Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập IV)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


ĐẠO PHẬT L� ĐẠO DIỆT KHỔ

Trường hạ Phổ Đ� - 2000.

 

B�i ph�p t�i giảng h�m nay c� đề t�i Đạo Phật l� đạo diệt khổ. Bởi v� nhiều người n�i đức Phật l� đấng cứu khổ ch�ng sanh, nhưng ch�ng ta tu theo Phật nhiều năm m� thấy khổ cũng c�n ho�i chưa hết. Như vậy từ "cứu khổ ch�ng sanh" c� hiệu nghiệm đ�ng như thật hay kh�ng? V� vậy ở đ�y t�i sẽ n�i r� cho qu� vị thấy tại sao đạo Phật l� đạo cứu khổ ch�ng sanh, m� ch�ng ta tu theo đạo Phật, vẫn c�n khổ ho�i.

L�u nay h�ng Phật tử ch�ng ta c� sự hiểu lầm về hai chữ "cứu khổ" n�y. Mỗi khi gặp tai nạn, hay l�m việc g� thất bại, qu� vị liền cầu: "Phật cứu cho con hết khổ. " Nếu Phật cứu được th� bệnh phải hết liền; vậy m� nhiều người nằm tới mười ng�y, hai mươi ng�y, c� khi cả đ�i ba th�ng. Như vậy Phật c� cứu kh�ng? Cầu m� kh�ng như nguyện, th� người ta cứ ngầm tưởng Phật kh�ng linh. M�nh tin Phật, cầu xin Phật m� sao kh�ng c� kết quả? Đ� l� v� họ kh�ng hiểu đạo Phật.

C� những người l�m ăn, mua b�n gặp l�c thất bại, rồi nợ nần, liền cầu nguyện Phật: "Phật cứu cho con l�m ăn ph�t t�i, trả nợ cho mau" v. v� Nếu cầu ho�i kh�ng được th� n�i Phật thương ch�ng sanh, m� sao m�nh khổ, m�nh cầu, Phật kh�ng cứu? Như vậy nghĩa "cứu khổ" của Phật đ�u c�n. Đ� l� chỗ lầm lẫn của đa số Phật tử hiện nay. Do hiểu lầm nghĩa cứu khổ, n�n cứ cầu mong Phật cứu m�nh. Nếu kh�ng được như nguyện th� tưởng chừng như lời Phật l� lời hứa su�ng, chớ kh�ng phải l� lời thật. V� thế niềm tin nơi Phật bị suy k�m đi.

Giờ đ�y ch�ng ta phải định nghĩa "Phật cứu khổ ch�ng sanh" l� cứu bằng c�ch n�o? Ch�ng ta phải nắm cho vững, hiểu cho r�, th� mới biết được � nghĩa "Phật cứu khổ ch�ng sanh". Thường người ta cứ nghĩ khổ l� từ b�n ngo�i đưa v�o, m� kh�ng thấy được khổ gốc từ nơi ch�nh m�nh ra. Bởi vậy khi gặp khổ, Phật tử vội v� cầu Phật cứu. Cầu kh�ng được liền cho rằng Phật kh�ng linh, kh�ng sẵn s�ng cứu khổ m�nh. Đ� l� hiểu sai lầm.

Qu� vị nhớ người Phật tử, khi qui y với Phật th� trước phải giữ năm giới: kh�ng s�t sanh, kh�ng trộm cướp, kh�ng t� d�m, kh�ng n�i dối, kh�ng uống rượu. Giữ giới như vậy để l�m g�? Nhiều khi Phật tử cũng kh�ng biết tại sao phải giữ giới nữa. Bởi giới luật của Phật l� h�ng r�o ngăn chặn kh�ng cho ch�ng ta rơi xuống hố tội lỗi. V� rơi xuống hố tội lỗi l� đau khổ. Như vậy giới luật giữ cho ta kh�ng rơi v�o chỗ đau khổ.

Người phạm giới s�t sanh như giết người th� khổ hay vui? Dĩ nhi�n l� khổ. Phật tử dầu c� giận mấy, nhưng nghĩ tới muốn hại, muốn giết người th� phạm giới cấm của Phật n�n kh�ng d�m giết. Giận cũng r�ng chịu, phải kh�ng? Nhờ kh�ng giết người, n�n kh�ng bị t� tội, kh�ng bị o�n th�. T� tội, o�n th�, hai việc đ� khổ hay vui? Hai nỗi khổ lớn. Nhờ giữ giới n�n d� giận c�ch mấy, ch�ng ta cũng chận được những nỗi khổ lớn lao. Kh�ng giết người th� m�nh kh�ng bị t� tội, kh�ng bị người ta giết hoặc đ�nh đập lại. Như vậy giới ngừa đ�n quả khổ trước khi m�nh tạo tội. Giữ một giới th� hết khổ một phần.

Nếu giữ th�m giới kh�ng trộm cướp, th� kh�ng bị bắt bớ, t� tội. Đ� l� tr�nh được một nỗi khổ. Giữ giới kh�ng t� d�m th� bớt được nỗi khổ gia đ�nh ly t�n. Nếu gia đ�nh, chồng hoặc vợ ngoại t�nh với kẻ kh�c th� gia đ�nh đ� vui hay khổ? Khổ. Người chồng hoặc người vợ đau khổ v� con c�i cũng đau khổ nữa. Như vậy giữ giới kh�ng t� d�m th� vợ chồng h�a thuận, con c�i vui tươi. Đ� l� tr�nh được khổ rồi. Kh�ng n�i dối gạt người, th� kh�ng bị người ch� tr�ch, khinh bỉ m�nh. Ngược lại, nếu dối gạt người th� sẽ bị người ch� tr�ch, khinh bỉ. Khi bị người ch� tr�ch, khinh bỉ, m�nh c� vui kh�ng? M�nh khổ. B�y giờ m�nh tr�nh kh�ng lừa dối ai, n�n kh�ng bị ch� tr�ch, giận hờn th� m�nh khỏi khổ.

Kh�ng uống rượu say, kh�ng h�t � phiện, kh�ng x� ke ma t�y, c� khổ kh�ng? Kh�ng khổ. Nếu ở gia đ�nh, c� một �ng chồng cứ say l� m�, ra đường th� ngả nghi�ng, về nh� th� ụa mửa, qu� vị c� khổ kh�ng? Rất khổ. Nếu người chồng l� Phật tử tỉnh t�o, s�ng suốt, kh�ng say sưa th� vợ kh�ng khổ, m� bản th�n người chồng cũng được vui. Nếu trong gia đ�nh kh�ng c� ai h�t � phiện, x� ke ma t�y th� gia đ�nh đ� hạnh ph�c, kh�ng bị khổ.

Như vậy Phật dạy giữ năm giới c� phải l� chận đứng gốc đau khổ cho ch�ng ta kh�ng? M� chận đứng đau khổ cho ch�ng ta tức l� cứu khổ rồi. Phật cứu khổ ch�ng sanh bằng c�ch cứu nh�n chớ kh�ng cứu quả. Ch�ng ta b�y giờ đ�i cứu quả chớ kh�ng chịu cứu nh�n. Khi gặp khổ, th� dụ như đi ăn trộm của người ta, bị l�nh bắt liền cầu Phật cứu. Phật cứu được kh�ng? B�y giờ Phật dạy m�nh ngừa, kh�ng trộm cắp th� sẽ kh�ng bị bắt bớ. Đ� l� Phật đ� cứu rồi.

Như vậy Phật cứu khổ ch�ng ta l� cứu khổ từ nh�n. Ch�ng ta kh�ng g�y nh�n xấu, th� kh�ng gặp quả khổ. Chớ Phật kh�ng thể cứu khổ tr�n quả được. Bởi v� theo luật nh�n quả, hễ g�y nh�n n�o th� gặt quả ấy th�i, kh�ng thể kh�c được. Cho n�n Phật cứu m� ch�ng ta kh�ng thấy cứu.

T�i thường hay v� dụ, c� hai người đang c�i v� ngo�i đường, một nh� tu đi ngang khuy�n: "Th�i, hai anh bỏ qua đi, h�a với nhau đi, c�i lẫy l�m chi rồi sanh đ�nh đập nhau th� khổ lắm, đừng l�m việc đ�. " Khuy�n như vậy m� hai người kia chẳng th�m nghe. Do kh�ng chịu nghe n�n c�i một hồi rồi đập nhau lỗ đầu, phải chở v� bệnh viện. Tại bệnh viện nhờ y t� băng b�, trị liệu cho l�nh. Khi được l�nh, người ấy mang ơn ai? Họ n�i: "Mấy vị y t� tốt qu�, đ� băng gi�m những vết thương cho họ. "

Như vậy họ chỉ biết ơn người cứu m�nh tr�n quả. C�n người khuy�n m�nh dứt từ nh�n th� lại kh�ng chịu nghe, coi thường. Lẽ ra kẻ ấy nhớ lại "phải chi h�m đ� m�nh nghe lời thầy khuy�n, đừng chửi, đừng đ�nh lộn th� đ�u c� bị thương t�ch. " Như vậy th� được l�nh lặn trọn vẹn. Đằng n�y đợi đ�nh lỗ đầu rồi, đi băng b�, rốt lại mang ơn người băng b�, m� kh�ng mang ơn người khuy�n m�nh từ buổi đầu. Qu� vị thấy c� dở, c� muộn lắm kh�ng?

Người ta thường bị lỗi v� chỉ biết tr�n quả đang đau khổ th� cầu cứu; m� kh�ng biết nguy�n nh�n đưa đến đau khổ để ngừa tr�nh. Đức Phật thấy tường tận nguy�n nh�n n�o đưa ch�ng ta tới đau khổ. Ng�i khuy�n dạy phải đừng tạo nh�n đ�. Nh�n đ� kh�ng tạo th� quả l�m g� c�. Như vậy nh�n cạn, ch�ng ta kh�ng thấy Phật cứu, nhưng thật sự Phật đ� cứu ta rồi! Phật cứu m� kh�ng thấy, v� cứu tr�n nh�n. C�n thế gian cứu m�nh l� cứu tr�n quả.

Phật dạy ch�ng ta giữ năm giới, đ� l� ngừa đ�n tội khổ cho ch�ng ta. Nếu ch�ng ta tu�n theo, giữ đ�ng th� sẽ hết khổ. Đ� l� ch�ng ta tu. Tu th� sẽ hết khổ. Hết khổ nhờ v�ng lời Phật dạy, tu�n theo h�nh theo, n�n ch�ng ta hết khổ, gọi đ� l� Phật cứu khổ. Như vậy � nghĩa cứu khổ trong nh� Phật rất r� r�ng.

C�n h�ng xuất gia th� rất nhiều giới. Nhưng t�i chỉ n�i giới phổ th�ng, gần gũi nhất l� giới Sa-di. Sa-di c� mười giới. Bởi v� người tu phải giữ mười giới đầu l� giới gốc.

1- Kh�ng s�t sanh.

2- Kh�ng trộm cướp.

3- Kh�ng d�m dục.

4- Kh�ng n�i dối.

5- Kh�ng uống rượu, kh�ng d�ng c�c chất say như x� ke ma t�y v. v�

6- Kh�ng ca h�t.

7- Kh�ng đeo tr�ng hoa, kh�ng x�ng ướp c�c chất thơm.

8- Kh�ng nằm ngồi giường to lớn.

9- Kh�ng được ăn phi thời.

10- Kh�ng giữ tiền bạc, ch�u b�u v. v�

Những điều đ� nghe qua, qu� vị thấy c� g� quan trọng m� Phật bắt phải giữ như vậy. Th� dụ như l�u l�u th�n thể h�i h�m, c� ai cho x� b�ng thơm hay dầu thơm, m�nh thoa một ch�t cho đỡ h�i, c� tội g� đ�u, c� hại ai đ�u, m� Phật cũng cấm nữa.

Ch�ng ta nhớ Phật dạy người xuất gia, tu để giải tho�t sanh tử. M� muốn giải tho�t sanh tử th� phải dứt hết những t�m � nhiễm dục lạc của thế gian. Nếu xoa dầu thơm, nghe m�nh hơi thơm th� liền khởi niệm th�ch. Đ� ch�nh l� niệm dẫn tới �i dục của thế gian. Người kh�c nghe m�i, họ nghĩ rằng vị tu sĩ đ� c�n th�ch trang sức cho đẹp, chứng tỏ l� tu chưa kỹ, n�n họ chọc ghẹo, từ đ� m� dẫn tới nhiều chuyện kh�ng tốt.

Như vậy Phật ngừa đ�n, kh�ng cho m�nh l�m những điều đ�. Bởi v� l�m điều đ� l� tuột xuống, kh�ng c�n đi tr�n đường giải tho�t nữa. Tuy n� nhỏ, kh�ng l�m khổ cho ai, nhưng n� l� nh�n tế nhị dẫn ch�ng ta đến gần c�c thứ dục lạc của thế gian, n�n người tu phải tr�nh đi.

Như Phật dạy kh�ng được xem h�t, hay nghe nhạc, v. v� Ch�ng ta thấy xem h�t nghe nhạc, đ�u c� l�m tổn thương ai, sao Phật kh�ng cho? Bởi người xuất gia th� lu�n giữ t�m trong sạch, an định. Nếu đi xem h�t, nghe nhạc, t�m sẽ bị chao đảo, rung động. Rung động th� mất ch�nh niệm, t� niệm sẽ dễ sanh. Như vậy tr�n đường giải tho�t c� thể lui sụt. Cho n�n Phật cấm kh�ng được nghe nhạc, kh�ng được đi xem h�t, đ� l� ngừa từ nh�n. Giữ được t�m an định th� việc tu tập kh�ng bị lui sụt.

V� dụ b�n cạnh con đường ta tới lui l� một c�i hố s�u rất nguy hiểm, nếu lọt xuống đ�y th� ngoi đầu l�n kh�ng nổi. Cũng vậy, muốn h�ng xuất gia khỏi lọt xuống hố, n�n Phật d�ng c�i h�ng r�o chắn ngang gần miệng hố. Ch�ng ta đi vừa đụng n� liền dội lại n�n kh�ng rớt xuống hố. Nếu kh�ng c� h�ng r�o n�y th� họa rơi xuống hố kh� tr�nh khỏi. H�ng r�o l� g�? L� giới luật vậy. Cho n�n giới c� nghĩa l� ph�ng phi chỉ �c.

Ph�ng phi nghĩa l� ngừa những việc quấy; chỉ �c l� dứt, dừng những tội lỗi. Giới ch�nh l� h�ng r�o ngừa đ�n tội lỗi, dẫn người tu đi đến đau khổ. Do đ� Phật chận trước. Bắt giữ giới l� ngừa đ�n trước, để đừng xảy ra những việc kh�ng tốt. Người tu m� kh�ng chịu giữ giới th� sao? Th� c� ng�y lọt xuống hố, kh�ng nghi ngờ g� cả!

Như vậy cư sĩ tại gia c� năm giới, người xuất gia c� từ mười giới trở l�n, t�y theo cấp bậc. Cho n�n biết giới l� phương tiện ngừa đ�n cho ch�ng ta kh�ng bị khổ. Nếu ai biết giữ giới luật th� người đ� hết khổ, ngược lại kẻ kh�ng chịu giữ giới th� phải chịu đau khổ. Đ� l� chặng tu ban đầu của ch�ng ta. Nếu chặng ban đầu kh�ng thực hiện được th� chặng thứ hai, thứ ba, ch�ng ta kh� thực hiện được.

Th� dụ Phật dạy ch�ng ta đừng tham, phải bớt tham. Nhưng Phật tử ham l�m ăn n�n cứ vay vốn l�m ăn m�i, kh�ng chịu dừng. Đến hồi lỗ vốn, chừng đ� k�u Phật cứu. Phật cứu kịp kh�ng? Th�i th� m�nh c� bao nhi�u ăn bấy nhi�u, đừng tham nhiều. Đừng tham th� đ�u c� lỗ. Kh�ng lỗ th� đ�u phải thiếu nợ. Chờ đến khi lỗ vốn, thiếu nợ rồi mới k�u Phật cứu, Phật cứu l�m sao được? Đ� l� những điều Phật tử ch�ng ta kh�ng thấy, kh�ng hiểu n�n phải chịu khổ.

Như Phật dạy đừng n�ng giận, v� n�ng giận l� con rắn độc. Nhưng Phật tử vẫn cứ n�ng giận. Ai n�i g� tr�i � liền nổi n�ng, la lối, c� khi chửi đ�nh nữa. M� la lối chửi đ�nh nhau th� khổ th�i, chớ vui sao được. Với người l�ng giềng m� la lối, chửi mắng om s�m, th� mai mốt gặp mặt nhau c� khổ kh�ng? Phật gọi đ�y l� o�n tắng hội khổ, th� o�n gặp nhau l� khổ. Nếu đi ra đi v� gặp mặt ho�i th� cả ng�y khổ ho�i, phải kh�ng? C�n nếu m�nh kh�ng n�ng giận, đ�nh đập, chửi bới nhau th� gặp nhau vui cười, đ� l� kh�ng khổ. Như vậy tất cả nỗi khổ đều do ch�ng ta tạo. Nếu m�nh biết tu n� sẽ chuyển, sẽ hết; kh�ng biết tu n� c�n ho�i.

T�i nhắc lại c�u chuyện trong kinh. Một h�m đức Phật hỏi c�c thầy Tỳ-kheo: "N�y c�c Tỳ-kheo, nếu ở trong thất của c�c �ng ngủ c� ba con rắn độc, c�c �ng c� ngủ y�n kh�ng? " C�c thầy Tỳ-kheo bạch Phật: "Bạch Thế T�n, ch�ng con ngủ kh�ng y�n! " Phật hỏi: "L�m sao c�c �ng mới ngủ y�n? " C�c thầy thưa rằng: "Chừng n�o ch�ng con đuổi hết ba con rắn ra khỏi thất, chừng đ� ngủ mới y�n. " Phật n�i: "Cũng vậy, tham s�n si l� ba con rắn độc, ch�ng c�n nguy hiểm hơn cả rắn độc nữa. " Tại sao? Rắn độc chỉ cắn th�n n�y chết trong một đời th�i; c�n tham, s�n, si, sẽ khiến ch�ng ta tạo nghiệp đi trong sanh tử. Hết chết th�n n�y, tiếp tục chết th�n thứ hai, thứ ba, cho tới trăm ng�n th�n. Rắn độc chỉ giết ch�ng ta một th�n, c�n tham, s�n, si giết kh�ng biết bao nhi�u th�n. R� r�ng n� độc hơn cả rắn độc rồi.

N�n biết c�n một trong ba c�i độc tham, s�n, si ở trong m�nh, th� ch�ng ta chưa thể an được. Nhưng kh�ng hiểu tại sao Phật tử cũng như h�ng xuất gia c�n thương ba con rắn độc qu�! Thương n�n kh�ng nỡ đuổi n� ra. Như vậy th� r� r�ng l� tự m�nh chuốc khổ. Ch�ng ta tưởng tượng trong c�i thất, c� ba con rắn độc cứ b� qua b� lại th� m�nh sẽ thế n�o? Mất ăn mất ngủ phải kh�ng? Cũng vậy, trong th�n n�y c�n tham, s�n, si tức c�n rắn độc th� l�m sao ngủ y�n? Cho n�n c�c vị Cổ đức hay khuy�n: "C�c �ng phải diệt trừ phiền n�o. Phiền n�o c�n lừng lẫy th� c�c �ng đ�u thể an vui m� ngủ. " Thật sự như khi qu� vị đang giận ai, giận tức bụng, nghe tiếng kẻng đi ngủ, m� nằm ho�i ngủ kh�ng được. Th� đ�, bởi v� c�n rắn độc lảng vảng trong đầu, l�m sao ngủ được!

Cho n�n người tu, tại gia cũng như xuất gia, biết ba con rắn độc nguy hiểm, ch�ng ta phải tr�nh, phải đuổi n� ra, đừng chứa chấp. Ba con rắn độc đ�, t�i tượng trưng rắn thứ nhất l� rắn hổ ngựa. Rắn hổ ngựa l� rắn g�? Tức con rắn trong đồng qu�, n� lướt tr�n cỏ nhanh lắm, như ngựa vậy. Đ� l� rắn tham. Rắn thứ hai l� rắn hổ lửa. Hổ lửa l� rắn g�? L� rắn s�n. Rắn thứ ba l� rắn hổ đất. N� chui v�o hang tối, m�nh kh�ng thấy nhưng gặp n�, n� cắn cứu kh�ng được, l� rắn si.

Như vậy trong ba con rắn, nổi nhất hung dữ nhất l� hổ lửa, nhanh nhẹn nhất l� hổ ngựa, m� l� lợm nhất l� hổ đất. Ch�ng ta c� đủ ba con rắn đ� kh�ng? Ai c� đủ ba con rắn đ� th� phải l�m sao? Biết trong nh� m�nh chứa ba con rắn độc như vậy th� kh�ng thể n�o an ổn. Kh�ng an ổn tức l� đau khổ. Vậy muốn hết đau khổ phải t�m đủ c�ch để đuổi n� ra. Thế m� c� người kh�ng chịu t�m. Được người ta khuy�n đuổi ra, c�n n�i: "Được, để đ� đi, kh�ng sao đ�u! "

Như t�i thường n�i, ch�ng ta hay n�ng giận. Ai n�i tr�i � liền đỏ mặt la om s�m. Khi đ�, huynh đệ khuy�n: "M�nh tu rồi n�ng giận coi kh�ng được, kỳ lắm, bỏ đi! " Ta liền n�i: "T�nh t�i vậy đ�, bỏ kh�ng được. " N�i thế c� nghĩa l� t�nh như vậy th� giữ như vậy, kh�ng bỏ được. Đ� l� kh�ng sợ con rắn hổ lửa rồi, n�n mới chấp nhận cho n� ở chung. Phật tử sống ngo�i thế gian cũng vậy, nhiều khi vợ chồng c� chuyện c�i v�. Vợ n�i: "Sao anh n�ng qu� vậy! " chồng liền lớn tiếng: "T�nh t�i n�ng vậy đ�, đừng c� động tới! " V� giữ t�nh n�ng, n�n động tới l� t�e lửa liền. Đ� kh�ng ưng bỏ n�n mới bảo vệ n�.

Ch�ng ta mới thấy rằng tr�n đường tu, nếu m�nh kh�ng can đảm, kh�ng chịu dẹp bỏ những nh�n đau khổ th� quả đau khổ tr�nh sao cho khỏi. Th� dụ người xuất gia m� nu�i rắn hổ lửa, h�m n�o huynh đệ n�i g� tr�i �, nổi giận t�t tai người ta. Do t�t tai người ta, n�n chiều nh�m ch�ng bị đuổi đi. Bị đuổi đi liền đắp y l�n b�n Phật, thắp hương nguyện: "Phật cứu độ con, con bị đuổi ra khỏi ch�ng, khổ qu�! " Phật cứu kịp kh�ng? Phật cũng kh�ng biết l�m sao cứu.

Ch�nh khi biết m�nh n�ng, l� do chứa con rắn độc th� phải dẹp n� liền. Dẹp n� l� y theo lời Phật dạy để m�nh hết khổ. Đ� l� Phật cứu m�nh. Đằng n�y kh�ng chịu dẹp n�, chờ tới quả rồi mới cầu Phật cứu. Ở thế gian, tham lam l� tật xấu, l� tội lỗi m� thấy của người ta vẫn cứ tham. Tham rồi l�n ăn cắp. Ăn cắp n�n bị người ta bắt được, đưa v� kh�m. L�c v� kh�m chắp tay cầu nguyện: "Phật độ cho con được mau ra. " Phật l� bậc biết luật l�m sao độ như vậy được. Bởi nh�n m�nh kh�ng tr�nh th� quả đến, Phật cũng thua th�i, kh�ng l�m g� được.

Đức Phật từ bi v� hạn, cho n�n Ng�i ngừa đ�n gi�p ch�ng ta từ ban đầu. V� muốn tr�nh khổ cho ch�ng sanh, n�n Phật răn dạy đừng l�m những điều ấy. Nhưng ch�ng ta kh�ng nghe th� khổ đến Phật kh�ng l�m sao cứu được.

V� như người cha, người mẹ thương con đ�o để. Đứa con trai mười ba, mười lăm tuổi, cha mẹ khuy�n cấm kh�ng cho h�t thuốc, kh�ng cho uống rượu, kh�ng cho chơi với mấy đứa trẻ hư hỏng v. v� cấm năm bảy điều. Cấm như thế, đứa con thấy ba m� m�nh khắt khe qu�. Tại sao ba m� thương m� lại khắt khe với con? Nhưng điều đ� phải khắt khe kh�ng? Ch�nh sự ngăn cấm l� ngừa đ�n cho con khỏi những th�i hư, tật xấu. Tr�i lại con kh�ng chịu nghe, n�n giao du với bạn xấu, đ�nh lộn với người ta lỗ đầu, chảy m�u, rồi chạy về nh� k�u ba m�. Ba m� l�m g� được? Đi chơi ngo�i đường, ở chỗ xa, đ�nh lộn th� phải r�ng chịu chớ ba m� l�m sao cứu. Trước ba m� đ� bảo đừng chơi với lũ c�n đồ, du đ�ng; b�y giờ chơi với n� th� n� đập phải chịu chớ sao. Cha mẹ v� sợ con hư, n�n mới răn cấm kh�ng cho con l�m những điều đ�. Nhưng đứa con kh�ng biết, n�n chuốc quả khổ. Cha mẹ d� c� thương đ�o để cũng kh�ng l�m g� được.

Cũng vậy, Phật v� thương ch�ng sanh, dạy cho ch�ng sanh ph�p tu để hết khổ. Cho n�n Ng�i chế giới răn cấm c�c việc lỗi lầm g�y ra đau khổ. Nếu nh�n kh�ng tạo th� quả đ�u c�. Như vậy l� đ� cứu cho ch�ng ta tho�t khỏi khổ đau một c�ch trọn vẹn, an l�nh. Chớ c�n chờ gặp tai nạn, đau khổ rồi mới cứu th� d� c� cứu được cũng kh�ng trọn vẹn.

Thế n�n ch�ng ta phải hiểu gi� trị của đạo Phật, tu l� tr�nh trước những nh�n g�y ra tội lỗi, g�y ra đau khổ. Nhờ tr�nh n�n kh�ng khổ. Đ� l� biết tr�nh v� biết tu theo nh�n quả nghiệp b�o. Người Phật tử cũng như người xuất gia, muốn hết quả đau khổ th� phải tr�nh nh�n �c. Những g� thuộc về nh�n xấu, nh�n �c th� tuyệt đối kh�ng l�m. V� dụ, như c� người thấy gia đ�nh kia c� một đứa con cưng qu�. Thấy rồi liền sanh t�m đố kỵ, sao m�nh kh�ng được cưng qu� như người đ�? Do đố kỵ n�n gặp ch� con cưng của người ta đi chơi, liền v�y đ�nh để trả c�i hận ganh tỵ đ�. Đ�nh người ta lỗ đầu n�n bị l�nh c�ng tay. Chừng đ� l�m sao? Tại v� m�nh kh�ng tr�nh nh�n �c th� quả �c tới m�nh phải chịu. Chớ nếu m�nh biết: "� người ta c� phước n�n được cha mẹ cưng chiều, tưng tiu; c�n m�nh v� phước n�n cha mẹ ngh�o, kh�ng được như vậy. Th� th�i phước ai nấy hưởng, m�nh đố kỵ l�m chi cho th�m buồn, th�m khổ. " Biết suy nghĩ như vậy th� đ�u c� chuyện g� xảy ra. Cho n�n đức Phật dạy: "Người hay đố kỵ l� người g�y nhiều đau khổ. "

Khi c� t�m đố kỵ th� phải d�ng thuốc g� để trị? Phật dạy d�ng thuốc "T�y hỉ" trị t�m đố kỵ. T�y hỉ l� sao? T�y l� theo, Hỉ l� vui. Thấy người kh�c được cha mẹ cưng, m�nh vui theo: "Anh đ� c� phước, được cha mẹ cưng thật l� đ�ng mừng đ�ng vui cho anh. " Kh�ng c� t�m đố kỵ th� đ�u c� đ�nh người ta. Hoặc x�m m�nh ngh�o, x�m người gi�u th� m�nh cũng vui theo: "T�i rất mừng cho anh (chị) l�m ăn c� phước được kh� giả. "

Nếu m�nh vui, m�nh mừng gi�m họ, họ c� gh�t m�nh kh�ng? L�m sao gh�t được. Đằng n�y thấy người ta l�m ăn ph�t đạt gi�u, c�n m�nh ngh�o, n�n gặp nhau kh�ng th�m n�i tới t�n, kh�ng th�m ch�o người ta. Từ đ� trở th�nh th� địch, rồi dẫn tới gh�t nhau. Mai kia lỡ c� chuyện cần ch�t �t tiền gấp, chạy qua mượn họ kh�ng cho. Chừng đ� c� phải khổ kh�ng?

V� vậy m� Phật dạy phải t�y hỉ, thấy ai được tốt, được vui m�nh đều mừng vui theo họ. Họ được coi như m�nh được th� kh�ng khổ. C�n nếu người thấy ai hơn m�nh c�i đầu ng� xuống, kh�ng bằng l�ng, người đ� sẽ khổ. Như m�nh mặc một bộ đồ hơi sơ s�i, thấy người ta mặc bộ đồ đẹp hơn th� c�i gằm mặt xuống. M�nh đi chiếc xe đạp, c�n người ta l�i xe m�y cũng gằm mặt xuống v. v� Như vậy từ s�ng tới chiều, m�nh cứ c�i mặt kh�ng d�m nh�n ai hết, khổ chưa. C�n nếu vui theo người ta th� cả ng�y m�nh vui ho�i, sướng kh�ng.

Như vậy khổ từ đ�u m� c�? Từ t�m đố kỵ c�. Nhiều khi anh em ruột, m� người anh l�m ăn ph�t t�i, người em l�m ăn trật l�n trật xuống ngh�o khổ, th� anh em cũng hết th�n nhau. Hết th�n l� tại người anh coi thường em, hay tại người em c� t�m đố kỵ n�n tr�nh xa anh? T�m đố kỵ l�m cho người ta đau khổ l� v� vậy.

Ch�ng ta biết tu rồi, th� n�n c� t�m t�y hỉ với mọi người chung quanh. Ai được tốt, được vui m�nh mừng với họ. Vui vẻ, chia sớt niềm vui, hạnh ph�c với họ, th� c� ai gh�t m�nh đ�u. Như vậy ch�ng ta sẽ hết khổ. T�m của m�nh c�ng mở rộng, c�ng vui vẻ. Ngược lại, c�ng hạn hẹp chừng n�o th� c�ng đau khổ chừng ấy. Cho n�n tu l� phải biết mở rộng l�ng m�nh, đừng kh�p k�n, đừng �ch kỷ, đừng đố kỵ, đừng xấu xa, th� ch�ng ta sẽ hết khổ.

Đ� l� n�i tr�nh những điều �c. Kế đến c�n l�m th�m việc l�nh nữa. Như thế chẳng những m�nh hết khổ m� c�n được vui. V� dụ ta ra đường, thấy một đứa b� đi học, bị sẩy ch�n t�. Ta liền chạy lại đỡ n�, phủi cho sạch sẽ, rồi lượm tập vở l�n g�i gh�m đ�ng ho�ng, đưa n� �m đi. Gi�p n� qua tai nạn bất thường đ�, n� c� mang ơn m�nh kh�ng? Tự nhi�n khi b�nh tĩnh lại, n� biết c�m ơn m�nh. Ch�ng ta l�m được việc đ� c� vui kh�ng? L�m cho người ta bớt khổ, đ� l� nguồn vui của m�nh rồi. Mai chiều gặp lại, n� biết x�, biết c�m ơn, th� c�ng vui hơn.

N�n l�m được một ch�t điều l�nh l� tạo một cơ hội vui cho m�nh. M�nh vui người cũng vui. Đ� l� tu. Tr�n đường tu ch�ng ta phải hiểu thấu đ�o, tường tận � nghĩa đ�. Đừng nghĩ rằng miễn được phần m�nh th� th�i, c�n ai khổ mặc họ. Phải nghĩ rằng, tất cả đau khổ của người ch�nh l� đau khổ của m�nh. Gi�p cho người l� gi�p cho m�nh. Nhớ nghĩ như vậy, ch�ng ta sẽ vui ho�i, đi đ�u l�m g� ch�ng ta cũng vui. Ngược lại, ch�ng ta kh� l�m được c�c điều vui.

Trong l� ph�i qui y của qu� Phật tử c� bốn c�u kệ của Phật Ca-diếp:

Chư �c mạc t�c

Ch�ng thiện phụng h�nh

Tự tịnh kỳ �

Thị chư Phật gi�o.

Dịch:

Kh�ng l�m c�c điều �c

V�ng l�m c�c điều l�nh

Giữ t�m � trong sạch

L� lời chư Phật dạy.

Kh�ng l�m c�c điều �c l� giữ giới luật, ngăn ngừa kh�ng tạo c�c tội lỗi. V�ng l�m c�c điều l�nh l� sống với t�m đạo đức. Việc l�nh lớn, việc l�nh nhỏ n�o, m�nh cũng sẵn s�ng l�m, sẵn s�ng gi�p người. Đ� l� tu. Chớ c�n tu m� cứ nghĩ đi ch�a tụng kinh lạy Phật đủ rồi, ai khổ mặc họ th� chưa phải thật tu.

Ch�ng ta sống trong l�ng x� hội, n�n mỗi c�i xấu, mỗi c�i dở của x� hội đều li�n hệ, ảnh hưởng tới m�nh. Cho n�n người khổ th� m�nh cũng khổ. Người vui m�nh cũng vui. V� vậy m� chia sớt nhau cho bớt khổ để được vui. Đ� l� ch�ng ta tu trong thực tế. Đừng nghĩ chỉ c� c�ng Phật, tụng kinh mới l� tu. Hiểu như vậy l� hẹp h�i, chưa th�ng suốt.

Th�m một việc nữa, c� nhiều Phật tử biết l�m l�nh l�nh dữ, m� cứ gặp tai họa li�n mi�n. Người ấy tự nghĩ: "Cả đời m�nh l�m l�nh, m� sao nay cứ tai họa n�y, mai tai họa kia? " Nghĩ như vậy n�n thối t�m, hết muốn tu. Bởi thấy tu cũng kh�ng đi tới đ�u, khổ cũng vẫn khổ, vậy th� tu l�m chi.

T�i thường n�i, nếu qu� Phật tử chưa bao giờ bị người đ� l�m phiền, th� khi gặp mặt họ, ta c� giận kh�ng? Chắc chắn l� kh�ng. C�n nếu người đ� từng l�m phiền m�nh, th� khi gặp mặt họ, ta thấy dễ thương hay dễ gh�t? Thấy dễ gh�t ngay. Như vậy do c� sự o�n hờn, n�n khi gặp lại ch�ng ta bực bội, kh�ng vui, c� khi c�n muốn l�m cho họ đau khổ nữa. Đ� l� t�i th� dụ.

Như vậy ch�ng ta nghĩ rằng m�nh chưa từng l�m xấu, chưa từng hại người đ�, m� tại sao họ lại hại m�nh? Sự thật, hiện tại m�nh chưa từng l�m g� xấu với họ, nhưng biết đ�u những năm về trước hay những đời trước, m�nh đ� từng l�m khổ họ. B�y giờ gặp lại, tự nhi�n họ c� �c cảm với m�nh ngay. Đ�, l� v� ch�ng ta đ� gieo nh�n từ trước. Rồi cũng c� những người chưa từng l� b� con th�n quyến g� của m�nh, chưa từng l� bạn th�n của m�nh, m� tại sao thấy mặt họ ta thương liền.

Vậy t�m dễ thương dễ gh�t đối với mọi người đ� l� do đ�u? Ngay đời n�y họ chưa tạo nh�n tốt hay nh�n xấu với m�nh, nhưng nh�n đời qu� khứ c�n thừa, cho n�n gặp lại thấy dễ thương hoặc dễ gh�t ngay. Người m�nh thấy dễ gh�t đ�, người kh�c lại thấy dễ thương. Chớ nếu người ta gh�t nhau hết chắc trần gian n�y kh� c� chồng c� vợ, phải kh�ng? Như vậy để thấy rằng c� nợ nần, oan tr�i với nhau n�n mới gặp lại.

N�n nhiều người kể lại trong một x�m m� c� chị xin việc l�m, tới đ�u cũng được nhận hết. C�n c� chị xin chỗ thấp nhất cũng kh�ng được nhận. Do đ� chị o�n tr�ch x� hội bất c�ng. M� kh�ng biết tại nh�n xấu của m�nh đ� tạo từ trước. C� lẽ đời trước m�nh l�m cho nhiều người gh�t qu�, n�n b�y giờ ai thấy mặt m�nh cũng kh�ng th�m nh�n, kh�ng th�m thương. C�n chị kia từng gi�p đỡ kẻ n�y, người nọ n�n đời n�y sanh ra, ai nh�n cũng thấy dễ thương.

Như vậy dễ thương, dễ gh�t đều c� nguy�n nh�n. Nguy�n nh�n ấy từ ai? Cũng từ m�nh m� ra. Ch�ng ta hiểu được l� nh�n quả trong ba đời, th� sẽ kh�ng c�n thắc mắc điều n�y nữa. Được tốt hay bị xấu, đều c� nguy�n nh�n của n�, chớ kh�ng phải ngẫu nhi�n m� ra. Nhưng người thế gian kh�ng hiểu như vậy, do đ� cứ o�n tr�ch x� hội bất c�ng, ưu đ�i người n�y bạc đ�i người kia. Ai được ưu đ�i đều do phước l�nh của họ. Ai bị bạc đ�i đều do những tội lỗi của họ m� ra.

Hiểu như vậy ch�ng ta mới thấy sống trong cuộc đời, m�nh kh�ng o�n tr�ch, hờn giận ai hết. Người xử sự xấu, m�nh kh�ng tr�ch họ, m� tr�ch m�nh hồi xưa kh�ng kh�o tu, n�n b�y giờ bị người ta bạc đ�i. Cứ tự nhắc: "Tại hồi xưa m�nh kh�ng kh�o tu, n�n b�y giờ bị người bạc đ�i, cũng đ�ng th�i. " Đối với người được ưu đ�i, th� m�nh khen hồi xưa chị (anh) ấy kh�o tu, n�n b�y giờ được người ưu đ�i, đ� l� gương cho m�nh bắt chước. Nhờ nghĩ như vậy n�n kh�ng gh�t người được ưu đ�i, cũng kh�ng buồn v� m�nh bị bạc đ�i. Như vậy l� người biết tu.

Chẳng những giới cư sĩ m� giới xuất gia cũng vậy. C� người ở trong ch�ng ai cũng thương, c� người ai cũng gh�t. Cứ mỗi khi người ta gh�t, n�i nặng n�i nhẹ m�nh, th� m�nh tự nhủ: "Cũng phải th�i, tại hồi xưa m�nh kh�ng kh�o tu. " Như vậy sẽ kh�ng giận, kh�ng phiền ai hết. Thấy người ta được thương, m�nh mừng theo v� bắt chước, r�ng tu để về sau sẽ được như vậy. Tu l� kh�ng c� t�m o�n hờn, kh�ng c� t�m đố kỵ. Nếu kh�ng kh�o ch�ng ta cũng giống như người đời th�i. Ở trong ch�ng thấy ai được thầy thương, huynh đệ rủ nhau gh�t cay gh�t đắng người ta. Đ� l� t�m đố kỵ, rồi n�i xấu, kiếm c�ch n�y c�ch kia hại người ta. Như vậy th� thật l� tệ, kh�ng xứng đ�ng với tư c�ch một người xuất gia ch�t n�o cả. Do biết r� được l� nghiệp b�o, nh�n quả trong ba đời, ch�ng ta mới kh�ng hờn giận, kh�ng o�n tr�ch. C�n kh�ng biết th� ch�ng ta dễ hờn giận, o�n tr�ch. Như vậy l� chướng tr�n đường tu.

Đức Phật n�i ph�p Tứ đế: một l� Khổ đế, hai l� Tập đế, ba l� Diệt đế, bốn l� Đạo đế. Khổ đế l� c�i khổ của kiếp người. Sanh, gi�, bệnh, chết v. v� l� khổ. C�c thứ khổ n�y tự nhi�n hay c� nguy�n nh�n? C� nguy�n nh�n. Nguy�n nh�n l� Tập đế, nhiều thứ hợp lại th�nh nguy�n nh�n đau khổ. Biết nguy�n nh�n đau khổ rồi, ch�ng ta phải l�m sao? Phải ti�u diệt n�, cho n�n gọi l� Diệt đế. Diệt đế l� ti�u diệt hết nguy�n nh�n đau khổ. Nếu diệt hết nguy�n nh�n đau khổ, th� quả đau khổ chấm dứt. Muốn diệt hết khổ th� phải d�ng phương ph�p để ti�u diệt, đ� l� Đạo đế.

Như vậy Khổ, Tập l� nh�n v� quả của đau khổ. Diệt, Đạo l� nh�n v� quả của Niết-b�n giải tho�t. Nếu d�ng Đạo đế ti�u diệt hết nguy�n nh�n Tập đế th� ch�ng ta sẽ hết khổ. Hết khổ l� Niết-b�n, cho n�n gọi l� Diệt đế. Diệt đế l� diệt hết nguy�n nh�n đau khổ, n�n được an vui. Như vậy kinh điển Phật dạy ch�ng ta tu, phải lấy nh�n quả l�m nền tảng. C�i khổ n�o cũng c� nguy�n nh�n. Biết nguy�n nh�n rồi phải ti�u diệt nguy�n nh�n th� khổ mới hết.

Phật tử ch�ng ta thường hiểu lầm. Do ch�ng ta c� g�y tạo nh�n tham lam, n�ng giận, n�n bị người ta trả lại những nỗi đau khổ. L�c đ� m�nh cứ tr�ch ta khổ l� do người kh�c l�m ra, m� kh�ng nghĩ v� nh�n tham lam, n�ng giận của m�nh m� chuốc khổ về sau. Như vậy tu l� phải diệt nh�n tham lam, diệt nh�n n�ng giận th� khổ mới kh�ng c�n. Ba thứ tham lam, n�ng giận, si m� kh�ng c�n th� hết khổ ngay. Sở dĩ ch�ng ta c�n khổ l� v� ba thứ đ� c�n.

Như vậy muốn hết khổ phải diệt Tập nh�n g�y ra đau khổ. Diệt hết Tập nh�n đau khổ th� được an lạc. Nhưng diệt kh�ng c� nghĩa l� n�i su�ng m� phải c� phương ph�p. Phương ph�p đ� gọi l� Đạo đế. T�i thường hay n�i: "Đạo Phật l� thực tế, l� cụ thể, chớ kh�ng phải huyền b�, xa x�i. Nhưng Phật tử ch�ng ta b�y giờ biến đạo Phật trở th�nh huyền b� hết. " Tại sao?

Như qu� Phật tử biết m�nh c�n n�ng giận, c�n tham lam l� c�n đau khổ. Như vậy đau khổ l� bệnh. Bệnh đ� ph�t nguồn từ sự n�ng giận, tham lam. Như từ vi tr�ng sanh ra c�c bệnh khổ. Biết được vi tr�ng g�y bệnh rồi th� phải kiếm thuốc trị vi tr�ng. Thuốc trị vi tr�ng l� Đạo đế. Ti�u diệt được vi tr�ng l�m cho m�nh khổ th� quả khổ mới hết. V� dụ người bị bệnh r�t, b�c sĩ xem thấy bệnh n�y thuộc về vi tr�ng n�o, t�m được vi tr�ng sanh ra bệnh r�t n�y rồi mới cho toa thuốc. Bệnh nh�n theo toa thuốc ấy, mua thuốc về uống th� vi tr�ng sẽ chết, bệnh được hết. Nhưng c� người tới b�c sĩ chẩn mạch, lại kh�ng chịu xem bệnh, kh�ng chịu xin toa thuốc, m� cứ chắp tay thưa b�c sĩ: "cho t�i l�nh bệnh! " l�c đ� b�c sĩ n�i sao? Chắc b�c sĩ cũng chắp tay v�i lại: "T�i xin b�i. "

Đức Phật từng n�i Ng�i l� Vua thầy thuốc, ch�ng sanh c� bao nhi�u thứ bệnh th� Phật c� bao nhi�u thứ thuốc. Ch�ng sanh c� t�m mu�n bốn ng�n phiền n�o th� đức Phật c� t�m mu�n bốn ng�n ph�p m�n để trị. Thuốc n�o trị bệnh đ�. B�y giờ ch�ng ta tới Phật, kh�ng xin thuốc m� cứ chắp tay xin Phật cho con khỏe, cho con vui, cho con hạnh ph�c v. v� th� Phật phải l�m sao đ�y? Chắc Phật cũng lắc đầu th�i. Phật chỉ c� khả năng biết bệnh, cho thuốc, c�n phần lấy thuốc về uống l� của ch�ng ta. Đ� l� hạng người thứ nhất.

Hạng người thứ hai chịu chẩn bệnh, lấy toa, nhưng đem toa về đọc ho�i. Đọc tới đọc lui đến thuộc l�ng m� bệnh vẫn kh�ng hết. Kẻ n�y tới kiện thầy thuốc: "Sao t�i đọc toa ho�i m� kh�ng hết bệnh! " B�c sĩ sẽ n�i sao? T�i cũng b� tay lu�n. Qu� Phật tử thấy m�nh c� giống như vậy kh�ng? Phật dạy kinh để ch�ng ta biết phương ph�p tu. B�y giờ m�nh kh�ng chịu tu, m� cứ đọc kinh cho Phật nghe ho�i. Đọc một thời gian rồi n�i, sao tu mấy năm m� kh�ng hết phiền n�o! Kinh thuộc l�ng m� phiền n�o kh�ng hết. Đ� l� tại sao? Tại v� ch�ng ta giống hệt người được toa thuốc mừng qu�. C� toa thuốc hay cứ đem khoe người n�y người kia: "T�i c� toa thuốc hay" rồi đọc thuộc l�ng, như vậy hết bệnh sao được?

Tr�n đường tu ch�ng ta phải thật tu, chớ kh�ng phải chỉ tu m� bằng h�nh thức b�n ngo�i. Như kinh B�t-nh�, đa số qu� vị thuộc l�ng, c�u đầu l�: Qu�n Tự Tại Bồ-t�t h�nh th�m B�t-nh� ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng, độ nhất thiết khổ �ch. Nghĩa l� Bồ-t�t Qu�n Tự Tại khi h�nh s�u tr� tuệ B�t-nh�, Ng�i soi thấy năm uẩn đều kh�ng, liền qua hết tất cả khổ nạn. Qu� vị đọc từ trước đến giờ được mấy trăm lần rồi, m� c� qua hết khổ nạn chưa? Như vậy l� đọc toa thuốc, chớ kh�ng phải uống thuốc. Cho n�n Phật n�i lời v�ng lời ngọc, lời đ�ng sự thật, m� m�nh chỉ biết đọc lời đ�, chớ kh�ng chịu ứng dụng tu n�n kh�ng c� hiệu quả. Rồi đổ thừa tu Phật kh�ng c� kết quả. Lỗi ấy tại ai?

Trong kinh đức Phật dạy về tr� tuệ B�t-nh� c� chia l�m ba phần: Văn tự B�t-nh�, Qu�n chiếu B�t-nh� v� Thật tướng B�t-nh�. Ng�i Th�i Hư ở Trung Hoa v� Văn tự B�t-nh� như con thuyền, Qu�n chiếu B�t-nh� như ch�o, dầm hay m�y đu�i t�m. Thật tướng B�t-nh� như bờ b�n kia. Người muốn qua s�ng, đến bến đ�, c� đ� đậu sẵn, thuyền đậu sẵn. Nhưng kẻ ấy bước xuống thuyền cứ ngồi đ� ho�i, kh�ng chịu ch�o bơi, kh�ng chịu quay m�y, th� chừng n�o qua tới bờ b�n kia? Chắc tới thuyền mục rồi ch�m lu�n, chớ qua bờ kh�ng được.

Ch�ng ta học Văn tự B�t-nh� l� học lời kinh Phật dạy. Kế đến m�nh phải soi, phải xem x�t tức l� Qu�n chiếu. Qu�n chiếu l� soi s�ng lại nơi th�n t�m m�nh do ngũ uẩn gồm: sắc uẩn l� đất, nước, gi�, lửa tụ họp lại th�nh th�n; rồi thọ uẩn, tưởng uẩn, h�nh uẩn, thức uẩn, đ� l� t�m. Th�n t�m n�y l� tướng duy�n hợp. Xem cho thấu đ�o chỉ thấy n� l� một giả tướng tạm bợ, chớ kh�ng c� thật. Thấy r� r�ng như vậy, nhất định khổ �ch n�o cũng qua hết.

Th�n đ� kh�ng thật th� ai chửi c� thậ�t đ�u m� n�i tai nạn. M�nh đ� kh�ng thật th� bệnh hoạn cũng kh�ng thật. Do thấy tất cả đều kh�ng thật n�n khổ nạn n�o cũng qua hết, kh�ng c�n bị c�c thứ trở ngại. Từ kh�ng bị trở ngại, ch�ng ta mới đến được bờ b�n kia. Đ� l� Thật tướng B�t-nh�, l� chỗ giải tho�t an to�n. Như vậy người tu phải đủ ba chặng: Văn tự, Qu�n chiếu, rồi mới tới Thật tướng.

B�y giờ ch�ng ta mới chỉ c� Văn tự th�i, m� đ� h�i l�ng với chỗ Văn tự đ� rồi. Thuộc l�ng bao nhi�u kinh, cứ đem ra đọc lại cho Phật nghe. Giống hệt như đứa b� đi học, thuộc b�i rồi trả cho thầy cho c�, xong l� xếp s�ch lại. Như vậy l�m sao ch�ng ta hết khổ, l�m sao ch�ng ta qua được bờ b�n kia?

Đ� l� chỗ ch�n thật m� l�u nay ch�ng ta qu�n, cứ hiểu mơ m�ng rồi ngỡ đọc nhiều kinh l� tu giỏi. Cho n�n c� Phật tử đi ch�a năm mười năm, m� hỏi đ� hết phiền n�o chưa, th� chỉ bớt chừng hai chục phần trăm, c�n t�m chục phần trăm vẫn như cũ. Mấy c� ở ch�a cũng vậy, tu mười năm, hai mươi năm, nếu hỏi hết phiền n�o chưa, cũng kh�ng d�m n�i hết.

Tại sao ch�ng ta tu m� kh�ng hết phiền n�o? L� v� kh�ng thật t�nh ứng dụng đ�ng lời Phật dạy. Bởi kh�ng ứng dụng đ�ng n�n phiền n�o kh�ng sạch. Phiền n�o kh�ng sạch tức tội lỗi kh�ng hết. V� vậy tu m� vẫn khổ ho�i. Người đời thường nghĩ qu� thầy, qu� c� v� ch�a th� l�c n�o cũng cười, l�c n�o cũng tươi vui. Nhưng c� khi bất thần gặp một hai c� ngồi kh�c.

Đ� l� tại sao? Tại v� c�n phiền n�o, n�n chạm tới liền buồn, buồn mới kh�c. Tu m� kh�ng hết khổ l� v� tu chưa đ�ng, chưa đến nơi.

Qua ph�p Tứ đế, ch�ng ta thấy r� Phật nhắm v�o nh�n đau khổ, ti�u diệt n�, chớ kh�ng n�i ti�u diệt quả đau khổ. Trong kinh Đại B�t Niết-b�n c� b�i kệ, nguy�n văn chữ H�n:

Chư h�nh v� thường

Thị sanh diệt ph�p

Sanh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc.

N�i c�c h�nh v� thường. C�c h�nh l� th�n h�nh động, t�m � h�nh động, v� tất cả sự sanh diệt của mu�n vật đều gọi l� h�nh. C�c thứ đ� đều v� thường, đều sanh diệt cho n�n n�i chư h�nh v� thường. Qu� vị thấy như l�c ch�ng ta c�n trẻ th� đầu xanh, rồi lật bật một thời gian nh�n l�n đầu thấy v�i sợi t�c bạc. Lật bật một l�c nữa, th� thấy hết ph�n nửa t�c bạc, chẳng bao l�u sau nh�n l�n đầu như l� th�ng b�ng. Đ�, v� thường chuyển biến dần dần v� kh�ng bao giờ dừng lại.

Th�n như vậy, t�m cũng như vậy, một d�ng chuyển biến kh�ng ngừng. Mu�n sự mu�n vật ở trước cũng vậy. Như ng�y nay ch�ng ta x�y được căn nh� b� t�ng, thấy chắc biết mấy. Nhưng năm mươi năm sau n� cũng phải hư. C� c�i g� kh�ng đổi dời, kh�ng biến chuyển đ�u. Biết r� như vậy th� sự vật l� thật hay kh�ng thật. Nếu thật th� n� phải nguy�n vẹn, kh�ng đổi thay; c�n n� đổi thay th� hết thật rồi. Cho n�n c�c h�nh l� v� thường l� ph�p sanh diệt.

Như vậy mu�n sự mu�n vật ở tr�n thế gian l� v� thường, l� sanh diệt. Nếu l� v� thường, l� sanh diệt tức l� đau khổ. Gi� l� khổ, bệnh l� khổ, chết l� khổ. Ch�nh v� v� thường đ� m� đi tới bại hoại, bại hoại l� đau khổ. Cho n�n v� thường l� nh�n đưa đến quả đau khổ. V� n� l� ph�p sanh diệt cho n�n ch�ng ta kh�ng c�n m�i m�i như vậy được.

Sanh diệt diệt dĩ, l� sanh diệt m� diệt rồi th� tịch diệt vi lạc, tức lặng lẽ l� vui. Lặng lẽ đ� l� Niết-b�n. Khi c�i v� thường sanh tử lặng, th� Niết-b�n an lạc, tức c�i v� sanh mới l� an lạc ch�n thật. Như vậy Phật dạy ch�ng ta tu từ ph�p sanh diệt chuyển lần đến v� sanh. Sanh diệt l� đau khổ, v� sanh l� an vui. Thế th� tu Phật l� t�m vui hay t�m khổ? M� muốn t�m vui th� trước phải biết khổ. Biết khổ mới t�m vui. Chớ c�n ở trong khổ m� kh�ng biết khổ; trong khổ m� nghĩ l� vui, th� đ�u chịu bỏ khổ.

Cho n�n đức Phật n�i khổ để ch�ng ta nhận thức ch�n chắn cuộc đời l� đau khổ, ch�ng ta mới cố gắng ti�u diệt nh�n đau khổ. Diệt hết nh�n đau khổ th� mới thật l� vui. Như vậy c� thể kết luận đạo Phật bi quan kh�ng? Nếu từ khổ đi tới hết khổ, th� đạo Phật l� đạo diệt khổ, đưa ch�ng ta tới chỗ an vui. Vậy m� nhiều người mới nghe đạo Phật n�i Khổ đế - cuộc đời l� đau khổ - liền n�i đạo Phật bi quan! M� kh�ng ngờ n�i khổ l� chỉ cho ch�ng ta nhận thức như vậy, để phăng t�m v� ti�u diệt nguy�n nh�n của n� th� đau khổ hết. Đau khổ hết th� được an vui vĩnh viễn, gọi l� vui Niết-b�n.

Ch�ng ta l� những h�nh giả đang cố gắng, đang vươn l�n tới mục đ�ch an vui giải tho�t. Cũng như người leo n�i, từ dưới ch�n n�i muốn leo tới ch�p n�i, th� l�c đầu l� khổ hay vui? L� nhọc nhằn, l� khổ. Nhưng khi l�n đến ch�p n�i rồi, ngồi y�n lặng h�ng gi� m�t liền nghe khỏe, thảnh thơi. Như vậy đang leo n�i l� khổ, nhưng đến ch�p n�i l� vui. Cho n�n tr�n đường tu, ch�ng ta chịu kh�, chịu cực l�m cho m�n, cho tan vỡ c�c nh�n đau khổ, khi hết nh�n đ� ch�ng ta sẽ được an vui. C�ng phu đ� gọi l� tu h�nh.

Nhiều người nghe n�i tu h�nh liền nghĩ m�o m� l� tu th� phải bị h�nh. N�n họ bảo v� ch�a tu phải thức khuya, dậy sớm, tụng kinh ngồi thiền, phải ăn muối ớt, muối ti�u, hoặc chịu đ�i chịu kh�t, vậy mới l� tu, v� tu l� h�nh m�. Chữ tu h�nh nghĩa l� tu phải thực h�nh lời Phật dạy, chớ kh�ng phải tu h�nh l� h�nh phạt.

Để kết th�c b�i n�y t�i dẫn lời Thiền sư M�n Gi�c đời L�, để nhắc cho qu� vị thấy kinh Phật v� lời Tổ kh�ng hai, kh�ng kh�c. L�c Ng�i gần tịch, Ng�i l�m một b�i thơ:

Xu�n khứ b�ch hoa lạc

Xu�n đ�o b�ch hoa khai

Sự trục nh�n tiền qu�

L�o t�ng đầu thượng lai

Mạc vị xu�n t�n hoa lạc tận

Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai

Như vậy b�i kệ tr�n c� giống b�i kệ n�y kh�ng? Một b�n l� chư h�nh v� thường, một b�n n�i Xu�n khứ b�ch hoa lạc, xu�n đ�o b�ch hoa khai. Xu�n khứ tức l� m�a xu�n đi rồi th� trăm hoa rụng. M�a xu�n đến th� trăm hoa nở. Như vậy hoa rụng, hoa nở, theo d�ng thời gian xu�n, hạ, thu, đ�ng. Thời gian chuyển biến th� sự vật theo đ� cũng chuyển biến. Thời gian l� v� thường, sự vật cũng v� thường. Như vậy mu�n vật trong c�i đời n�y đều chuyển biến như một d�ng nước. N� cứ tr�i đi kh�ng dừng.

Hai c�u kế Sự trục nh�n tiền qu�, l�o t�ng đầu thượng lai. C�y cỏ hoa l� theo thời tiết đổi thay, phai t�n sanh trưởng, th� con người theo thời tiết cũng như vậy. Mới ng�y n�o t�c xanh, b�y giờ ng� lại tr�n đầu t�c đ� bạc rồi. Như vậy kh�ng c� g� dừng lại được. Bốn c�u thơ n�y n�i l�n d�ng đời l� một d�ng sanh diệt đổi thay. Con người cũng theo đ� m� thay đổi kh�ng dừng. Nhưng hai c�u kết rất l� th�:

Mạc vị xu�n t�n hoa lạc tận

Đ�nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

Chớ bảo m�a xu�n qua rồi th� hoa rụng hết, bởi v� đ�m h�m ở trước s�n, c�n một c�nh mai nở trắng x�a. Hoa theo thời m� rụng, tức m�a xu�n th� hoa nở, hết xu�n th� hoa rụng. Đến m�a đ�ng l� m�a t�n tạ nhất. Tuy t�n tạ kh�ng c�n hoa, nhưng sự thật, đừng hiểu lầm rằng kh�ng c�n một hoa n�o nở, v� c� một c�nh mai nở trắng x�a trước ch�a. C�nh mai đ� để n�i l�n điều g�? Để n�i rằng nơi m�nh c�n c� c�i ch�n thật. C�i ch�n thật đ� kh�ng bị thời gian cuốn đi. C�i ch�n thật đ� kh�ng bị v� thường sanh diệt b�o m�n, n� vẫn nguy�n vẹn ở nơi m�nh như c�nh mai nở v�o m�a đ�ng.

Ch�ng ta thấy c�i nh�n của c�c Thiền sư đ�ng như c�i nh�n của chư Phật. Phật n�i sanh diệt diệt rồi, tịch diệt l� vui. Tới chỗ lặng lẽ ch�n thật, c�i đ� kh�ng mất, c�i đ� mới l� thật. Ở đ�y cũng vậy, bản th�n con người, bản th�n sự vật bị thời gian l�i k�o, v� thường sanh diệt; nhưng trong đ� c� một c�i chưa bị thời gian chi phối, chưa bị tất cả ph�p l�m cho sanh diệt. N� c�n vẹn to�n giống như một c�nh mai m�a đ�ng. V� thế ch�ng ta mới tu, chớ nếu sanh diệt hết th� c�n g� để tu.

           Trong c�i sanh diệt c� c�i chưa từng sanh diệt. Nh� thiền thường hay v� dụ h�nh ảnh hoa sen trong lửa. Trong l� lửa ch�y hừng hực, m� hoa sen vẫn tươi thắm, đ� l� sao? L� lửa chỉ cho th�n n�y v� thường, cảnh đời v� thường, đổi thay giống như l� lửa đang thi�u đốt. Tuy nhi�n trong đ� c� một c�nh hoa sen tươi thắm, kh�ng bị thứ g� l�m cho n� kh� h�o hết. Đ�y l� chỉ cho c�i thật m�nh, n� sẵn c�, vượt qua hết tất cả v� thường, tất cả sanh diệt. Do đ� ch�ng ta mới c� khả năng thắng hết, qua hết c�c v� thường để trở về c�i ch�n thường ch�n lạc. Đ� l� mục đ�ch ch�nh của người tu ch�ng ta vậy.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]