HOA V� ƯU
(Tập III)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]
| TU L� NGUỒN HẠNH PH�C Giảng tại ch�a Kh�nh Sơn - S�c Trăng
H�m nay, ch�ng t�i thể theo lời mời của Ban trị sự Phật gi�o tỉnh hội S�c Trăng, đến đ�y giảng cho Tăng Ni, Phật tử một thời ph�p. Ch�nh ph�p của Phật cao si�u diệu vợi, muốn thấm nhuần được kh�ng phải l� việc đơn giản. Nhưng nếu ch�ng ta đ� c� t�m quyết tu, cố gắng lắng nghe th� sẽ l�nh hội, được phần lợi �ch trong sự tu h�nh. B�i ph�p h�m nay c� t�n: Tu l� nguồn hạnh ph�c. Người xưa hay n�i tu l� cội ph�c, t�nh l� d�y oan. Nhưng ở đ�y, t�i chỉ n�i ph�n nửa tu l� nguồn hạnh ph�c th�i. Ch�ng ta tu l� để t�m con đường an l�nh hạnh ph�c, thảnh thơi tự tại. Kh�ng phải tu để m� tu, chẳng biết lợi �ch g� trong cuộc sống. Cho n�n ch�ng t�i muốn l�m sao Tăng Ni, Phật tử đều thấy được lợi �ch thiết thực trong việc tu h�nh của m�nh. Nếu kh�ng như thế th� l�u ng�y ch�ng ta sẽ đ�m ra ch�n nản trong việc tu h�nh. Tất cả ch�ng ta đ� được duy�n l�nh xuất gia, học đạo, tu theo Phật. C�n qu� Phật tử tuy chưa xuất gia, nhưng cũng c� t�m h�m mộ, k�nh mến Phật ph�p. Qu� vị đến với đạo để trở th�nh con người hữu �ch cho gia đ�nh, x� hội v� l�m đẹp cuộc đời cho m�nh, cho người. Ch�ng ta l� đệ tử Phật, tu theo Phật để chuyển một con người ph�m tục trở th�nh con người tr� tuệ. Đ� l� qu� tr�nh tự chuyển h�a đời m�nh từ xấu trở th�nh tốt, từ ph�m trở th�nh Th�nh. Như vậy tu l� chuyển đổi chứ kh�ng phải tu để cầu xin �n huệ của Phật. Đa số Phật tử c� l�ng tin Phật rất s�u, nhưng tin bằng c�ch cầu xin chứ kh�ng phải tin bằng sự cố gắng tu h�nh. V� dụ ch�ng ta muốn được b�nh y�n th� giữ t�m lu�n định tỉnh s�ng suốt trong mọi l�c mọi thời. C�n khi bị người ta chọc tức, m�nh nổi s�n l�n mắng chửi đ�nh đập người ta, th� l�m sao Phật gia hộ được. Cũng như cha mẹ c� một đứa con trai, hết mực cưng chiều. Khi n� lớn l�n, cha mẹ dạy bảo kh�ng được ra đường đ�nh lộn chửi lộn, kh�ng được h�t thuốc, uống rượu, cờ bạc hoặc chơi với những đứa du đ�ng. Đ� l� cha mẹ thương, muốn cho con được y�n ổn để học h�nh. Nhưng khi ra đường n� ngỗ nghịch, đ�nh lộn với người ta. Bị người ta đập lại đau qu�, n� k�u: "Ba ơi, mẹ ơi, cứu con! ". Khi đ� cha mẹ cứu kịp kh�ng? Cứu kh�ng kịp. Rồi n�i cha mẹ kh�ng thương, con k�u cứu m� kh�ng chịu cứu n�. Lời n�i đ� c� căn cứ hay v� căn cứ? Cũng vậy, Phật thương ch�ng sanh đ�o để, l�c n�o cũng hết l�ng chỉ dạy, gi�o h�a ch�ng ta. Song ch�ng ta kh�ng nghe theo lời Phật chỉ dạy th� l�m sao Phật cứu được. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương c� kể lại rằng: Đức Phật đi gi�o h�a trong x�m theo đạo B�-la-m�n. D�n ch�ng nghe ph�p rồi k�o nhau theo Ng�i n�n bỏ đạo của họ. Khi đ� vị l�nh đạo B�-la-m�n tức qu�, �ng đ�n đường Phật, k�u t�n Phật chửi từ đầu tới cuối x�m. Chửi đến kh� cổ họng m� Phật vẫn cứ ung dung, kh�ng trả lời g� hết. �ng c�ng tức, n�n chận Phật lại hỏi: - C� Đ�m! Ng�i c� điếc kh�ng? Phật đ�p: - Ta kh�ng c� điếc. - Ng�i kh�ng điếc tại sao t�i chửi Ng�i kh�ng trả lời? Phật liền đưa v� dụ: - Như ở nh� �ng c� đ�m giỗ, �ng mời b� con đến. Khi dự tiệc xong, ra về. �ng đem tặng b� con, mỗi người một g�i qu�. Họ kh�ng nhận, th� qu� đ� thuộc về ai? Vị B�-la-m�n trả lời: - T�i tặng họ m� họ kh�ng nhận, th� qu� đ� thuộc về t�i chớ về ai! Phật n�i: - Cũng vậy, �ng chửi ta m� ta kh�ng nhận, th� những lời chửi ấy c� d�nh d�ng g� với ta. Phật chỉ n�i một c�u nhẹ nh�ng như vậy. Qu� vị thấy Phật thiệt th�i hay �ng B�-la-m�n thiệt th�i? Chửi người ta m� người ta kh�ng nhận th� phần đ� thuộc về m�nh. Nhờ vậy m� đến b�y giờ ch�ng ta lạy Phật ho�i. Nếu l�c đ� Phật dừng lại, c�i lộn với �ng B�-la-m�n, th� b�y giờ ch�ng ta đ�u c� thờ, c� lạy Ng�i. Nhẫn nhịn, kh�ng chống cự, kh�ng phản đối, đ� l� tư c�ch của người tu. Cho n�n d� xuất gia hay tại gia m� kh�o nhẫn nhịn, đ� l� người c� sức mạnh. Người tu phải tập, đối với những g� tr�i � nghịch l�ng, ch�ng ta vẫn thản nhi�n bỏ qua. Thường ch�ng ta nhịn kh�ng được l� v� bản ng� m� ra. Th� dụ nghe người ta n�i: "Anh ngu qu�" hay "Thầy ngu qu�" th� nổi n�ng l�n liền, cự lại để tỏ rằng m�nh kh�n. Nhưng cự với người ta để th�nh kh�n l� ngu hay kh�n? T�i thường n�i nếu c� ai bảo t�i ngu th� t�i trả lời: "Phải, t�i l� người ngu". Bởi v� trong thế gian n�y, c� v� số điều m� m�nh chỉ biết c� �t điều th�i th� kh�ng ngu sao được? Th� dụ m�nh học được nghề thợ hồ th� biết trong nghề thợ hồ, chớ qua nghề điện, m�nh đ�u c� biết. Tr�n thế gian n�y c� trăm ng�n mu�n ức nghề, trăm ng�n mu�n ức m�n học, ai m� học hết cho được. Như vậy l�m sao d�m tự xưng l� kh�n được. Ch�ng ta chỉ biết một phần trong triệu triệu phần, l� kh�n hay chưa kh�n? L� chưa kh�n. Thế n�n người ta n�i m�nh ngu, m�nh nhận l� ngu, v� m�nh biết �t qu�. Biết r� như vậy th� ngu hay kh�n? C�n nếu nghe m�nh ngu liền nổi tức l�n chửi lộn, đ�nh lộn với người ta l� kh�n hay ngu? Như vậy m� thế gian c� ai chịu ngu đ�u. L�c n�o cũng nghĩ m�nh kh�n. V� vậy h�nh ảnh đức Phật ung dung đi khất thực, bị người ta chửi Ng�i vẫn thản nhi�n kh�ng giận kh�ng hờn. Đ� l� tấm gương s�ng cho tất cả ch�ng ta noi theo. Như vậy ch�ng ta biết tu, trước những cảnh th�ch đố, bị người ta nhục mạ, m�nh vẫn thản nhi�n tự tại, đ� l� hạnh ph�c. Người tu mới nh�n qua thấy như thiệt th�i, nhưng ch�nh sự thiệt th�i đ� lại l� điều tốt. V� qua những nghịch cảnh ấy, ch�ng ta mới biết được nhẫn lực của m�nh tới đ�u, việc tu tiến hay l�i. Hiểu như vậy tất cả ch�ng ta tu, nếu gặp cảnh kh�ng vui kh�ng thuận, ch�ng ta vẫn thản nhi�n, cố gắng l�m chủ được m�nh, thắng được m�nh. Đ� mới thật l� người tu. Ngược lại ch�ng ta thua giặc n�ng giận, đ� l� ch�ng ta chưa kh�o tu. Trong kinh, Phật dạy: "Thắng một vạn qu�n kh�ng bằng thắng m�nh, thắng m�nh mới l� chiến c�ng oanh liệt nhất! " Ch�ng ta v�o c�c ch�a cổ, thường thấy tấm bảng để tr�n điện thờ: "Đại h�ng, Đại lực, Đại từ bi". Đại h�ng l� sức mạnh phi thường. Đại lực cũng l� sức mạnh kh�ng c� g� đương nổi. Như vậy, người c� sức mạnh phi thường, kh�ng g� đương nổi l� một vị anh h�ng. Đức Phật đ� cầm binh đ�nh giặc bao nhi�u lần m� ch�ng ta gọi Ng�i l� đấng Đại h�ng? Thường ở thế gian hay n�i ai thắng được kẻ địch, đ� l� người anh h�ng. Như vậy Phật đ� thắng được kẻ địch n�o? Đức Phật kh�ng thắng ai b�n ngo�i hết, m� Ng�i thắng được ch�nh m�nh. Ng�i kh�ng bị n�ng giận, tham lam, si m� chi phối, l�m chủ được n� l� thắng m�nh. Thắng được m�nh l� chiến c�ng lớn nhất. Ch�ng ta nhớ lại bao nhi�u vị anh h�ng tr�n thế gian được nh�n loại qu� trọng, đều do sức mạnh thắng được người ngo�i. Nhưng sự qu� trọng đ� chỉ một l�c, một thời n�o th�i. C�n đức Phật tới ng�y nay, đ� tr�n hai mươi lăm thế kỷ m� to�n thế giới đều qu� trọng. Bởi Ng�i đ� từng thắng được m�nh. V� vậy m� n�i Phật l� đấng Đại H�ng. Muốn thắng được m�nh phải nhờ c�ng phu tu. Nhờ tu ch�ng ta thắng được tất cả t�m xấu xa, những � niệm kh�ng tốt. Nhờ tu ch�ng ta dẹp bỏ được phiền n�o. Nhờ tu ch�ng ta mới c� tr� tuệ s�ng suốt. Như vậy tu l� hạnh ph�c. Cho n�n người tu h�nh m� n�ng nảy th� kh�ng thể gọi l� tu h�nh. Như vậy muốn cho bảo đảm tr�n đường tu ch�ng ta được an l�nh tự tại, th� cần phải s�ng suốt, thấy đ�ng lẽ thật, đừng bị ngoại cảnh l�i dẫn, đừng bị những việc th�ch đố nghịch l�ng l�m cho ch�ng ta mất hết tư c�ch người tu. Ch�ng ta tu l� đem lại sự an l�nh, tự tại cho ch�nh m�nh. H�ng cư sĩ tại gia nếu biết tu, sẽ c� những hạnh ph�c g�? Phật tử tại gia, sau khi quy y Tam Bảo rồi, đức Phật dạy phải giữ năm giới cấm. T�i trở lại v� dụ trước. Như cha mẹ v� thương con, muốn bảo vệ cho con được an l�nh, n�n cấm kh�ng được đ�nh lộn chửi lộn, h�t thuốc, uống rượu, hoặc chơi với mấy đứa du đ�ng v. v� Đ� l� t�nh thương của cha mẹ muốn bảo vệ con, n�n mới cấm như vậy. C� nhiều người đặt c�u hỏi: "Đạo Phật l� đạo giải tho�t, đạo tự do tại sao bước ch�n v�o đạo, Phật bắt giữ giới. Như vậy l� mất tự do rồi". Qu� vị x�t kỹ ch�ng ta giữ giới như cư sĩ th� năm giới; xuất gia Sa di th� mười giới, Tỳ-kheo hai trăm năm mươi giới, Tỳ-kheo Ni ba trăm bốn mươi t�m giới v. v� Giữ giới l� tự do hay mất tự do? Thường người ta n�i tự do l� kh�ng bị r�ng buộc. C� r�ng buộc l� mất tự do. Nhưng t�i đặt trường hợp: Th� dụ như đi đường, nhất l� ở th�nh phố, xe cộ nườm nượp. Nếu người đi đường kh�ng giữ luật đi đường, người ta đi tay phải, m�nh đi tay tr�i v. v� th� tai nạn xảy ra nhiều hay �t? Ch�ng ta kh�ng giữ luật đi đường, đ� l� ch�ng ta g�y tai nạn cho m�nh, cho người. C�n nếu người giữ đ�ng luật đi đường, th� kh�ng g�y tai nạn cho ai cả. Như vậy m�nh b�nh y�n, người kh�c cũng b�nh y�n. Cũng vậy, v� ch�ng ta muốn b�nh y�n, tự tại n�n Phật bắt phải giữ những giới cấm. Nhờ giữ giới n�n ch�ng ta an vui. Do đ� giữ giới kh�ng phải l� mất tự do, m� giữ giới l� t�n trọng tự do. Nhờ giữ giới ch�ng ta kh�ng x�m phạm, kh�ng c� g�y phiền lụy cho m�nh cho người. Đ� l� sự tự do. Ngược lại, kh�ng giữ giới mới mất tự do, v� m�nh v� người đều bị thương tổn. Ở đ�y t�i dẫn năm giới cho qu� Phật tử nhớ. Trong nh� Phật c� chia ra Ngũ thừa Phật gi�o: 1.Nh�n thừa. 2.Thi�n thừa. 3.Thanh văn thừa. 4.Duy�n gi�c thừa. 5.Bồ-t�t thừa. Chữ "thừa" nghĩa l� cỗ xe, người Bắc đọc l� "thặng". Ngũ thừa l� năm cỗ xe. T�i d�ng một v� dụ cụ thể cho qu� vị dễ hiểu hơn. Như bến xe của tỉnh S�c Trăng c� loại xe chạy gần, c� loại xe chạy xa. Qu� vị muốn đi gần th� mua v� xe chạy gần. Muốn đi trung b�nh th� mua v� xe trung b�nh. Muốn đi xa, th� mua v� xe xa. T�y theo m�nh muốn tới đ�u th� mua v� xe tới đ�. Như vậy mỗi xe c� lộ tr�nh, c� khả năng chuy�n chở kh�c nhau. Cũng vậy, tr�n đường tu c� người muốn l�m Bồ-t�t, c� người muốn l�m Thanh văn, Duy�n gi�c; c� người muốn sanh l�n c�i Trời, c� người muốn trở lại l�m người tốt hơn v. v� Phật cũng t�y theo sở nguyện của mỗi người m� dạy c�c ph�p tu kh�c nhau. Cho n�n Phật gi�o c� Ngũ thừa l� vậy. Như người tu Nh�n thừa th� đời n�y l�m một người tốt, đời sau sanh ra lại c�ng tốt hơn, an l�nh hơn. Hiện giờ Tăng Ni ch�ng ta tu l� đang đi tr�n đường n�o? Nếu ch�ng ta tu Thanh văn thừa th� phải giữ giới Tỳ-kheo. C�n tu Bồ-t�t thừa th� giữ th�m giới Bồ-t�t. Trở lại năm giới của h�ng cư sĩ. Giới thứ nhất kh�ng được s�t sanh. Trong giới n�y n�i một c�ch r� r�ng l� kh�ng được giết người. Nhiều người n�i kh�ng s�t sanh l� từ c�c lo�i c�n tr�ng vi tế cho đến con người đều kh�ng được giết. Như vậy c� đ�ng l� giới của Phật tử tại gia kh�ng? Cấm s�t sanh của Phật tử tại gia trọng t�m l� kh�ng được giết người. Kh�ng được giết người c� chia ra ba phần: Một l� th�n kh�ng giết người. Hai l� miệng kh�ng x�i bảo kẻ kh�c giết người. Ba l� thấy, nghe người ta giết nhau m�nh kh�ng vui. Nếu rộng hơn th� th�m những con vật lớn như tr�u, b�, heo, ch� v. v� qu� vị tr�nh được bao nhi�u tốt bấy nhi�u. Đ� l� giữ giới kh�ng s�t sanh của h�ng Phật tử tại gia. Phật tử tại gia giữ giới kh�ng giết người c� lợi �ch g�? Nếu ch�ng ta kh�ng giết người th� người sẽ kh�ng giết lại m�nh. Kh�ng giết người th� khỏi t� tội. Nếu n�ng giận giết người, đ� l� m�nh gieo tai họa cho ch�nh m�nh v� sẽ bị t� tội, bị người giết lại. Vả như người ta kh�ng giết lại th� cũng o�n th� kh�ng c� ng�y trả xong. Do đ� giữ giới kh�ng s�t sanh th� ch�ng ta được b�nh an hạnh ph�c. Ngược lại th� suốt đời sẽ bất an, chịu khổ cả th�n lẫn t�m. Phật tử kh�ng trộm cướp của người th� kh�ng bị t� tội, khinh khi. Qu� vị tưởng tượng trong x�m, trong l�ng c� kẻ trộm, kẻ cướp th� được người ta khen hay bị người ta phỉ nhổ, được b�nh an hay sống trong hồi hộp lo �u? N�n giữ giới kh�ng trộm cướp l� ch�ng ta bảo vệ gi� trị của m�nh, bảo vệ sự b�nh y�n của m�nh. Đ� l� nền tảng để được an vui, hạnh ph�c. Phật tử kh�ng được t� d�m. Giới n�y c� nhiều người coi thường. Nhưng sự thật, n� rất quan trọng. Bởi v� đạo Phật l� đạo đem lại hạnh ph�c cho mọi người. T� d�m tức l� ngoại t�nh, người chồng hoặc người vợ ngoại t�nh với kẻ kh�c gọi l� t� d�m. Nếu trong một gia đ�nh đang b�nh an, vui vẻ, bỗng người chồng hoặc vợ ngoại t�nh với kẻ kh�c th� gia đ�nh đ� c� c�n b�nh an, hạnh ph�c kh�ng? Gia đ�nh đ� sẽ tan n�t, con c�i khổ sở. Như vậy, kh�ng giữ giới t� d�m l� l�m cho m�nh khổ, người khổ, cha mẹ phiền h�, x� hội khinh bỉ. Nếu Phật tử kh�o giữ giới n�y th� chẳng những bảo vệ được hạnh ph�c gia đ�nh, m� c�n g�p phần l�m cho x� hội văn minh tốt đẹp hơn. Phật tử kh�ng n�i dối. Giới n�y, c� nhiều người giải th�ch l� tất cả mọi việc đều kh�ng được n�i dối. Nhưng t�i nh�n kh�c hơn một ch�t. Kh�ng n�i dối l� kh�ng tự m�nh n�i những lời dối tr�, gạt gẫm người để thu lợi về m�nh, l�m cho người phải thiệt th�i. Cho n�n phạm tội n�i dối c� ba động cơ: Một l� n�i dối do l�ng tham. Hoặc tham t�i, tham sắc, tham danh, tham lợi v. v� n�i dối để gạt gẫm người, đ� l� phạm tội n�i dối. V� dụ c� nhiều người đ� lập gia đ�nh rồi, khi đi xa gặp ai vừa �, họ n�i với người ấy chưa c� gia đ�nh, chưa thương ai v. v� Đến chừng sau ph�t gi�c ra đ� c� gia đ�nh, c� con c�i, th� đủ chuyện rắc rối xảy ra phải kh�ng? Đ� l� do tham sắc m� n�i dối. Tham t�i, tham danh� m� n�i dối cũng như vậy. Hai l� n�ng giận m� n�i dối. N�ng giận m� n�i dối nghe v� l� qu�. Nhưng thật ra thế n�y, khi nổi giận l�n, m�nh biết người đối diện l� anh A, anh B g� đ�, nhưng lại gọi người ta l� đồ ch�, đồ tr�u. Như vậy c� đ�ng sự thật kh�ng? Người ta l� người m� n�i l� ch� l� tr�u, l�m sao người ta kh�ng bực tức. V� giận m� m�nh n�i những lời kh�ng đ�ng lẽ thật g�y phiền n�o cho người, gọi l� phạm tội n�i dối. Ba l� v� t�m �c độc, t�m o�n th� muốn hại người m� n�i dối. M�nh biết người ta kh�ng phạm luật ph�p, nhưng v� th� ri�ng n�n l�m đơn vu oan, để họ bị giam cầm khổ sở. Đ� l� phạm tội n�i dối. T�m lại, tội n�i dối do ba động cơ: tham lam, n�ng giận, �c độc. Ngược lại nếu người c� l�ng từ bi thương người, thương vật, n�i dối để cứu nạn th� kh�ng c� tội. Th� dụ c� một người h�ng x�m bệnh trầm trọng đang nằm ở bệnh viện, ch�ng ta lại thăm. Nghe b�c sĩ n�i bệnh n�y kh�ng qua khỏi. Ch�ng ta biết bệnh n�y thế n�o cũng chết, nhưng khi bệnh nh�n hỏi: "Thưa thầy (anh) bệnh t�i c� qua khỏi kh�ng? " M�nh c� nỡ khẳng định l� anh phải chết kh�ng? Biết họ sẽ chết m� ch�ng ta kh�ng d�m n�i thật. M� lại n�i: "Kh�ng sao đ�u, uống thuốc từ từ sẽ l�nh". V� thương họ, sợ họ khổ m� m�nh n�i dối cho n�n kh�ng phạm giới. Hoặc như c� người thợ săn đến vườn ch�a, trong vườn c� thỏ chồn. Nhưng khi thợ săn hỏi: "Vườn ch�a thầy c� thỏ, chồn kh�ng? " M�nh n�i: "Vườn t�i kh�ng c� thỏ, chồn. " Như vậy n�i dối m� kh�ng c� tội. V� thương kh�ng muốn cho ch�ng bị giết n�n ta n�i dối. Hiểu như vậy ch�ng ta mới thấy n�i dối phạm tội hay kh�ng l� do nơi t�m. Với t�m tham lam, t�m n�ng giận, t�m �c độc m� n�i dối th� phạm tội. Với t�m từ bi thương người thương vật, m� n�i dối th� kh�ng phạm. Cho n�n việc lợi hại t�y theo quan niệm, t�y theo t�m tư của m�nh. Kh�ng phải bất cứ l�c n�o n�i dối cũng phạm tội hết. Phật tử kh�ng được uống rượu. Trong giới n�y ch�ng ta n�n x�t đến những trường hợp ngoại lệ. Như người T�y phương ở xứ lạnh, kh�ng uống bia họ chịu lạnh kh�ng nổi. B�y giờ kể cả rượu mạnh, rượu nhẹ đều cấm kh�ng được uống th� họ giữ kh�ng được. Cho n�n với t�i, th� n�n ch�m chước thế n�y, cấm uống rượu mạnh, cấm uống say. Trong thời đại hiện nay cần phải cấm th�m c�c chất nữa: kh�ng được h�t � phiện, x� ke, ma t�y. Hồi xưa kh�ng c� ba thứ đ�, chỉ cấm rượu th�i. Nhưng b�y giờ, x� ke, ma t�y, � phiện c�n nguy hại hơn cả rượu nữa. Cho n�n phải cấm hẳn, tuyệt đối kh�ng được d�ng x� ke, ma t�y, � phiện d� chỉ một ch�t th�i. Như vậy giữ giới c� gi� trị, c� lợi �ch rất cụ thể. Phật tử kh�ng giết người, kh�ng trộm cướp, kh�ng t� d�m, kh�ng n�i dối, kh�ng uống rượu, kh�ng h�t � phiện, x� ke, ma t�y th� gia đ�nh chắc chắn được hạnh ph�c. B�y giờ cả x�m, cả l�ng đều tu theo Phật, đều giữ năm giới trọn vẹn th� x�m l�ng đ� c� sợ ăn trộm, c� nghi kỵ nhau về t� d�m hoặc c�i v� kh�ng? Một x�m l�ng kh�o tu, giữ tr�n năm giới th� tối ngủ kh�ng cần đ�ng cửa. Trong sinh hoạt kh�ng sợ ai lường gạt m�nh. Tất cả mọi người tin tưởng nhau, kh�ng nghi ngờ nhau cũng kh�ng c� những tai họa như � phiện, x� ke, ma t�y v. v� Đ� l� một x�m, một l�ng rất đẹp. N�n biết Phật tử chỉ cần giữ năm giới l� đ� đem lại hạnh ph�c cho bản th�n, cho gia đ�nh v� cho x� hội nữa. Đ� l� điều hết sức cần yếu. Do đ� t�i n�i: "Người biết tu l� người tạo được nguồn hạnh ph�c cho m�nh, cho người". Đ� l� lợi �ch trong đời n�y. Cho n�n tu Nh�n thừa Phật gi�o, ngay trong đời n�y ch�ng ta l� một người Phật tử ch�n ch�nh, m� chết đi đời sau t�i sanh lại, c�ng được tốt đẹp hơn. Người giữ giới kh�ng s�t sanh th� đời sau được tuổi thọ d�i. Người giữ giới kh�ng trộm cướp th� đời sau sanh ra được nhiều tiền của. Người giữ giới kh�ng t� d�m th� đời sau sanh ra được đẹp đẽ trang nghi�m. Người giữ giới kh�ng n�i dối th� đời sau sanh ra n�i năng lưu lo�t, n�i ra điều g� người ta cũng tin, cũng qu�. Người giữ giới kh�ng uống rượu, kh�ng h�t � phiện, x� ke, ma t�y th� đời sau sanh ra tr� tuệ s�ng suốt. Nếu người giữ được bốn giới, kh�ng trộm cướp, kh�ng t� d�m, kh�ng n�i dối, kh�ng uống rượu m� kh�ng giữ được giới s�t sanh; th� người đ� đời sau được tr� tuệ th�ng minh, n�i năng lưu lo�t, đẹp đẽ, gi�u sang nhưng lại chết yểu. Được tất cả m� chết yểu, qu� vị c� muốn kh�ng? Chắc kh�ng muốn. Cho n�n tốt nhất l� giữ đủ năm giới. Hoặc c� người giữ giới kh�ng s�t sanh, kh�ng t� d�m, kh�ng n�i dối, kh�ng uống rượu nhưng lại phạm giới trộm cắp; th� đời sau được sống l�u, đẹp đẽ, n�i năng lưu lo�t, tr� tuệ th�ng minh nhưng lại ngh�o xơ x�c, kh�ng c� gạo ăn. Như vậy qu� vị c� chịu kh�ng? Hoặc được sống l�u, nhiều của, th�ng minh, n�i năng lưu lo�t nhưng v� kh�ng giữ giới t� d�m n�n đời sau xấu x�, kh�ng ai muốn nh�n hết. Chắc qu� vị cũng kh�ng chịu. Hoặc giữ giới kh�ng s�t sanh được tuổi thọ d�i l�u, kh�ng trộm cắp được gi�u sang, kh�ng t� d�m được đẹp đẽ, kh�ng uống rượu được th�ng minh nhưng v� kh�ng giữ giới n�i dối n�n đời sau n�i ngọng, n�i lịu, n�i ra điều g� người ta cũng ch� cười, kh�ng tin. Qu� vị c� chịu kh�ng? Chắc cũng kh�ng chịu. Hoặc trong bốn thứ: sống dai, c� của, n�i năng lưu lo�t, đẹp đẽ nhưng ngu tối, qu� vị chịu kh�ng? N�i chung nếu ch�ng ta giữ tr�n năm giới th� hiện đời l� một người tốt, một người xứng đ�ng. Khi chết đi, đời sau trở lại sanh l�m người được tuổi thọ d�i, gi�u sang, đẹp đẽ, n�i năng lưu lo�t, tr� tuệ th�ng minh. Ch�ng ta c� muốn thiếu điều n�o kh�ng? Nếu kh�ng muốn thiếu th� phải giữ đủ năm giới. Nh�n thế n�o quả sẽ thế ấy. N�n cũng ở thế gian, m� người được điều n�y, thiếu điều kia, kh�ng trọn vẹn. Đ� l� v� kh�ng kh�o tu. Nếu ch�ng ta kh�o tu, giữ tr�n năm giới th� đời n�y đ� tốt, đời sau sanh ra c�ng tốt hơn. Phật tử n�o hiện đời tu giữ tr�n năm giới, khi sắp l�m chung, c� ai đến hỏi: " Anh hay chị chết rồi sẽ đi về đ�u? " Qu� vị sẽ trả lời: "T�i giữ tr�n năm giới n�n sẽ ngồi tr�n cỗ xe Nh�n thừa Phật gi�o, đời sau nhất định trở lại l�m người v� tiếp tục tu nữa". N�n người biết tu sẽ nắm r� ng�y mai kết quả ra sao. Chứ kh�ng phải tu th� tu, m� khi gần chết kh�ng biết m�nh đi đ�u, rồi đ�m ra hoang mang, hoảng hốt. Ch�nh chỗ n�y, ng�y xưa Ma Ha Nam hỏi Phật: - Bạch Thế T�n, con giữ tr�n năm giới v� tinh tấn tu h�nh c�c ph�p Phật dạy, như vậy nếu con ra đường lỡ như bị tai nạn chết liền tại chỗ, th� đời sau con sẽ sanh về đ�u? Khi đ� đức Phật đưa tay l�n, nghi�ng sang một b�n v� n�i: - Như c�y nghi�ng như vầy, khi cưa n� sẽ ng� về đ�u? Ma Ha Nam trả lời: - Nếu c�y nghi�ng chiều n�o, khi cưa n� sẽ ng� theo chiều ấy. - Cũng vậy, �ng đang tu ph�p n�o, đang g�y tạo nghiệp g� th� khi chết sẽ đi theo đường đ�. Ch�nh chỗ n�y, Phật tử cũng hoang mang lắm. M�nh bệnh, c� qu� thầy qu� c� đến nhắc nhở đạo l�, c�n hy vọng được theo Phật. Nếu ra đường lỡ xe đụng chết bất đắc kỳ tử, chừng đ� hoảng hốt kh�ng biết đi đ�u? Trong đạo Phật n�i nghiệp c� nhiều thứ, nhưng c� hai thứ rất trọng yếu: Một l� t�ch lũy nghiệp, hai l� cận tử nghiệp. T�ch lũy nghiệp l� nghiệp t�ch lũy trong cuộc sống hằng ng�y. Ch�ng ta thường l�m điều l�nh, đ� l� t�ch lũy nghiệp l�nh. Khi nhắm mắt nếu kh�ng được Tăng Ni trợ niệm hay nhắc nhở đạo l�, nhưng nhờ t�ch lũy nghiệp đ� dẫn ch�ng ta đi con đường l�nh. Cũng như c�y nghi�ng chiều n�o th� nhất định sẽ ng� chiều đ�. Cận tử nghiệp tức l� nghiệp l�c gần chết. Trước kia c� thể ch�ng ta phạm nhiều tội lỗi, nhưng khi gần chết năm bảy th�ng g� đ�, lại ph�t t�m hướng về Tam Bảo, biết ăn năn hối hận những lỗi lầm trước. Từ đ� ra sức l�m những việc thiện. Đ� l� cận tử nghiệp thiện. L�c l�m chung lại được Tăng Ni hộ niệm, người đ� l� đ�ng phải đọa, nhưng nhờ cận tử nghiệp tốt, n�n được sanh c�i l�nh. Song thọ mạng ở c�i l�nh ngắn ngủi, v� họ phải đọa v�o c�c đường �c để trả lại nợ trước. Do đ� ch�ng ta thấy c� người sanh ra trong gia đ�nh gi�u sang, nhưng chừng năm bảy tuổi th� chết. Bởi v� họ c� ph�t t�m l�nh, n�n hưởng được quả l�nh, nhưng quả l�nh rất ngắn n�n họ hưởng cũng ngắn th�i. Hiểu như vậy ch�ng ta mới kh�ng ngạc nhi�n tại sao người c� phước, sanh ra trong gia đ�nh kh� giả m� lại chết yểu. Như vậy t�ch lũy nghiệp l� nghiệp ch�ng ta tạo h�ng ng�y, c�n cận tử nghiệp l� nghiệp gần chết ch�ng ta mới tạo. Hai nghiệp đ� đều c� cảm quả. Nhưng quả theo hai hướng kh�c nhau. Mới thấy l� nghiệp b�o trong đạo Phật rất c�ng bằng, rất hợp l�. Ch�ng ta tạo điều l�nh th� được quả l�nh, tạo điều �c th� phải bị quả �c. Do tạo nghiệp m� phải chịu quả, chứ kh�ng c� Phật trời n�o can dự v�o được. Ch�ng ta tu h�nh, biết hướng về Tam Bảo, cải đổi những th�i quen, những tật xấu để trở th�nh người hay, người tốt. Nhờ vậy sau khi nhắm mắt, m�nh được đi đường l�nh. Ngược lại nếu kh�ng biết cải đổi, m� cứ xin Phật cho c�i n�y cho c�i kia, th� kết quả kh�ng được g� cả. Cho n�n tu nhiều th� hạnh ph�c nhiều, tu �t th� hạnh ph�c �t. M�nh l� người chủ tạo duy�n l�nh quả tốt cho m�nh, chứ kh�ng phải ai kh�c. Tr�n đường tu, ch�ng ta hiểu thấu được lẽ n�y th� kh�ng c�n tr�ng chờ đức Phật cứu. Cho d� Phật c� cứu m� kh�ng chịu tu th� cũng kh�ng bao giờ được hưởng quả tốt. Đ� l� một lẽ thật. Cho n�n nguồn hạnh ph�c l� ở nơi ch�nh m�nh, do c�ng của m�nh chăm s�c, nu�i dưỡng, chứ kh�ng phải từ đ�u đến. Thế n�n ch�ng ta phải cố gắng tạo cho m�nh một tương lai tốt đẹp. B�i giảng h�m nay t�i n�i tu h�nh l� nguồn hạnh ph�c cho tất cả Tăng Ni, Phật tử hiểu. Để từ đ� ch�ng ta chọn lấy một con đường tốt, dẫn m�nh tới chỗ an lạc giải tho�t. Mong tất cả qu� vị s�ng suốt chọn lấy cho m�nh một con đường. ]
|
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]