Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập III)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


CHỮ KH�NG

TRONG B�I KINH B�T NH�

Ch�a Tam Bảo H� Ti�n - 1999.

 

Đề t�i t�i n�i h�m nay l� chữ Kh�ng trong b�i kinh B�t Nh�. Tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử đến ch�a thường đọc tụng thuộc l�ng b�i kinh B�t Nh�. Học kinh B�t Nh� m� kh�ng hiểu chữ Kh�ng của kinh B�t Nh� sẽ dẫn đến hiểu lầm, c� thể đ�m ra hoang mang. Tại sao vậy? Bởi v� trong ch�a thường n�i c�u "chẳng th� chấp c� bằng n�i Tu Di, chớ n�n chấp kh�ng bằng hạt cải. "

Người tu chấp c�, kh�ng thể tột được l� đạo. Nhưng d� chấp c� nhiều như n�i Tu Di vẫn kh�ng tai hại như chấp kh�ng bằng hạt cải. Đ� l� tai họa lớn. V� vậy người xưa hay nhắc nhở ch�ng ta đừng n�n chấp kh�ng, thế m� trong B�t Nh� n�i c�i g� cũng kh�ng hết. Kh�ng mắt, tai, mũi, lưỡi, th�n, �, kh�ng sắc, thinh, hương, vị, x�c v. v� Trong kinh n�i kh�ng m� c�c vị tiền bối bảo đừng chấp kh�ng. Vậy hai chữ kh�ng đ� kh�c nhau chỗ n�o? Đ�y l� điều t�i muốn giảng trạch cho tất cả Tăng Ni, Phật tử nắm cho vững, để đường tu ch�ng ta kh�ng bị trở ngại lại c�n c� thể tiến nhanh hơn.

Muốn biết chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh� hay cả hệ thống B�t Nh�, trước hết ch�ng ta phải nắm thật vững gi�o l� nh�n duy�n. Người kh�ng nắm vững gi�o l� nh�n duy�n th� kh�ng bao giờ hiểu được chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh�. Chữ Kh�ng của B�t Nh� đứng vững l� dựa tr�n l� nh�n duy�n, nếu l� nh�n duy�n l� ch�n l� th� chữ Kh�ng cũng sẽ l� ch�n l�.

Trước hết ch�ng ta thử xem x�t c�c ph�p tr�n thế gian n�y c� ph�p n�o kh�ng phải nh�n duy�n sanh hay kh�ng? Như ch�ng ta nh�n thấy ng�i ch�a, vậy ng�i ch�a từ đ�u m� th�nh? Ai cũng biết đều do nh�n c�ng, thợ, thầy, gạch, c�t, đ�, xi măng v. v� hợp lại th�nh ng�i ch�a. Chớ kh�ng bao giờ bỗng dưng n� tự th�nh, phải đủ nh�n, đủ duy�n hội hợp mới c�. Nh�n duy�n th� kh�ng phải một thứ m� rất nhiều thứ tụ hợp lại th�nh sự vật. Cũng vậy, tất cả mu�n sự mu�n vật tr�n thế gian n�y c� c�i n�o vượt ngo�i v�ng nh�n duy�n đ�u.

Gần đ�y c�c nh� khoa học khi t�m hiểu đạo Phật, thấy r� chủ trương c�c ph�p do nh�n duy�n sinh của đạo Phật rất ph� hợp với khoa học. Bởi v� khoa học l� m�n học ph�n t�ch sự vật, m� ph�n t�ch sự vật th� kh�ng vật n�o tự n� c�, tất cả đều do sự kết hợp nhiều th�nh phần m� c�. Như vậy vật n�o cũng kh�ng đơn độc một nh�n một duy�n c� thể th�nh. M� ch�ng rất phức tạp, do nhiều nh�n nhiều duy�n tụ lại. Ch�ng ta mới thấy c�i nh�n của đức Phật hơn hai ng�n năm về trước r� r�ng, tường tận như thế n�o.

Sự vật kh�ng tự c�, kh�ng phải ngẫu nhi�n c�, cũng kh�ng do ai l�m ra, chỉ khi nh�n duy�n tụ hội th� sự vật hiện c�, thiếu duy�n th� sự vật ly t�n. Gi�o l� Phật chỉ r� cho ch�ng ta kh�ng c�n m� lầm, nghĩ rằng sự vật do người n�o hoặc ngẫu nhi�n n� c�. Từ c�i nh� ch�ng ta nh�n tới c�i b�n, c�i ghế, vật n�o kh�ng phải từ nh�n duy�n sinh? C�y cối trước mắt ch�ng ta cũng l� nh�n duy�n sinh, rồi đến con người c� phải từ nh�n duy�n sinh kh�ng? Nếu n�i đơn giản l� do tinh cha huyết mẹ kết tụ lại th�nh th�n con người. Ng�y nay với con mắt y học, người ta ph�n t�ch c� bao nhi�u tỷ tế b�o, ph�n ra từng loại rồi phối hợp lẫn nhau. Nhờ ch�ng phối hợp sinh hoạt, ph�t triển th� th�n ch�ng ta c�n sống, nếu ch�ng hư hoại th� th�n n�y tan n�t. Như vậy tất cả sự vật tr�n thế gian kh�ng c� c�i n�o tho�t ngo�i l� nh�n duy�n.

Như x�t c�i đồng hồ, vật g� l� chủ thể của n�? Ch�ng ta kh�ng thể n�i c�y kim l� chủ thể, số l� chủ thể. Bộ phận n�o l� chủ thể cũng kh�ng được, m� do đủ c�c bộ phận r�p lại th�nh c�i đồng hồ. Như vậy duy�n hợp th� n� c�, nếu c�c bộ phận ph�n t�n ra th� đồng hồ cũng kh�ng. Trước mắt ch�ng ta thấy c� đồng hồ, nhưng thực thể c�i đồng hồ c� hay kh�ng? Chỉ l� duy�n hợp tạm c� chớ kh�ng thật, v� n� kh�ng c� chủ thể. Bởi kh�ng c� chủ thể n�n đủ duy�n n� c�n, thiếu duy�n n� mất, kh�ng c� g� cố định hết. Như vậy l�m sao n�i đồng hồ l� thật được. Đ� kh�ng thật th� c�i g� l� chủ thể của n�, chẳng qua duy�n hợp tạm c�, duy�n hết ho�n kh�ng.

Trong kinh A H�m đức Phật c� dạy, người n�o thấy được l� nh�n duy�n th� người đ� thấy được ph�p. Thấy được ph�p tức l� thấy đạo hay thấy Phật. Qua đ� ch�ng ta thấy tầm quan trọng của l� nh�n duy�n như thế n�o rồi. Cũng như vậy, con người do nh�n duy�n sinh n�n kh�ng chủ thể, kh�ng cố định. Mu�n vật tr�n thế gian n�y do nh�n duy�n sinh cũng kh�ng chủ thể, kh�ng cố định. Tuy kh�ng cố định, kh�ng chủ thể nhưng đồng hồ vẫn c�, đủ duy�n th� n� hiện tiền. Hiểu l� n�y rồi ch�ng ta mới bước qua bước thứ hai l� chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh�.

Ch�ng ta đừng lầm chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh� l� trống rỗng, kh�ng c� g� hết. Kh�ng l� đối với c�. Nhưng chữ Kh�ng đ�y l� ngay nơi sự vật hiện tiền mắt thấy, tay sờ m� được song chủ thể n� l� kh�ng, kh�ng cố định. Như vậy d� mắt thấy, tay sờ m� được m� n�i l� Kh�ng, đ� l� kh�ng chủ thể, kh�ng cố định. B�t Nh� n�i Kh�ng v� n� do nh�n duy�n sinh n�n kh�ng chủ thể. Cho n�n chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh� c�n gọi l� t�nh Kh�ng. Hệ thống B�t Nh� gọi đ� l� tự t�nh Kh�ng. Tức l� kh�ng c� chủ thể, kh�ng tự t�nh nhưng sự vật vẫn c� giả tướng của n� khi đủ duy�n tụ hội.

Con người ch�ng ta cũng do nh�n duy�n sinh, kh�ng c� chủ thể, cố định. Vậy gọi ta được kh�ng? Chỉ l� c�i ta tạm bợ, c�n mất theo duy�n, kh�ng c� gi� trị thật. Thế m� l�u nay ch�ng ta cứ lầm nhận ta l� thật, sự vật l� thật. Nh� Phật gọi lầm nhận đ� l� v� minh, l� si m�. Người học Phật phải c� tr� tuệ s�ng suốt, thấy đ�ng như thật. Những g� Phật dạy ch�ng ta qu�n s�t, thấu suốt mới đem ra hướng dẫn chỉ dạy cho người kh�c, chớ kh�ng phải học hiểu su�ng m� thấy được lẽ thật.

Ch�ng ta thử nghiệm lại th�n m�nh c� phải l� tạm bợ hay kh�ng? Nếu th�n chắc chắn ch�n thật th� kh�ng bao giờ hoại. V� do duy�n hợp n�n thiếu duy�n th� n� sanh ra bệnh tật rồi đi đến bại hoại. Đ� l� lẽ thật, kh�ng c�n g� nghi ngờ nữa. V� vậy chữ Kh�ng của B�t Nh� l� kh�ng c� thực thể, chớ kh�ng phải kh�ng ngơ giữa c� v� kh�ng. Người ta cứ ngỡ c�i b�n trước mắt l� c�, hư kh�ng trống rỗng l� kh�ng. Đ� l� c�i c� kh�ng của người đời, c�n Kh�ng của B�t Nh� l� kh�ng tự t�nh, kh�ng tự t�nh tức l� kh�ng thực thể. V� vậy đức Phật n�i th�n n�y v� ng�. V� v� ng� n�n kh�ng chủ thể, bởi kh�ng chủ thể n�n t�y duy�n m� th�nh, t�y duy�n m� hoại, kh�ng phải l�c n�o cũng nguy�n vẹn. Đ� l� � nghĩa cụ thể của đạo Phật.

Ch�ng ta thấy r� � nghĩa của chữ Kh�ng rồi th� đối với sự vật hiện tiền mắt thấy, tay sờ m� được l� thật c� hay thật kh�ng? N�i thật c� hay thật kh�ng đều sai cả v� n� tạm bợ, chỉ c� giả tướng hiện tiền. Như vậy phải n�i sao? N�i c�c ph�p kh�ng thật c�, do duy�n sinh, chỉ tạm c� n�n nh� Phật gọi như huyễn, như h�a. Đến đ�y t�i nhớ Thiền sư Từ Đạo Hạnh ở đời L� c� b�i kệ:

T�c hữu trần sa hữu

Vi kh�ng nhất thiết kh�ng Hữu kh�ng như thủy nguyệt

Vật trước hữu kh�ng kh�ng.

Tạm dịch:

C� th� mu�n sự c�

Kh�ng th� tất cả kh�ng

C� kh�ng trăng đ�y nước

Đừng mắc c� kh�ng kh�ng.

Ng�i Từ Đạo Hạnh diễn đạt h�nh ảnh cho ch�ng ta thấy rất linh động. Tất cả sự vật nếu n�i c� th� vật n�o cũng c� hết. Tại sao? V� tr�n giả tướng mắt thấy, tay sờ m� được. C�n nếu n�i kh�ng th� tất cả đều kh�ng hết, v� ch�ng l� duy�n hợp kh�ng thật. Kh�ng thật n�n n�i l� kh�ng. Như vậy n�i c� v� kh�ng giống như mặt trăng dưới đ�y nước. Đ�m rằm ta nh�n xuống hồ nước, thấy mặt trăng hiện dưới đ�y nước. Mặt trăng ở đ�y nước l� thực c� hay thực kh�ng? Nếu thực c� sao đưa tay vớt l�n kh�ng được. Nếu thực kh�ng sao mắt ch�ng ta thấy r� r�ng. N�n gọi l� c� m� chỉ l� c�i b�ng, chớ kh�ng phải kh�ng ngơ. Nhưng l� b�ng th� n� kh�ng thật.

Mu�n sự vật ở thế gian n�y cũng như b�ng trăng đ�y nước, nh�n thấy như c� nhưng rốt cuộc kh�ng thực thể. Cho n�n c� cũng như kh�ng, chỉ v� duy�n hợp tạm c�. Người ta cứ ngỡ rằng những g� mắt thấy tai nghe l� thực c�, nhưng kh�ng ngờ ch�ng l� duy�n hợp. Đ� l� duy�n hợp, ch�ng ta đừng lầm chấp n� thật th� sẽ kh�ng đau khổ. Đ�y l� chỗ kh� của người học Phật. Nếu thấy được l� n�y th� ch�ng ta sẽ thấy đạo Phật hay đ�o để.

Ch�ng ta tu kh� khăn v� ch�ng ta thấy c�i g� cũng thật n�n dễ nhiễm, dễ kẹt. Nhiễm kẹt th� sự tu kh�ng tiến, c�n thấy c�c ph�p kh�ng thật th� ch�ng ta kh�ng c� g� để chấp, m� kh�ng chấp th� đường tu hết sức dễ d�ng. Cho n�n si m� l� động cơ chủ yếu đưa ch�ng ta đến chỗ sai lầm. Từ sai lầm đ� khiến ch�ng ta kh�ng thấy lẽ thật, rồi bị ch�m đắm trong sinh tử, kiếp n�y kiếp nọ kh�ng c�ng. Tuy nhi�n những thứ đ� cũng l� tướng duy�n hợp kh�ng thật. Nhưng kh�ng kh�o tu ch�ng ta sẽ kh�ng ra khỏi n�, chỗ n�y rất l� quan trọng.

T�i nhấn mạnh lại chữ Kh�ng trong kinh B�t Nh� tức l� t�nh kh�ng của c�c ph�p. Từ con người cho tới mu�n vật đều giả c�, kh�ng c� thực thể. Đ� l� giả c� m� ch�ng ta thấy thật th� đ� l� m� lầm, giả c� m� n�i kh�ng th� tr�i với lẽ thật. V� vậy kh�ng thể khẳng định l� kh�ng. Phải biết mu�n sự mu�n vật trước mắt ch�ng ta l� tướng duy�n hợp giả c�.

Kinh B�t Nh� c� c�u: "Qu�n Tự Tại Bồ T�t h�nh th�m B�t nh� ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Kh�ng, độ nhất thiết khổ �ch". Nghĩa l�, Bồ T�t Qu�n Tự Tại khi thực h�nh s�u v�o tr� tuệ B�t Nh�, Ng�i xem thấy tất cả sự vật, tất cả ph�p hay n�i gọn l� con người gồm năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, h�nh, thức đều kh�ng c� thực thể, kh�ng cố định. Khi thấy như vậy Ng�i liền qua hết thảy khổ nạn.

Ng�y nay ch�ng ta tụng kinh B�t Nh� từ l�c mới v�o ch�a cho tới năm s�u mươi tuổi, biết bao nhi�u biến? Trăm ng�n biến m� khổ �ch vẫn l� khổ �ch. Bởi v� tụng B�t Nh� th� tụng m� nh�n thấy th�n năm uẩn thật. Nếu thấy th�n năm uẩn duy�n hợp hư dối th� c� ai chửi th�n năm uẩn n�y ch�ng ta thấy sao? Th�n năm uẩn đ� kh�ng thật th� lời chửi c� thật đ�u. Chẳng qua cũng l� tạm bợ hư giả th�i. M�nh hư giả, người hư giả, lời n�i hư giả, c� g� m� khổ, c� g� m� phiền. Cho tới tất cả những thiệt th�i, khổ sở kh�c, nếu x�t kỹ ch�ng c� thật kh�ng? Cũng kh�ng thật. Như vậy c� g� l�m ch�ng ta khổ sở đ�u? Chỉ cần d�ng tr� tuệ B�t Nh� soi thấu mu�n sự vật, soi thấu lại bản th�n m�nh đều l� duy�n hợp hư giả. Thấy được như vậy th� khổ �ch n�o cũng qua hết.

Như vậy ch�ng ta chỉ cần tụng một c�u đ� cũng hết khổ rồi, đ�u cần phải tụng nhiều. Chủ yếu l� biết vận dụng lời Phật dạy v�o việc tu của m�nh. Lời Phật dạy rất ch� l� nhưng ch�ng ta cứ đọc thuộc l�ng. Đọc lại cho Phật nghe phải kh�ng? Ch�ng ta đọc kinh đ�ng ra l� đọc cho m�nh nhớ v� thực h�nh theo lời Phật dạy. Nhưng thường Phật tử cứ nghĩ rằng đọc như vậy c� phước. Đọc hai lần phước nhiều hơn một ch�t. Do kh�ng biết lời Phật dạy để ứng dụng qu�n chiếu lại bản th�n v� mọi vật chung quanh, thấu triệt được lẽ thật của n� n�n ch�ng ta cứ đọc cho Phật nghe ho�i, c�n m�nh th� kh�ng d�nh d�ng g� hết. Phật n�i chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng độ nhất thiết khổ �ch, ch�ng ta tụng ho�i sao kh�ng qua được khổ �ch? Bởi v� c� chiếu kiến đ�u! Chiếu kiến l� soi s�ng, m� ch�ng ta kh�ng chịu soi s�ng th� l�m sao thấu tỏ được. Đ� l� lầm lẫn của ch�ng ta.

Đức Phật dạy th�n n�y được kết hợp từ năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, h�nh uẩn, tưởng uẩn, thức uẩn. Sắc uẩn l� tứ đại đất nước gi� lửa hợp lại. Thọ uẩn l� những cảm gi�c của ch�ng ta như đang n�ng c� ngọn gi� thổi qua nghe m�t, cảm gi�c ấy gọi l� thọ. Lưỡi ch�ng ta nếm một m�n ăn nghe ngọt, nghe đắng v. v� cảm gi�c ấy l� thọ. Mắt ch�ng ta nh�n thấy người thấy vật, nhận ra đẹp xấu. Th�n x�c chạm sanh th�ch hoặc ch�n v. v� Đ� l� cảm gi�c của thọ. S�u căn tiếp x�c s�u trần c� cảm gi�c khổ vui, kh�ng khổ kh�ng vui. Đ� gọi l� thọ. Tưởng uẩn l� t�m m�nh tưởng tượng việc qu� khứ vị lai. H�nh l� suy tư, những � niệm nhẹ nh�ng tế nhị. C� chỗ n�i h�nh cũng l� � ch�. � ch� vươn l�n hay � ch� mạnh mẽ. Thức uẩn, ph�n biệt c�i n�y tốt, c�i kia xấu, c�i n�y phải, c�i kia quấy v. v�

Như vậy th�n ch�ng ta c� năm phần. Một phần thuộc về sắc chất, bốn phần kia thuộc về tinh thần. C� chỗ kh�c lại chia th�n n�y do bốn thứ hợp lại l� sắc. Sắc đ� gồm bốn thứ đất nước gi� lửa. Phần tinh thần bốn thứ: thọ, tưởng, h�nh, thức. Hai thứ cộng lại th�nh t�m thứ đều nhau.

T�m lại, th�n n�y từ vật chất cho đến tinh thần đều do duy�n hợp, kh�ng c� g� cố định. Xưa Thiền sư Lương Giới, Tổ t�ng T�o Động, l�c mới cạo t�c v�o ch�a, đọc kinh B�t Nh�, Ng�i thấy kinh n�i: "V� nh�n, nhĩ, tỹ, thiệt, th�n, �; v� sắc, thinh, hương, vị, x�c, ph�p", Ng�i bạch với thầy:

- Con c� mắt tai mũi lưỡi th�n �, nhưng sao trong kinh n�i kh�ng c�. Nghĩa n�y thế n�o?

Vị thầy lắc đầu bảo Ng�i đi t�m học chỗ kh�c, v� thầy giải nghĩa kh�ng nổi. Người học đạo thấy kinh n�i sao l� hay như vậy, kh�ng thắc mắc t�m hiểu nghĩa l� th� ch�ng ta kh�ng tiến bộ được. Ng�i Lương Giới đọc kinh kh�ng hiểu liền sinh nghi n�n Ng�i phăng t�m cho ra. Sau n�y ngộ đạo Ng�i mới thấy được l� ch�n thật của Phật dạy. Tất cả lời Phật dạy kh�ng c� c�u n�o, lời n�o l� v� � v� nghĩa, tất cả đều chỉ lẽ thật cho ch�ng ta. Nhưng v� tr�nh độ thấp n�n ch�ng ta kh�ng nắm vững th�nh ra cứ m� muội m�i.

Trong kinh B�t Nh� c� đoạn: "Tướng kh�ng của c�c ph�p kh�ng nhơ, kh�ng sạch, kh�ng th�m, kh�ng bớt v. v�" cho tới kh�ng mắt tai mũi lưỡi th�n �, rồi kh�ng cả sắc thinh hương vị x�c ph�p v. v� tất cả đều kh�ng. Như vậy t�nh Kh�ng l� thực thể kh�ng của c�c ph�p. Tr�n phương diện kh�ng thực thể th� kh�ng c� ph�p g� c� thật cả, n�n n�i kh�ng tất cả. Ngũ uẩn kh�ng, thập nhị xứ kh�ng, thập b�t giới kh�ng v. v�

Tới đoạn sau "v� v� minh tận, v� khổ tập diệt đạo, v� tr� diệc v� đắc". Nghĩa l� tất cả ph�p như năm uẩn, mười hai xứ, mười t�m giới. Năm uẩn l� chỉ th�n n�y, mười hai xứ tức l� s�u căn v� s�u trần, mười t�m giới l� căn trần thức cộng lại l� mười t�m. Vậy th� th�n n�y, t�m thức n�y v� trần cảnh n�y tr�n t�nh Kh�ng đều kh�ng c�, kh�ng thực thể. Về thế tục đế, những thứ n�y kh�ng thật c�.

C�n như ph�p Thập nhị nh�n duy�n, Tứ đế lẽ ra nhất định phải c�. V� Phật n�i ph�p Tứ đế l� ch�n l�, kh�ng thể sai chạy, ph�p nh�n duy�n cũng ch�n l�, kh�ng thể sai chạy được. Nhưng tại sao kinh B�t Nh� n�i cũng kh�ng lu�n, như vậy ch�ng ta tu c�i g�? Điểm n�y c� nhiều người thắc mắc. Kh�ng khổ tập diệt đạo, kh�ng v� minh v� kh�ng hết v� minh v. v� th� ch�ng ta tu l�m sao đ�y?

T�i thường hay nhắc, ph�p của Phật dạy l� phương thuốc trị t�m bệnh của ch�ng sanh. Ch�ng sanh c� bệnh g� Phật c� thứ thuốc ấy. Vậy nếu bệnh kh�ng thật th� thuốc c� thật kh�ng? Th�n ngũ uẩn n�y kh�ng thật tức l� bệnh kh�ng thật. Thuốc l� để trị bệnh, bệnh đ� kh�ng thật th� thuốc l�m g� c� thật. R� r�ng ph�p của Phật dạy chỉ l� phương tiện trị bệnh cho ch�ng sanh. Nếu ch�ng sanh hết bệnh th� thuốc cũng kh�ng d�ng. Ch�ng sanh kh�ng thực thể th� thuốc cũng kh�ng thực thể.

Người đời thường nghĩ lời ph�m tục kh�ng thật, c�n lời Phật dạy l� ch�n l�, l� thật. Nhưng sự thật Phật chỉ t�y theo bệnh của ch�ng sanh m� dạy, gi�p họ giải trừ được căn bệnh của m�nh, chớ ng�n ngữ  ấy cũng kh�ng thật. Cho n�n n�i kinh điển như ng�n tay chỉ mặt trăng hay chiếc b� đưa người qua s�ng v. v� Hiểu như vậy ch�ng ta mới kh�ng nghi. Tất cả ph�p thế gian (tục đế) v� ph�p xuất thế gian (ch�n đế) đều kh�ng c� thực thể, chỉ l� giả tướng tạm bợ, đối bệnh cho thuốc th�i. Thấy r� như vậy n�n kh�ng chấp, sẽ đi tới chỗ cứu k�nh Niết B�n, kh�ng c�n m� lầm nữa.

Thấy được chữ Kh�ng của B�t Nh� rồi th� ch�ng ta dễ tu. Bởi v� ch�ng ta đang mắc bệnh chấp kh�ng. N�i tất cả ph�p kh�ng c� chủ thể liền chấp kh�ng ngơ. Nếu ai chấp kh�ng ngơ l� lầm, bởi sự vật đang c� giả tướng hiện tiền l�m sao n�i kh�ng được. Cho n�n ch�ng ta phải hiểu r�, Kh�ng l� kh�ng chủ thể, kh�ng cố định, chớ lầm l� kh�ng ngơ. Hiểu như vậy ch�ng ta sẽ kh�ng c�n chấp nữa.

Tất cả sự vật đến với ta, ta kh�ng chấp th� dễ tu biết mấy. M�nh c� phải khổ sở để dẹp n�ng giận, dẹp phiền n�o kh�ng? Sở dĩ ch�ng ta phiền n�o, ch�ng ta n�ng giận l� v� ch�ng ta chấp n� thật. Nếu biết r� n� kh�ng thật, chỉ tạm bợ do duy�n hợp th� c� g� m� chấp. Do kh�ng chấp n�n thảnh thơi tự tại đi giữa cuộc đời m� ch�ng ta kh�ng d�nh mắc g� cả.

Như vậy Phật độ ch�ng ta hết khổ, hay ch�ng ta d�ng tr� tuệ thấy mu�n sự vật xảy đến với m�nh kh�ng thật, liền vượt qua c�c khổ. Nỗi khổ kh�ng ai cứu ta được m� do ta nhận ra ch�n tướng của n� kh�ng thật th� c� g� l�m ta phiền h�, khổ sở nữa! Thấy tường tận đạo l� th� kh�ng c�n chấp. N�n nhớ chấp l� gốc từ si m�, l� nh�n của đau khổ. Nhờ tr� tuệ s�ng kh�ng chấp n�n đau khổ cũng kh�ng c�n. Tụng một b�i kinh B�t Nh� m� thấu triệt rồi th� ch�ng ta tự tại đi trong cuộc đời. Đ� l� điều chắc chắn vậy.

Nhưng sẽ c� người n�i thế n�y, Phật dạy c�c ph�p hư giả tạm bợ như kinh Kim Cang n�i: "Nhất thiết hữu vi ph�p, như mộng huyễn b�o ảnh". Nếu mọi thứ đều tạm bợ huyễn h�a hết th� kh�ng cần l�m g� nữa. Cuộc đời cứ thả tr�i th� x� hội sẽ ra sao? Đ�y l� nghi vấn của nhiều người hiện nay. Thật ra người tu Phật phải c� đủ hai mặt: Một l� tr� tuệ tức tr� B�t Nh�, hai l� từ bi.

Ch�ng ta qu�n s�t thấy r� t�nh c�c ph�p l� kh�ng, do duy�n hợp tạm c�, thấy tường tận như vậy l� ch�ng ta c� tr� tuệ B�t Nh�. Nhưng giả sử cạnh ta c� người đ�i khổ, ch�ng ta cũng bỏ mặc chỉ ngồi cười th�i, kh�ng l�m g� hết, như vậy trở th�nh kh� khan ti�u cực. Cho n�n phải ph�t t�m từ bi. Phật dạy c� tr� tuệ m� kh�ng c� từ bi l� c�n tuệ tức tr� tuệ kh�. V� vậy tr� tuệ phải c� từ bi th� tr� tuệ ấy mới tươi nhuần. C�n từ bi m� thiếu tr� tuệ th� gọi l� từ bi m�, n�n ch�ng ta tu Phật phải c� đủ từ bi v� tr� tuệ.

Bởi v� c� tr� tuệ rồi chẳng lẽ ngồi kh�ng, ai khổ mặc họ kh�ng cần biết đến? Như vậy l� �ch kỷ, kh�ng c� lợi �ch g� cả. Cho n�n người tu phải ph�t t�m từ bi, ch�ng sinh tuy hư giả nhưng lại kh�ng biết hư giả. V� vậy họ khổ, ch�ng ta phải thương, phải cứu họ, l�m cho họ hết khổ. Như vậy nhờ tr� tuệ ph� kiến chấp sai lầm, ph� ngu muội tăm tối. Nhờ l�ng từ bi thương người m� lầm, ta chỉ cho họ thấy được lẽ thật, kh�ng c�n chấp, kh�ng c�n đau khổ nữa. Đ� mới gọi l� l�m tr�n bổn phận người tu.

V� vậy tr� tuệ v� từ bi phải nhịp nh�ng theo nhau. Người tu Phật d� bậc thượng hay bậc hạ cũng phải đồng thời hu�n tập hai phương diện đ�. Phải c� đầy đủ tr� tuệ tức tr� B�t Nh� v� từ bi để độ ch�ng sanh. Kh�ng vị Phật n�o chỉ c� tr� tuệ m� thiếu từ bi. Hiểu như vậy ch�ng ta mới sẵn s�ng lăn v�o cuộc đời để cứu khổ, để đ�nh thức những người m� muội. Kh�ng n�n n�i th�n giả, cảnh giả, khổ cũng kh�ng thật, c� g� đ�u lo. Thi�n hạ đ�i cũng l� chuyện giả th�i, c� chi phải bận l�ng rồi ngồi đ� kh�ng l�m g� hết.

N�n trong kinh Phật dạy phước v� huệ, cả hai phải song h�nh như nhau, giống con chim c� hai c�nh. Chim muốn bay được phải đủ đ�i c�nh, nếu ch�ch đi một c�nh th� chim bay kh�ng được. Người tu cũng vậy, phải c� tr� tuệ để thấy tường tận lẽ thật của cuộc đời v� c� l�ng từ bi để san sớt, chia xẻ những nỗi khổ của ch�ng sanh. Đ� mới l� người tu Phật ch�n ch�nh.

Mong tất cả qu� vị nghe suy ngẫm v� ứng dụng gi�o ph�p Phật dạy v�o đời sống tu tập của m�nh. Nếu ứng dụng được sẽ thấy gi� trị cao si�u của Phật ph�p, bằng ngược lại chỉ hiểu su�ng, kh�ng thực h�nh g� cả th� kh�ng bao giờ thấy được sự mầu nhiệm của đạo Phật. V� như vậy ch�ng ta kh�ng xứng đ�ng gọi l� đệ tử của đức Phật. Tất cả h�y ghi nhớ v� cố gắng nỗ lực thực h�nh để c� niềm vui ch�n thật ngay trong hiện đời.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]