ�i ph�p th� cho ph�p, n�n n�i bố th� t�i, bố th� ph�p. Bố th� ph�p thuộc về tinh thần, bố th� t�i thuộc về vật chất. Người cần những điều thiết yếu n�o ch�ng ta gi�p thứ ấy, đ� l� t�m bố th�. T�m bố th� đ� ph�t nguồn từ l�ng từ bi. Do thương người ngh�o thiếu, ta chịu kh�ng nổi n�n cứu gi�p.

Bố th� trừ bệnh bỏn sẻn tham lam. Ta c� tiền của, người ta đ�i kh�ng cho l� bỏn sẻn. Ta biết ph�p biết đạo, người ta th�m kh�t muốn được nghe, m� kh�ng chịu giảng dạy l� bỏn sẻn. Cho n�n nhờ c� t�m từ bi, ch�ng ta gi�p người bằng những phương tiện vật chất cho người được an ổn. Kế đến gi�p phần tinh thần l� ch�nh ph�p. Như vậy l� ch�ng ta tu hạnh bố th�, để ti�u diệt l�ng tham lam.

V� dụ qu� Phật tử mỗi th�ng l�m được một triệu bạc, nu�i sống m�nh khoảng bảy t�m trăm, c�n dư v�i trăm. C� người đ�i thiếu qu�, họ cần một trăm để qua cơn đ�i, m�nh nghĩ sao? Ta dư để d�nh khi bệnh hoạn c� tiền x�i n�n kh�ng gi�p. Như vậy l� t�m keo kiệt, �ch kỷ chỉ biết nghĩ tới m�nh. Ta chưa đau đ� lo để d�nh, người ta đ�i kh�ng th�m cho. Người đang đ�i v� m�nh chưa đau, việc n�o cần hơn? Cứu người hết đ�i l� một nhu cầu cấp b�ch. C�n m�nh chưa đau m� để d�nh th� xa qu�, như vậy l� �ch kỷ, keo kiệt rồi. Ta c� dư, thấy người kh�c đang cần m�nh gi�p. Nhờ thế t�m tham lam của m�nh kh�ng c�n. Nếu cứ lo để d�nh, t�ch lũy ho�i, được một đ�i hai, được hai đ�i ba, cho tới trăm ng�n mu�n ức, để d�nh ho�i kh�ng ch�n, đ� l� đại tham. N�n bố th� để diệt t�m tham lam keo kiệt. V� vậy n�i bố th� độ san tham. Đ� l� ph�p tu thứ nhất của Lục độ.

Thứ hai, Tr� giới độ ph� giới. Nghĩa l� ch�ng ta giữ giới để ti�u diệt lỗi ph� giới của m�nh. Bởi v� người tu thọ giới rồi, tuy c� giữ nhưng tương đối th�i, chớ kh�ng trọn vẹn tuyệt đối. Th� dụ h�ng xuất gia thọ Sa-di, chiều Phật kh�ng cho ăn cơm. Nhưng đ�i qu� cũng l�n ăn ch�o hoặc mua b�nh m�, như vậy c� ph� giới kh�ng? C�. C�n h�ng cư sĩ tại gia c� giữ tr�n năm giới kh�ng? S�t sanh, trộm cướp, t� d�m, n�i dối, uống rượu. Giả sử giữ được c�c giới kh�c, nhưng tới giới n�i dối th� sao? Nhiều Phật tử l�m ăn bu�n b�n bảo muốn c� lời phải n�i dối, như vậy c� ph� giới kh�ng?

Qu� vị mới thấy ch�ng ta thọ giới của Phật l� để khu�n m�nh trong v�ng đạo đức, để tho�t khỏi những khổ đau, nhưng thật sự ch�ng ta khu�n trong đ� kh�ng nổi, n�n cứ x� r�o ho�i. X� r�o gọi l� ph� giới, v� giới l� h�ng r�o. Thường trong luật dạy "ph�ng phi chỉ �c" tức l� ngừa đ�n lỗi lầm, xấu �c. Cho n�n giới l� h�ng r�o bao bọc để ch�ng ta đừng rớt v�o hố tội lỗi. Nhưng nếu m�nh x� r�o th� phải rớt th�i.

Phật v� thương n�n dạy ch�ng ta tu để đạt được bản nguyện giải tho�t sanh tử, chấm dứt khổ đau. Nhưng ch�ng ta tu th� tu, m� những điều Phật răn Phật cấm cũng cứ l�n l�n l�m. L�n l�n chớ kh�ng phải c�ng khai, song cũng gọi l� ph� giới. Ph� giới th� nhất định rơi v�o hố tội lỗi. Bởi giới n�y ph� được th� giới kh�c cũng ph�. Như ph� giới nối dối được, l�u l�u c� tiệc t�ng ai mời uống rượu, m�nh tự nghĩ uống ch�t ch�t chắc kh�ng sao, n�n ph� th�m giới thứ hai nữa. Đ� l� l� do khiến ch�ng ta rơi v�o hố tội lỗi. Giới l� nền tảng bảo bọc ch�ng ta kh�ng rơi v�o tội lỗi. Nếu người tu rơi v�o tội lỗi th� l�m sao bố th� lợi �ch ch�ng sanh. Cho n�n muốn bố th� tốt ch�ng ta phải giữ giới, giữ giới th� kh�ng c� lỗi ph� giới. Cho n�n độ thứ hai l� tr� giới.

Thứ ba l� Nhẫn nhục. Trong ch�ng ta c� ai kh�ng n�ng giận đ�u. N�ng giận l� bệnh phổ th�ng, ai cũng c� hết. Bởi vậy Phật dạy phải tu nhẫn nhục để trị bệnh n�ng giận, n�n n�i nhẫn nhục độ s�n nhuế. Bố th� ph� được tệ tham lam, giữ giới ph� được tệ ph� giới. Nhẫn nhục ph� được tệ n�ng giận. Ai cũng biết n�ng giận l� tệ, nhưng sao lại chứa, n� l� tệ th� bỏ đi.

Ch�ng ta thường tự cho rằng m�nh l�m chủ m�nh, vậy những g� tệ sao kh�ng đuổi n� ra, những g� tốt mới n�n nu�i dưỡng. M�nh l�m chủ m� c�i tệ th� chứa, như vậy �ng chủ n�y đ� dung ăn trộm trong nh�. N�ng giận l� tệ m� ch�ng ta dung dưỡng th� l�m sao về Cực lạc, l�m sao được Niết-b�n. Muốn được Niết-b�n, muốn về Cực lạc phải bỏ n�ng giận. Muốn bỏ n� phải c� phương ph�p. Phương ph�p ấy l� nhẫn nhục.

Sao gọi l� nhẫn? Kh�ng giận l� nhẫn. L�m sao để kh�ng giận? V� dụ người ta chửi m�nh, l�c đ� ch�ng ta nổi n�ng l�n miệng sắp la. La th� hiền hay dữ. Vừa nổi n�ng l�n mở miệng n�i l� dữ. B�y giờ muốn nhịn l�m sao đ�y? C� người bảo n�ng, uống ly nước lạnh cho n� m�t lại. Như vậy được chưa? Uống v� m�t, một l�t n�ng lại nữa th� sao? Chẳng lẽ uống cả chục ly nước sao, như vậy chắc bể bụng. C� người bảo n�ng qu� niệm Phật. Niệm Phật một hồi hết niệm, nhớ lại nổi n�ng nữa. Như vậy niệm Phật th� bớt, bu�ng ra th� n�ng lại. Đ� l� điều rất kh� giải quyết.

Theo t�i th� thế n�y. C� hai trường hợp, khi ch�ng ta nổi n�ng l�n trước nhất l� phải nhịn. L�m sao để nhịn? L�c đ� qu� vị thử đọc c�u thần ch� n�y "N�i l� dại, nhịn l� kh�n". Nghĩa l� khi n�ng trong bụng qu�, sắp la th� đọc c�u thần ch� tr�n. "N�i l� dại, nhịn l� kh�n"� đọc một hồi qu�n giận. L�c đ� mở miệng ra th� n�i bậy, n�i bậy l� g�y chuyện thương tổn với nhau, l� dại rồi.

Đọc như thế để qua cơn n�ng, nhưng muốn tẩy hết n�ng giận phải khởi "Qu�n Từ Bi". Qu�n từ bi l� qu�n thế n�o? Ta n�n xem x�t như vầy, người đang nổi n�ng chửi m�nh, gương mặt dễ thương kh�ng, lời n�i dễ nghe kh�ng? Mặt họ đỏ, miệng n�i bậy. Mặt đỏ n�i s�m c� phải l� người đi�n chưa? Họ đang đi�n.

Ch�ng ta khởi nghĩ họ đang bệnh, đang đi�n cuồng; m� người bệnh, người đi�n cuồng đ�ng thương hay đ�ng giận? M�nh tỉnh s�ng, người ta bệnh th� phải thương m� tha thứ họ. Như vậy nhờ khởi l�ng từ bi, ch�ng ta bỏ qua được hết. Chớ cứ nghĩ họ n�i như thế l� g�c m�nh, n�i nặng m�nh th� kh�ng bao giờ bỏ được. Nghĩ tới họ l� người đ�ng thương n�n hết giận lu�n. Đ� l� lấy nước từ bi tẩy sạch lửa hận trong t�m m�nh, kh�ng tr�ch, kh�ng hờn g� cả.

Cho n�n đối trị n�ng giận, trước d�ng nhẫn nhục cho qua cơn, đừng n�i bậy. Qua cơn n�ng giận rồi phải khởi qu�n từ bi để dẹp sạch l�ng n�ng giận. Đ� l� ch�ng ta kh�o tu, biết tu. Đa số người tu nghe n�i nhịn kh�ng biết nhịn l�m sao? C� người nhịn v� bảo "t�i nhịn một lần rồi nghen", người kia vẫn tiếp tục mắng chửi th� bảo "t�i nhịn hai lần rồi nghen", tới lần thứ ba hết nhịn nổi th� nổ tung. Như vậy chỉ l� kềm chế, chớ chưa biết nhẫn. Kềm chế th� c� giới hạn, tới mức n�o đ� chịu hết nổi th� nổ tung. Cho n�n ch�ng ta phải kh�o tu. Ch�ng ta biết nhẫn nhục, biết qu�n từ bi th� t�m s�n hận sẽ kh�ng c�n, n�n n�i nhẫn nhục độ s�n nhuế. Đ� l� độ thứ ba.

Thứ tư l� Tinh tấn. Tất cả ch�ng ta ai cũng c� bệnh lười biếng, kh�ng nhiều th� �t. Người lười biếng nhiều tới giờ tụng kinh, nhất l� buổi khuya nghe đ�nh kiểng, lăn qua trở lại cựa m�nh kh�ng nổi n�n nằm ngủ lu�n. Người lười biếng �t lăn qua trở lại năm lần mười lượt rồi cũng r�ng trỗi dậy, nhưng uể oải lắm. Người tinh tấn nghe kiểng th� trỗi dậy liền, kh�ng chần chờ, chậm lụt.

Phật tử mỗi tối c� một thời kinh hoặc s�m hối, nhưng h�m n�o trong m�nh hơi uể oải một ch�t th� nghĩ bữa nay mệt qu�, th�i để mai sẽ s�m hối b�. Đ� l� hiện tượng giải đ�i, lười biếng. Khi thấy trong người uể oải, m�nh cố gắng thức dậy s�c miệng rửa mặt, mặc �o v� lễ Phật s�m hối hoặc tụng kinh. Nhờ mạnh mẽ như vậy, xuất hạn mồ h�i hết mệt. Ngược lại, vừa uể oải liền tr�m mền l� sẽ nằm lu�n.

V� vậy căn bản của sự tu l� phải tinh tấn, nhờ tinh tấn ch�ng ta tiến mới nhanh. Trong kinh kể rằng, đức Di-lặc hồi xưa l� bạn đồng tu với Phật Th�ch-ca. Nhưng ng�i Di-lặc bị một lỗi l� cầu danh, thường đến nh� quan tướng gi�o h�a để được danh lợi, n�n việc tu h�nh chậm trễ. C�n đức Phật Th�ch-ca rất tinh tấn, Ng�i nỗ lực tu n�n th�nh Phật đ� hơn hai ng�n năm rồi, m� đức Di-lặc chưa th�nh Phật.

Như vậy tinh tấn l� gốc để ch�ng ta đạt được đạo. Đ� l� người tu th� phải cố gắng tinh tấn, đừng chần chờ, đừng giải đ�i. Giải đ�i l�m cho m�nh tốn rất nhiều thời giờ, trải qua nhiều đời nhiều kiếp vẫn chưa đạt đạo. Ch�ng ta đừng sợ tinh tấn sẽ sanh bệnh hoạn. Tinh tấn đ�ng thời đ�ng tiết th� kh�ng bệnh hoạn g� hết. Trừ những người tinh tấn qu� đ�ng mới sanh ra bệnh hoạn.

Ch�ng ta tu phải cố gắng tinh tấn, kh�ng n�n lười trễ. Bởi v� con ma lười n� đ� nằm sẵn trong t�m m�nh, chờ c� cơ hội n� liền l�i k�o, x�i giục m�nh ngủ cho ngon, chơi cho khỏe, kh�ng chịu cố gắng tu. Nhờ tinh tấn m� ma lười kh�ng thể l�i k�o được ch�ng ta. N�n Tinh tấn l� độ thứ tư.

Thứ năm l� Thiền định độ t�n loạn. Người tu Thiền khi ngồi lại t�m nghĩ tứ tung, người tu niệm Phật cũng thế. Do t�m kh�ng chuy�n nhất n�n vọng tưởng dẫn đi tứ tung. Cho n�n phải d�ng thiền định để ph� tệ t�n loạn. Thiền định l� thế n�o? Đức Phật dạy người niệm Phật muốn Phật Di-đ� đ�n về Cực lạc th� phải niệm Phật đến nhất t�m. Trong kinh Di-đ� n�i r� từ một ng�y cho tới bảy ng�y, niệm Phật nhất t�m bất loạn, th� khi l�m chung Phật A-di-đ� c�ng chư Th�nh ch�ng hiện ở trước mặt đ�n m�nh về Cực lạc.

Nhất t�m bất loạn l� kh�ng c�n một ch�t loạn tưởng n�o, chỉ c� nhất t�m. C� một số người niệm Phật c�n lầm lẫn nhất t�m với nhất niệm. Nhất niệm l� chỉ c�n một niệm Nam-m� A-di-đ� Phật, kh�ng c� niệm n�o chen v� đ� cả. Nhưng c�n niệm th� chưa phải nhất t�m. Kinh n�i niệm tới chỗ v� niệm, nghĩa l� kh�ng c�n một niệm n�o nữa hết. Nhờ c�u niệm Phật ta dứt được những niệm kh�c, đến khi c�u niệm Phật cũng lặng lu�n, đ� mới gọi l� nhất t�m. Được nhất t�m th� Phật A-di-đ� v� Th�nh ch�ng mới hiện tiền.

Chư Tổ n�i ph�p tu Tịnh độ l� d�ng phương tiện đạp gai lấy gai m� lể. Người lỡ đạp gai trong ch�n, n�n mượn c�i gai kh�c b�n hơn để lể bỏ gai cũ. Gai cũ đ� bỏ rồi, nếu c�n để c�y gai mới ở đ� th� sao? Th� cũng như kh�ng. Cho n�n gai cũ lể được rồi, gai mới cũng phải n�m lu�n. Hai c�y gai n�m hết l�c đ� ch�n mới l�nh. Niệm Phật l� d�ng c�u niệm Phật để trị t�m t�n loạn. T�n loạn hết rồi th� c�u niệm Phật cũng bu�ng lu�n. N�n n�i niệm đến chỗ v� niệm.

Người tu Thiền, theo kinh Đại Tứ Niệm Xứ của Nam t�ng dạy rằng: Người qu�n Tứ niệm xứ từ một ng�y, hai ng�y, ba ng�y đến bảy ng�y m� t�m kh�ng dời đổi, kh�ng xao l�ng, người đ� sẽ chứng từ Tam quả A-na-h�m đến Tứ quả A-la-h�n. A-la-h�n l� v� sanh. Muốn được quả v� sanh, chứng Niết-b�n th� cũng phải trụ t�m nơi Tứ niệm xứ. Trụ t�m nơi Tứ niệm xứ tới kh�ng c�n chỗ trụ nữa, đ� l� Niết-b�n. C�n người tu theo Thiền t�ng bu�ng xả tất cả những niệm loạn tưởng. Bu�ng xả tới chừng n�o, suốt ng�y đi đứng nằm ngồi kh�ng c�n một niệm loạn tưởng, mới ngộ được l� Thiền. Chỗ cứu k�nh cũng giống ph�p m�n niệm Phật.

T�m lại, phương ph�p tu n�o cũng phải dẹp hết loạn tưởng. Nhờ dẹp bỏ loạn tưởng ch�ng ta ngộ đạo, nhờ dẹp bỏ loạn tưởng ch�ng ta được Niết-b�n, nhờ dẹp bỏ loạn tưởng ch�ng ta được về Cực lạc.

Loạn tưởng xấu dở ở chỗ n�o m� ch�ng ta phải dẹp bỏ? Như chuyện xấu bậy th� bỏ được, c�n chuyện hay tốt bỏ uổng qu�. M�nh nghĩ mai đi l�m từ thiện, mốt đi nghe ph�p, tốt qu� bỏ sao đ�nh. Nhưng c�n nghĩ l� c�n loạn tưởng. Bởi v� trong kinh Phật dạy, ch�ng ta sanh tử lu�n hồi trong s�u đường, thấp nhất l� địa ngục, kế đ� l� ngạ quỉ, s�c sanh, rồi người, a-tu-la, trời. Trong s�u đường đ�, ba đường �c, ba đường thiện. Nếu nghĩ xấu �c, tạo tội nặng th� đọa địa ngục. Nghĩ xấu �c với t�m gian xảo, keo kiệt th� đọa ngạ quỉ. Nghĩ xấu �c với t�m si m� th� đọa s�c sanh. Đ� l� ba đường �c. Nếu nghĩ phải, xứng đ�ng tư c�ch con người th� sanh l�m người. Nghĩ l�nh nhưng c�n n�ng giận th� sanh l�m a-tu-la. C�n nghĩ l�m mười điều l�nh trọn vẹn th� được sanh c�i trời. Đ� l� ba đường l�nh.

Ri�ng người dứt hết c�c thứ nghĩ th� đi đường n�o? Đ� l� chỗ t�i muốn n�u l�n để ch�ng ta nắm cho thật vững. C�n nghĩ l� c�n niệm, c�n niệm th� c�n tạo nghiệp hoặc nghiệp xấu �c, hoặc nghiệp lương thiện. Nghiệp �c th� đi ba đường dữ, nghiệp luơng thiện th� đi ba đường l�nh, nghĩa l� c�n đi trong lục đạo lu�n hồi. B�y giờ muốn ra khỏi lục đạo lu�n hồi th� phải l�m sao?

Chỗ n�y Lục tổ Huệ Năng đ� bảo với Thượng tọa Minh: "Kh�ng nghĩ thiện kh�ng nghĩ �c, c�i g� l� Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Ngay c�u đ� Thượng tọa Minh liền ngộ đạo. Như t�i đ� n�i nghĩ �c th� đi đường �c, nghĩ thiện th� đi đường thiện. C�n đi tức l� c�n ở trong lục đạo lu�n hồi. B�y giờ dừng hết nghĩ thiện, nghĩ �c th� "Bản lai diện mục" mu�n đời của m�nh hiện ra. Như vậy dứt nghĩ thiện, dứt nghĩ �c th� t�m kh�ng c�n sanh diệt, t�m kh�ng c�n sanh diệt th� c�i ch�n thật bất sanh bất diệt hiện tiền.

Ch�ng ta đ� sẵn c� c�i ch�n thật ấy gọi l� Phật t�nh, Ch�n t�m nhưng v� nghĩ thiện, nghĩ �c che phủ n�n m�nh kh�ng thấy. B�y giờ dừng được hai thứ n�y th� n� hiện ra. V� vậy nghe Lục Tổ n�i c�u ấy, ng�i Huệ Minh liền ngộ. R� r�ng Tịnh độ hay Thiền Đại thừa, Thiền t�ng, Thiền Nguy�n thủy� đều đi tới chỗ dừng hết c�c niệm nghĩ tưởng. Tuy phương tiện ứng dụng c� kh�c nhưng chỗ cứu k�nh kh�ng hai. Đ� l� điểm gặp nhau giữa c�c ph�p tu.

Nhiều người kh�ng biết, cứ chỉ tr�ch nhau m� kh�ng hiểu m�nh đang tu thế n�o. Đ� l� sai lầm lớn. Trong đạo Phật, cứu k�nh kh�ng hai đường. Khi n�o t�m bặt hết những niệm nghĩ tưởng, bặt hết phải quấy hơn thua, đối đ�i th� c�i ch�n thật hiện ra. N�n n�i tu giải tho�t sanh tử l� vậy, v� c�i đ� kh�ng sanh kh�ng diệt th� đ�u c�n đi trong lục đạo. Kh�ng đi trong lục đạo tức l� nhập Niết-b�n, l� giải tho�t sanh tử.

Thiền định cốt dừng t�n loạn, n�n niệm Phật được nhất t�m cũng l� Thiền định, tu Tứ niệm xứ tới nhất t�m cũng l� Thiền định. Khi dứt hết t�n loạn th� được Niết-b�n, kh�ng nghi ngờ g� nữa. Đ� l� độ thứ năm, Thiền định độ t�n loạn.

Thứ s�u l� Tr� tuệ độ si m�. Si m� tức l� v� minh, n� khiến ch�ng ta tạo nghiệp rồi lu�n hồi trong sanh tử. V� vậy muốn hết lu�n hồi sanh tử phải c� tr� tuệ. Bởi chỉ c� tr� tuệ mới ph� tan m� lầm, kh�ng m� lầm th� kh�ng c�n đi trong sanh tử nữa. B�t ch�nh đạo kh�ng n�i tr� tuệ m� n�i ch�nh kiến. Ch�nh kiến n�y từ học m� c�, n�n thuộc Văn tuệ tức Hữu sư tr�. C�n tr� tuệ từ Thiền định ph�t sanh của Lục độ thuộc về Tr� v� sư. Mỗi b�n c� một hướng kh�c nhau.

Hệ Nam t�ng v�o đạo bằng tr� tuệ hữu sư, n�n trong kinh Ph�p C� Phật dạy: "C�c ngươi phải tự thắp đuốc l�n m� đi, thắp l�n với ch�nh ph�p. " Ch�ng ta mở s�ng tr� tuệ bằng c�ch nương theo ch�nh ph�p của Phật. Hệ Bắc t�ng khai triển tr� tuệ v� sư, n�n từ Thiền định m� c�.

Đức Th�ch-ca gi�c ngộ sau khi thiền định dưới cội bồ-đề bốn mươi ch�n ng�y đ�m, cuối c�ng Ng�i chứng được Tam minh v. v� Gi�c ngộ do định m� được n�n sự gi�c ngộ đ� kh�ng c� thầy. V� vậy Phật tuy�n bố "Ta học đạo kh�ng c� thầy". Kh�ng c� thầy th� ai dạy? Do Tr� v� sư sẵn c� vậy. Khi t�m thanh tịnh th� tr� n�y tự s�ng, kh�ng phải do học m� được. Tr� v� sư l� tr� bất sanh bất diệt, c�n Tr� hữu sư l� tr� sanh diệt. Tr� v� sư mới cứu ch�ng ta giải tho�t sanh tử. Thượng tọa Minh ngộ được Bản lai diện mục l� nhờ đi tới chỗ kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c tức dừng t�m đối đ�i, bấy giờ Tr� v� sư hay Phật t�nh mới hiện ra, r� r�ng như vậy.

Người tu Phật n�i tới giải tho�t sanh tử l� phải dứt hết hai b�n, c�n trong v�ng đối đ�i, l�m thiện tu phước th� kh�ng bao giờ giải tho�t sanh tử, chỉ đi trong ba đường l�nh th�i. Nam t�ng tu tới A-la-h�n l� Diệt tận định th� nhập Niết-b�n. C�c ng�i chỉ mong một đời tu chứng được v� sanh, c�n Bắc t�ng tu để nhận được Tr� v� sư sẵn c�. V� vậy Bồ-t�t tu Lục độ lấy tr� tuệ tức gi�c ngộ l�m mục đ�ch cứu k�nh. Đ� gi�c ngộ rồi Bồ-t�t thấy mọi ch�ng sanh đều c� t�nh Phật, nhưng v� qu�n th�nh ra m�. Do đ� Bồ-t�t ph�t nguyện v�o đời độ sanh, gi�p tất cả ch�ng sanh ngộ được t�nh Phật sẵn c� của m�nh. C�n A-la-h�n được Diệt tận định rồi thấy ch�ng sanh m� lầm kh� gi�o h�a hết được, n�n nhập Niết-b�n cho y�n. V� vậy trong kinh thường tr�ch tu theo hạnh Thanh văn l� ti�u cực. Đ� l� v� c�c ng�i đến được chỗ an l�nh rồi, an tr� một m�nh m� kh�ng ph�t nguyện v�o đời độ sanh.

Tinh thần nhập thế của Bắc t�ng v� thế được gọi l� tinh thần Đại thừa. Ch�ng sanh n�o cũng c� của b�u nhưng lại qu�n. Bồ-t�t thấy biết m� kh�ng chỉ th� cảm thấy m�nh kh�ng xứng đ�ng l� người tốt, l� người đi trước, n�n c�c ng�i đem hết khả năng, sức lực của m�nh chỉ mọi người c�ng thấy c�ng biết, cho tr�n bổn phận của m�nh. V� vậy Bồ-t�t kh�ng chấp nhận nhập Niết-b�n.

Chẳng những Bồ-t�t m� một vị A-la-h�n như ng�i A-nan cũng ph�t nguyện: "Như nhất ch�ng sanh vị th�nh Phật, chung bất ư thử thủ N�-ho�n", nếu c�n một ch�ng sanh chưa th�nh Phật, con trọn kh�ng nhập Niết-b�n. V� c�c ng�i thấy m�nh c� h�n ngọc qu�, người kh�c cũng c� m� chưa thấy, th� nỡ n�o l�m thinh bỏ đi. Cho n�n phải lăn lộn, phải chỉ bảo cho mọi người c�ng thấy, c�ng biết như m�nh. Chừng đ� thảnh thơi muốn đi đ�u th� đi, muốn nhập hay kh�ng nhập Niết-b�n cũng được.

V� vậy t�m Bồ-t�t kh�c t�m Thanh văn. Thanh văn chứng Diệt tận định rồi nhập Niết-b�n. Bồ-t�t chứng ngộ ch�n l� rồi, lu�n lu�n gi�o h�a kh�ng ngừng nghỉ để tất cả ch�ng sanh c�ng ngộ như m�nh, đ� l� bản nguyện của c�c ng�i. Nam t�ng ch� trọng sạch phiền n�o được v� sanh, n�n lấy Ch�nh định l�m gốc. Bắc t�ng ch� trọng gi�c ngộ, nhận ra t�nh Phật sẵn c� của m�nh, n�n lấy tr� tuệ v� sư l�m gốc. Như vậy hai lối tu c� những điểm kh�c nhau, v� vậy t�m hạnh cũng kh�c nhau.

Ch�ng ta học kinh điển Phật, phải hiểu cho tường tận mới thấy đường tu hết sức r� r�ng, kh�ng c� g� nghi ngờ hết. Phật dạy giải tho�t kh�ng c� đ�u xa, ngay nơi c�i n�y m� kh�ng bị vướng mắc, sống được với c�i ch�n thật của ch�nh m�nh đ� l� giải tho�t, l� v� sanh. Thế gian th�ch sống, n�n nghe Phật n�i chứng được Niết-b�n v� sanh, buồn qu�. C�n tu Ti�n, luyện được thuốc trường sanh bất tử, sống ho�i kh�ng chết n�n người ta ham. N�i trường sanh bất tử, nhưng ch�ng ta xem ng�y nay c�n �ng Ti�n n�o kh�ng? Bất tử sao kh�ng c�n, như vậy đ�u phải l� ch�n l�.

Phật n�i Niết-b�n l� v� sanh, kh�ng sanh th� l�m g� c� tử, nếu c� sanh th� c� tử. Tử sớm l� năm bảy mươi năm, tử muộn l� v�i trăm năm, cũng tử th�i. Chỉ v� sanh mới l� bất tử. Đ� l� lẽ thật, l� ch�n l�.

H�m nay t�i giảng về đề t�i n�y để qu� vị x�t kỹ hai đường lối tu căn cứ v�o hai phần gi�o điển, một lấy B�t ch�nh đạo, một lấy Lục độ l�m căn bản n�n c� những điểm sai biệt. Như vậy để nhận ra Bắc t�ng kh�c hơn Nam t�ng ở chỗ n�o. Nhiều người n�i Tiểu thừa l� cỗ xe nhỏ, Đại thừa l� cỗ xe lớn. N�i vậy đ�ng chưa? Nếu cho rằng Tiểu thừa l� cỗ xe nhỏ độ �t người, Đại thừa l� cỗ xe lớn độ nhiều người, như vậy kh�ng đ�ng.

Nhiều vị tu theo Nguy�n thủy ngộ đạo, độ cũng rất nhiều người. C�n vị tu theo Đại thừa m� kh�ng tới đ�u th� c� độ được ai, l�m sao n�i nhiều �t. Chỉ kh�c nhau ở chỗ, người tu chứng Diệt tận định nhập Niết-b�n, ngang đ� nghỉ vĩnh viễn kh�ng độ sanh th� mang tinh thần Tiểu thừa. C�n người tu ngộ được Ph�p th�n rồi, lăn lộn trong đời để độ ch�ng sanh kh�ng c�ng, th� mang tinh thần Đại thừa. Hiểu như vậy ch�ng ta mới thấy gi� trị đường lối tu của mỗi b�n. Nhưng phải tu tới nơi k�a, chớ c�n tu lơ mơ cũng kh�ng thấy kh�ng biết được g�. Gi� trị ở sự tu chớ kh�ng phải gi� trị ở chỗ học nhiều. Học nhiều m� kh�ng tu th� cũng kh�ng c� kết quả.

V� vậy t�i mong mỏi tất cả cố gắng hiểu, ứng dụng tu cho được tốt. Như vậy l� tự cứu m�nh v� cứu được mọi người. Nếu kh�ng chịu tu, bản th�n ch�ng ta kh�ng tự cứu được th� mong g� cứu ai. Mong tất cả cố gắng thực hiện tu h�nh đ�ng như lời Phật tổ dạy.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]