Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập III)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


V� MINH

Giảng tại trường hạ Phổ Đ� TP. HCM
ng�y 25-6-2000 - Canh Th�n

 

H�m nay t�i được mời về giảng cho Ni ch�ng cũng như qu� Phật tử một thời ph�p. T�i thường n�i, l�m sao cho tất cả người ph�t t�m tu đều biết được ch�nh ph�p v� thực h�nh đ�ng ch�nh ph�p, đ� l� nguyện vọng của t�i.

Đề t�i của thời ph�p n�y l� V� minh. Khi biết r� v� minh rồi, ch�ng ta mới c� thể t�m c�ch ti�u diệt n�. Ti�u diệt được v� minh rồi, ch�ng ta sẽ giải tho�t sanh tử. Ch�ng ta ai cũng biết trong mười hai nh�n duy�n, đức Phật n�i c�i đầu l� v� minh. Từ v� minh duy�n h�nh, h�nh duy�n thức, thức duy�n danh sắc, danh sắc duy�n lục nhập, lục nhập duy�n x�c, x�c duy�n thọ, thọ duy�n �i, �i duy�n thủ, thủ duy�n hữu, hữu duy�n sanh, sanh duy�n l�o tử ưu bi khổ n�o.

Như vậy đau khổ cuối c�ng của sanh gi� bệnh chết gốc từ v� minh m� ra. V� vậy ch�ng ta muốn tu cho được kết quả, tu đến giải tho�t sanh tử th� gốc v� minh ch�ng ta phải biết r�. Biết r� rồi ch�ng ta trừ diệt n�. Như vậy mới l� người biết cội gốc tu h�nh.

Trước ti�n, t�i định nghĩa v� minh l� g�? V� l� kh�ng, minh l� s�ng. V� minh tức l� kh�ng s�ng. C�i khổ của sanh tử gốc từ v� minh m� ra. V� minh hiểu theo nghĩa m� lầm, đen tối l� nghĩa đen. V� minh c�n c� nghĩa kh�c m� trong kinh đức Phật giải th�ch rất r� r�ng.

Nghĩa kh�c thế n�o? Như đức Phật dạy trong c�c kinh A H�m: "Thấy c�c ph�p, kh�ng biết đ�ng như thật gọi đ� l� v� minh". Nghĩa l� ch�ng ta thấy mọi sự vật ở tr�n đời m� kh�ng biết đ�ng như thật, chỉ biết bằng c�ch tưởng tượng sai lầm, đ� l� v� minh. Cho n�n trong c�c bộ kinh A H�m lu�n lu�n n�i "v� minh l� kh�ng thấy, kh�ng biết đ�ng như thật". N�i r� hơn kh�ng biết, kh�ng thấy đ�ng như thật ph�p Tứ đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, gọi l� v� minh. Đ� l� lời giải th�ch trong kinh A H�m.

Kinh Vi�n Gi�c giải nghĩa kh�c, c� một vị Bồ-t�t hỏi: "Bạch Thế T�n, thế n�o l� v� minh? ". Phật dạy:

"V� minh nghĩa l� đối với th�n tứ đại duy�n hợp tưởng lầm l� thật, l� qu�. Đối với t�m duy�n theo b�ng d�ng s�u trần cho đ� l� t�m thật. Như vậy l� v� minh". Chấp th�n tứ đại l� thật, chấp t�m duy�n theo b�ng d�ng s�u trần l� thật, đ� l� v� minh. T�i xin hỏi Ni ch�ng v� Phật tử ở đ�y, qu� vị c� v� minh kh�ng? Chắc ai cũng đồng � c� v� minh. Tại v� tất cả đều thấy th�n m�nh l� thật, thấy t�m nghĩ tưởng việc n�y, việc nọ l� t�m m�nh thật. Thấy hai c�i đ� thật l� v� minh.

Ch�ng ta v� v� minh l�i dẫn m� sanh tử đến ng�y nay kh�ng dừng. Người tu Phật l� người cầu được phước l�n c�i trời, hay cầu đời sau sang gi�u? Người tu Phật l� người cầu giải tho�t sanh tử. Muốn giải tho�t sanh tử th� phải dẹp sạch v� minh. Nếu kh�ng hết v� minh th� kh�ng l�m sao ra khỏi sanh tử được.

V� vậy tất cả ch�ng ta đều phải cố gắng, đều phải nhận định cho ch�n chắn, r� r�ng về v� minh. Nếu kh�ng biết n�, kh�ng dẹp n� th� mu�n kiếp tu l� tu, chớ kh�ng ra khỏi sanh tử được. N�n b�i giảng n�y rất quan trọng đối với việc tu h�nh của ch�ng ta. Qu� vị cố gắng nghe thật kỹ, nhớ thật r� để ứng dụng tu th� sẽ c� lợi lạc lớn.

Nh� Phật chia v� minh l�m hai phần: Căn bản v� minh v� chi mạt v� minh. Căn bản l� cội gốc, chi mạt l� ngọn ng�nh hay nh�nh nh�c. Trong mười hai nh�n duy�n c�i g� l� căn bản v� minh, c�i g� l� chi mạt v� minh? Thường ai cũng biết Phật n�i v� minh duy�n h�nh. Tức từ v� minh ph�t ra nghiệp, nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh v. v� Vậy v� minh ban đầu l� gốc của sanh tử, n�n gọi l� căn bản v� minh.

Kế đến c�i g� l� chi mạt v� minh? Ch�ng ta thử �n lại: v� minh duy�n h�nh, h�nh duy�n thức, thức duy�n danh sắc, danh sắc duy�n lục nhập, lục nhập duy�n x�c, x�c duy�n thọ, thọ duy�n �i, �i duy�n thủ� �i v� thủ ch�nh l� chi mạt v� minh.

B�y giờ ch�ng ta tu, kh�ng thể diệt được căn bản v� minh v� căn bản v� minh l� v� minh ban đầu, n� thuộc về qu� khứ đ� qua rồi. N�n hiện tại ch�ng ta tu l� l�m sao ti�u diệt được chi mạt v� minh. Ph� được chi mạt v� minh rồi th� ch�ng ta sẽ dứt được sanh tử. C�n nếu chưa ph� được n� th� ch�ng ta đi m�i trong sanh tử.

Trở lại căn bản v� minh. Như trong kinh A H�m n�i: "Biết kh�ng đ�ng như thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế gọi l� v� minh". Tất cả qu� vị đối với Tứ đế đ� biết đ�ng như thật chưa? Nếu biết đ�ng như thật về Tứ đế th� ch�ng ta đ� ngộ, đ� nhận được gi�o l� giải tho�t của ph�p Tứ đế dạy rồi. Nhưng b�y giờ ch�ng ta c�n mơ m�ng, chưa nhận ch�n sự thật n�n chưa hiểu thấu được l� Tứ đế.

Trong Tứ đế, đế đầu ti�n l� Khổ đế. Ch�ng ta thấy cuộc đời n�y khổ hay vui? Khổ. Nhưng chỉ khổ l�c c� người l�m phiền, l�m cho ta tức giận th�i. C�n l�c được người t�ng tiu, khen ngợi đ�u c� khổ. Nghĩa l� chỉ khổ l�c buồn tủi, c�n khi được t�n th�n khen ngợi th� qu�n khổ.

Phật n�i Khổ đế v� tất cả con người sanh ra tr�n thế gian n�y c� t�m thứ khổ, gồm bốn phần thuộc vật chất: sanh, l�o, bệnh, tử v� bốn phần thuộc tinh thần: �i biệt ly, o�n tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm x� thạnh. Trong t�m khổ, ch�ng ta c� ai qua khỏi kh�ng?

X�t về th�n th� ai rồi cũng gi�, cũng bệnh, cũng chết. Qu� vị thấy gi� khổ kh�ng? Khổ. Bệnh khổ kh�ng? Khổ. Chết khổ kh�ng? Khổ. Nhưng sao t�i gi�, t�i kh�ng khổ. Gi� khổ nếu m�nh kh�ng biết tu. Bởi kh�ng biết tu n�n thấy th�n hơi mỏi m�n, bệnh yếu, rồi đi đứng lọng cọng� đủ thứ hết n�n thấy khổ.

Nếu biết tu th� gi� l� một lẽ thật, n� phải tới tự nhi�n th�i, kh�ng ai trốn tr�nh được, kể cả Phật cũng kh�ng trốn được. Nếu Phật trốn được th� th�n tứ đại của Ng�i đ�u c� mất. Ai c� th�n th� cũng phải gi� bệnh chết. V� đ� l� qui luật của thế gian, ch�ng ta kh�ng ai chối c�i được. Đ� l� qui luật th� sợ c� khỏi được kh�ng? Nếu kh�ng khỏi được th� sợ chi cho v� �ch. Thay v� sợ m�nh cười chơi cho vui, khoẻ hơn kh�ng. Như vậy th� đ�u c� g� khổ. Tại ch�ng ta sợ n� cho n�n khổ. N�n biết gi� chỉ khổ đối với những người kh�ng biết tu th�i.

Đến bệnh khổ, tại sao bệnh khổ? V� dụ như đau bụng c� khổ kh�ng? Khổ to�n th�n hay chỉ c�i bụng khổ? Đau chỗ n�o th� khổ chỗ đ� th�i. L�u nay ch�ng ta hay hiểu lầm, cứ nghĩ đau c�i ch�n th� cả th�n đều đau n�n r�n rỉ "đau qu� chịu kh�ng nổi". Nếu hỏi c�i g� đau th� n�i "t�i đau". Nhưng thật ra t�i đau hay c�i ch�n đau? Ch�n đau th� chỉ đau một ch�t dưới ch�n, c�n c�c một bộ phận kh�c đ�u c� đau. Nếu bụng đau th� chỉ một ch�t ở bụng, c�n c�c chỗ kh�c đ�u c� đau, tại sao phải khổ dữ vậy?

Ch�ng ta c� bệnh đồng h�a khi ch�n đau nghĩ l� m�nh đau, n�n quằn quại r�n xiết. C�i đau chỉ ở một nơi, một chốn chớ kh�ng phải m�nh. M�nh l� c�i g� qu� vị biết kh�ng? Nếu m�nh l� tứ đại th� mai mốt tứ đại hết thở, m�nh đi đ�u, c� c�n kh�ng? Tứ đại l� m�nh th� tứ đại r�, m�nh cũng phải r� theo chứ. Nhưng tứ đại n�y r� kh�ng phải l� hết, m�nh vẫn c�n. Cho n�n tứ đại đau chớ m�nh đ�u c� đau.

C� một Thiền sư khi bệnh, thầy Tri sự v� thăm hỏi:

- Ho� thượng bệnh, c� c�i kh�ng bệnh chăng?

Thiền sư trả lời:

- C�.

Thầy Tri sự hỏi tiếp:

- C�i g� kh�ng bệnh?

Thiền sư k�u l�n:

- Ui da, ui da.

Như vậy l� sao? Bệnh chỉ l� th�n th�i, c�i biết r�n "ui da" đ� kh�ng c� bệnh. Ch�ng ta bệnh, ch�ng ta khổ nhưng c�n c� c�i kh�ng bệnh kh�ng khổ m� m�nh kh�ng biết. V� vậy ch�ng ta cứ lầm lẫn một bộ phận đau coi như to�n th�n đau, rồi khổ� sở, lăn l�c r�n rỉ. Nếu bộ phận n�o đau, ch�ng ta cứ nh�n xem n� đau ra sao. V� dụ ch�n đau, nh�n xem n� đau ra sao. Nh�n một hồi n� qu�n đau. C�n nếu m�nh quằn quại r�n rỉ th� đau cả người.

Ch�ng ta tu phải c� nhận định đ�ng đắn kh�ng sai lầm th� hết khổ. Nhiều người hay n�i, mấy c� c�n nhỏ đau, th� bệnh chừng năm m� th�m c�i nh�ng nhẽo nữa. Bệnh chừng năm m� r�n qu� n�n th�nh mười. Đ� l� kh�ng can đảm, kh�ng s�ng suốt. Ch�ng ta bệnh phải nh�n lại, xem n� h�nh l�m sao, đau nhức thế n�o. Phải lu�n lu�n can đảm thấy rằng đau l� một bộ phận đau, chớ m�nh kh�ng đau, như vậy sẽ bớt đau. Được thế th� đau kh�ng c�n khổ nữa. Ngược lại, nếu thấy đau l� m�nh th� khổ li�n mi�n. Nay nhức đầu, mai đau bụng, l�c n�o cũng thấy khổ. Như vậy bệnh l� khổ.

Đến chết c� khổ kh�ng? Phật n�i chết l� khổ, đ� l� n�i theo con mắt của thế gian. Bởi v� người ph�m tục rất qu� th�n, l�c n�o cũng muốn sống m� b�y giờ phải chết th� khổ. Vậy chết khổ l� đối với người qu� chuộng th�n, muốn giữ n� m�i. C�n người tu đạt đạo rồi, chết kh�ng c� khổ. Cho n�n người thế gian gần chết th� kh�c r�n gi�y giụa, c�n c�c Thiền sư chết th� cười.

Vậy chết nhất định l� khổ chăng? Kh�ng hẳn thế. Người n�o nhận ch�n được lẽ thật, thấy được ch�n l� rồi th� kh�ng khổ. Người nghĩ th�n n�y l� m�nh, mất rồi kh�ng c�n nữa th� người đ� sẽ khổ. Th�n n�y giả dối, tạm bợ, đủ duy�n n� tụ, hết duy�n n� tan, c�n c�i ch�n thật của m�nh kh�ng tan kh�ng mất bao giờ. N�n khi th�n sắp tan, nh�n n� cười th�i kh�ng c� g� sợ hết.

Phật n�i Khổ đế l� căn cứ tr�n người m� lầm. Nếu ch�ng ta kh�o tu, vượt qua kh�ng c�n chấp th�n nữa th� kh�ng c�n khổ. Cho n�n người tu l� người kh�ng khổ. Nhưng b�y giờ người tu c�n khổ hay hết khổ? Chắc l� c�n khổ. Sao dở vậy? Tu l� để giải khổ hết khổ, m� m�nh tu lại khổ. Tại sao? Tại tu m� chưa l�nh hội được nguồn cội của Phật dạy cho n�n thấy khổ.

Người hiểu thấu đạo l� rồi, mỗi ng�y tu l� mỗi ng�y vui. Đi đ�u cũng cười ho�i v� được tu l� chuyện hy hữu. Ở thế gian bao nhi�u thứ tr�i buộc, v� ch�a đ�u c� g� tr�i buộc. Thảnh thơi tự tại qu�, m� khổ l� sao? Khổ l� tại v� thấy người n�y được thầy thương, c�n m�nh kh�ng được thương n�n buồn giận sanh khổ. Thấy người kia được Phật tử c�ng dường, c�n m�nh kh�ng ai c�ng hết n�n khổ. Khổ n�y l� do bỉ thử nh�n ng� m� sanh.

Ch�ng ta nhớ người xuất gia l� h�nh hạnh si�u tho�t, kẻ trần tục kh�ng l�m được. Phật tử ham tu, nhưng vẫn c�n bị gia đ�nh tr�i buộc, kh�ng tự do. Nh�n lại qu� thầy qu� c� thảnh thơi qu�, họ khen thầy c� thật l� phước lớn. Được khen m� qu� vị lại than khổ. Người ta mơ ước như m�nh, m� m�nh được rồi lại khổ l� chuyện v� l� qu�.

L� người tu, ch�ng ta phải biết l� do g� m�nh đi tu. Tu để tiến tới đ�u, cầu c�i g�? Thấy cho r� như vậy th� sự tu h�nh mới tới nơi tới chốn, mới giải tho�t sanh tử được. Nếu cứ nh�n theo t�m ph�m tục thương gh�t v. v� th� qu� vị sẽ khổ ho�i, kh�ng bao giờ hết khổ. Như vậy Khổ đế l� do ch�ng ta chưa thấy được như thật. Đ� l� t�i n�i căn bản v� minh để qu� vị nắm đại kh�i.

Kế đến t�i n�i về chi mạt v� minh.

Tất cả ch�ng ta đ� bị v� minh th�c đẩy tạo th�nh h�nh nghiệp dẫn đi trong sanh tử nhiều đời. B�y giờ đ� c� th�n th� đối với c�i v� minh ban đầu kh�ng thể dẹp v� n� thuộc về qu� khứ. Cho n�n dẹp l� dẹp chi mạt v� minh, tức c�i ngọn ng�nh trong hiện đời. Vậy ngọn ng�nh của v� minh l� g�? L� �i, thủ.

�i l� �i c�i g�? Thường trong nh� Phật n�i �i nặng nhất, nguy hiểm nhất l� �i ng�. �i ng� tức l� thương m�nh, thương m�nh l� số một. Trong truyện xưa, vua Ba Tư Nặc hỏi Mạt Lợi phu nh�n: "Tr�n thế gian n�y �i khanh thương ai nhiều nhất? " Vua nghĩ hỏi vậy, phi sẽ trả lời: "Thương Bệ hạ nhiều nhất". Nhưng ngược lại b� n�i: "Thiếp thương m�nh nhiều nhất". Vua thất vọng hỏi: "Tại sao �i khanh thương m�nh nhiều nhất? ". B� giải th�ch: V� thương m�nh nhiều nhất n�n thiếp mới qu� trọng Bệ hạ, bởi Bệ hạ l�m cho thiếp được sung sướng, gi�u sang". Vua nghe thấy c� l�, n�n gật đầu khen phải.

R� r�ng như b� phi đ� n�i, b� thương vua l� v� b�, chớ kh�ng phải v� vua. Qu� vị ở đ�y c� ai thương người kh�c nhiều hơn thương m�nh kh�ng? Chắc l� kh�ng. V� dụ m�nh bệnh, c� huynh đệ chăm s�c chu đ�o. M�nh thấy huynh đệ đ� tốt n�n thương. Do người đ� săn s�c m�nh trong l�c bệnh n�n m�nh mới thương, chớ đ�u phải bỗng dưng m� thương. Vậy thương người đ� l� qua m�nh, chớ đ�u phải tự người đ� được thương.

X�t kỹ tất cả c�i thương người kh�c đều l� qua m�nh hết, kh�ng bao giờ người ta chửi m�nh m� m�nh thương họ. Dầu người đ� tu hay cũng mặc, hễ họ mắng nhiếc m�nh th� m�nh vẫn kh�ng thương như thường. Vậy thương mọi người đều qua c�i ng� của m�nh. Cho n�n n�i �i ng� l� số một. Bởi thương m�nh nhiều, n�n th�n n�y sắp hoại m�nh khổ, khổ v� sợ mất n�. Do đ� khi n� hoại rồi, m�nh hoảng t�m th�n kh�c để tựa v�o, v� minh sanh h�nh l� như thế.

Từ v� minh chi mạt l� �i ng�, n�n t�m th�n kh�c để tựa v� rồi sanh ra ng� kế tiếp, v� vậy n� dẫn m�nh đi trong sanh tử. Do �i ng� m� sanh tử tiếp nối kh�ng c�ng. Dẹp được �i ng� th� v�ng sanh tử đời sau kh�ng c�n. Nếu dẹp kh�ng được th� kh� m� đi tr�n đường giải tho�t. Tuy nhi�n dẹp �i ng� l� chuyện rất cay đắng. Mặc d� n� kh�ng ra g� nhưng dẹp n� rất kh�, bởi v� ai cũng thương m�nh hết. Thương m� muốn dẹp th� l�m sao dẹp được? Phải kh�ng thương mới c� thể dẹp chứ. Do đ� Phật dạy phương ph�p để ch�ng ta kh�ng thương ng� nữa.

Phật dạy th�n n�y v� ng�, tức kh�ng c� c�i ta thật. Nếu biết th�n n�y kh�ng c� c�i ta thật th� bớt thương n�. C�n thấy th�n n�y l� ta th� nhất định phải thương, kh�ng nghi ngờ. V� vậy Phật dạy phải qu�n c�c ph�p v� ng�. C�c ph�p v� ng� th� th�n n�y cũng v� ng�. Kh�ng c� c�i thật ta th� thương c�i g�. Nhờ thế ph� trừ được ng� chấp.

Do �i ng� n�n tất cả vật chung quanh ng�, m�nh cũng �i theo. �i ng� n�n �i lu�n sở hữu của ng�. M�nh thương m�nh n�n mới th�ch đồ ăn ngon, nếu kh�ng thương m�nh th� ăn c�i g� cũng được. Thương m�nh n�n mới th�ch mặc đồ đẹp. T�m lại tất cả những g� đ�p ứng cho ng� sử dụng được tốt, được vừa � th� m�nh thương hết. Cho n�n n�i �i ng� th� �i ph�p.

Nếu kh�ng �i ng� th� c� �i ph�p kh�ng? V� dụ m�nh coi m�nh kh�ng ra g�, khi thấy người ta c� m�n ăn ngon m�nh đ�u cần xin. C�n thấy th�n n�y qu�, n�n người ta c� m�n ăn ngon m�nh cũng th�m, th�m th� muốn xin. V� qu� ng� n�n phải t�m những vật dụng bổ t�c cho ng� được sung m�n. Cho n�n thương m�nh th� sẽ thương tất cả sự vật chung quanh m�nh, đ� gọi l� �i ng� v� �i ph�p. Đ�y ch�nh l� nh�n để đi trong sanh tử lu�n hồi. Phật dạy muốn dứt sanh tử phải ph� trừ ng�. Ng� hết th� sanh tử theo đ� m� dứt. Ng� c�n th� sanh tử kh�ng bao giờ hết được. Đ� l� một lẽ thật.

T�i n�i qua về v� minh căn bản v� v� minh chi mạt rồi.

Từ v� minh ban đầu đưa đẩy ch�ng ta đi v�o v�ng sanh tử. Đ� đi trong sanh tử rồi th� phải chịu đau khổ. V� vậy ch�ng ta tu l� l�m sao biết r� gốc v� minh, để chuyển từ m� lầm sanh tử trở về giải tho�t an lạc, đ� l� minh. Trong kinh Ph�p Hoa c� n�i: Ch�ng c�ng tử bỏ cha mẹ đi lang thang, đi m�i. C�ng đi th� c�ng khổ sở, c�ng ngh�o t�ng. Đến l�c anh ta cảm thấy xa cha mẹ khổ qu� muốn quay đầu trở về. Trở về v� được cha trao cho gia t�i rồi th� trở th�nh �ng trưởng giả gi�u c�, sang trọng.

Như vậy do đ�u m� ch�ng c�ng tử bỏ cha mẹ ra đi? Do niệm sai lầm ban đầu tức l� v� minh. Từ niệm sai lầm ban đầu dẫn ch�ng ta đi trong đau khổ kh�ng c�ng. Khi biết lang thang lăn lộn l� khổ, muốn trở về t�m cha cho bớt khổ. Xoay trở về t�m cha l� hơi minh một ch�t rồi đ�. Bỏ cha mẹ ra đi l� v� minh. Khi thức tỉnh, giật m�nh xoay về t�m cha l� minh.

Vậy minh l� nh�n đưa m�nh đến chỗ hết khổ đau, v� minh l� nh�n dẫn m�nh đi tới khổ đau. Người tu phải ti�u diệt v� minh để trở về với minh. V� minh sạch rồi th� đau khổ theo đ� hết, v� minh c�ng nhiều th� đau khổ c�ng đậm. N�n ch�ng ta phải thức tỉnh, phải trở về được với c�i minh.

Muốn trở về với c�i minh phải l�m sao? Ng�y trước ch�ng c�ng tử bỏ cha đi c�ng xa c�ng khổ, b�y giờ trở về gặp cha th� c�ng về gần c�ng �t khổ. Tới chừng gặp được cha rồi, được trao gia t�i th� ho�n to�n hết khổ. Ch�ng ta do v� minh l�i dẫn, đưa đẩy đi trong sanh tử triền mi�n, kh�ng c� ng�y c�ng. Cho n�n khi thức tỉnh được trở về, l� đi tr�n con đường minh, con đường �nh s�ng rồi đ�. Ni ch�ng đang tu h�nh như vầy l� đang từ bỏ v� minh để hướng về minh. Biết trở về v� trở về đến nơi đến chốn th� qu� vị hết khổ. Đ� l� điều hết sức r� r�ng.

Nếu ch�ng ta m� th� cứ thả tr�i mu�n đời mu�n kiếp trong sanh tử. Một khi tỉnh t�m về đường giải tho�t rồi th� hết m�. T�i dẫn lời đức Phật dạy về v� minh trong kinh Vi�n Gi�c: "C�i g� l� v� minh? Thấy th�n tứ đại l� thật, t�m duy�n theo b�ng d�ng s�u trần l� thật, đ� l� v� minh". Th�n l� do tứ đại hợp m� thấy l� m�nh thật, t�m duy�n theo b�ng d�ng s�u trần m� cho l� t�m m�nh thật. Hai thứ chấp đ� l� v� minh.

B�y giờ muốn minh phải l�m sao? Phải xả. Xả thế n�o? Chẳng lẽ tự tử. Kh�ng phải vậy. Biết như thế rồi, ta qu�n chiếu thấy r� th�n t�m n�y kh�ng thật, n�n kh�ng đắm luyến, kh�ng sợ mất n�. Như vậy l� minh.

Người m� với người tỉnh kh�c nhau chỗ n�o? V� dụ trong nh� c� đ�n s�ng, b�n ngo�i trời tối. Nếu mở cửa th� �nh đ�n chiếu s�ng ra ngo�i. Một người đứng ở cửa nh�n ra ngo�i thấy tối, nh�n ngược v� trong thấy s�ng. Nếu nh�n ra ngo�i rồi cứ ph�ng đi m�i th� c�ng đi c�ng tối. Tối m�i cho đến chừng n�o thấy sợ th� quay trở lại �nh s�ng. C�ng về gần th� c�ng s�ng nhiều, đến khi bước v� cửa nh�n thấy trong nh� đ�n s�ng choang. Cũng vậy ai thả tr�i th�n m�nh, t�m m�nh theo v�ng sanh tử th� cứ ch�m đắm m�i kh�ng c�ng. Ai biết xoay trở lại t�m về �nh s�ng ban đầu sẽ được s�ng.

Người đứng ở cửa nh�n ra th� tối, xoay v� th� s�ng, vậy tối s�ng c�ch nhau bao xa? Chỉ l� biết xoay đầu. Xoay đầu lại th� s�ng, nh�n ra th� tối. Người xưa thường n�i: "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại l� bờ gi�c, nh�n ra ngo�i l� bến m�. M� v� gi�c chỉ l� một c�i xoay đầu. Thả tr�i theo d�ng tối th� tối m�i, biết xoay ngược trở lại t�m về �nh s�ng th� sẽ được s�ng. Tất cả ch�ng ta tu l� phải l�m sao ch�nh m�nh thức tỉnh, ch�nh m�nh gi�c ngộ. Thức tỉnh, gi�c ngộ l� kh�ng c�n m� m� trở về gi�c.

Ch�ng ta cạo t�c v�o ch�a tu l� đ� thức tỉnh, bỏ lối m� quay về con đường s�ng. Đ� về đường s�ng th� c�n muốn quay lại lối m� nữa kh�ng? Chắc kh�ng bao giờ d�m quay lại. M� phải cắm đầu đi thẳng cho đến bao giờ về đến nơi, thấy v� sống trong ng�i nh� s�ng sủa ấy mới y�n l�ng. Đ� l� mục đ�ch của người tu.

Muốn trở về con đường s�ng phải l�m sao? T�i n�i lại Phật dạy: "Chấp th�n năm uẩn n�y l� ta, đ� l� v� minh. Chấp t�m duy�n theo b�ng d�ng s�u trần l� t�m, đ� l� v� minh". Do đ�, muốn trở về con đường s�ng ch�ng ta phải ph� hai thứ chấp n�y. Ph� chấp bằng c�ch tu theo B�t-nh�. B�t-nh� l� tr� tuệ, tr� tuệ l� s�ng.

B�t-nh� chia l�m ba phần: Văn tự B�t-nh�, Qu�n chiếu B�t-nh� v� Thật tướng B�t-nh�. V� dụ người muốn qua s�ng n�n phải xuống thuyền. Mục đ�ch xuống thuyền l� để qua s�ng. Nhưng xuống thuyền rồi cứ ngồi ỳ tr�n đ� ho�i, kh�ng ch�o kh�ng bơi th� chừng n�o qua tới bờ b�n kia? Xuống thuyền rồi kế đ� phải ch�o, phải cầm dầm bơi th� mới đưa thuyền đến bờ kia được. Chiếc thuyền dụ cho Văn tự B�t-nh�, ch�o dầm dụ cho Qu�n chiếu B�t-nh�, đến bờ b�n kia l� Thật tướng B�t-nh�, tức c�i thể ch�n thật. Ngồi tr�n thuyền kh�ng cựa quậy chắc tới thuyền mục qua cũng kh�ng được, đ� l� điều hết sức r�.

Nếu qu� vị chỉ tụng kinh chứ kh�ng qu�n chiếu g� hết, chỉ l� Văn tự B�t-nh�. Trong B�t-nh� chỉ nơi c�u n�y m� kh�o tu th� sẽ hết khổ: "Qu�n Tự Tại Bồ-t�t h�nh th�m B�t-nh� ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng, độ nhứt thiết khổ �ch". Ch�ng ta đọc thuộc l�u m� chưa bao giờ chiếu kiến, chưa chiếu kiến l�m sao hết khổ �ch, n�n tu m� kh�ng hết khổ.

Muốn hết khổ phải chiếu kiến năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, h�nh uẩn, thức uẩn. Năm uẩn c� hai phần: phần vật chất l� sắc; phần t�m l� thọ, tưởng, h�nh, thức.

Th�n do tứ đại h�a hợp kh�ng c� t�nh thật, đ� l� chiếu kiến sắc uẩn giai kh�ng. Sắc uẩn n�y kh�ng thật t�nh n�n n�i n� l� kh�ng. Kh�ng nhưng do duy�n hợp giả c�. C�i g� giả th� kh�ng qu�, thật mới qu�. Soi thấy th�n tứ đại n�y t�nh kh�ng, duy�n hợp giả c� n�n kh�ng phải qu�.

Thọ uẩn, thọ l� những cảm gi�c nhậ�n được. Nếu ở lưỡi th� thọ vị, thức ăn ngon dở hay kh�ng ngon kh�ng dở. Thọ c� l� do thức ăn để v�o lưỡi. Lưỡi l� căn, thức ăn l� trần. Căn trần gặp nhau mới sanh cảm gi�c ngon, dở, kh�ng ngon, kh�ng dở. Vậy cảm gi�c ngon dở kh�ng thật. V� trước khi đưa thức ăn v�o lưỡi, ta c� cảm gi�c g� đ�u. Nhờ c� thức ăn, nhờ c� lưỡi n�n ta mới c� cảm gi�c ngon dở, n�n cảm gi�c ngon dở ấy kh�ng thật. Vậy m� ch�ng ta ăn m�n g� ngon th� khen, dở th� ch�, r� r�ng ch�ng ta lầm thọ uẩn l� thật. Nếu d�ng tr� tuệ nhận thấy thọ uẩn do căn trần hợp lại n�n c� cảm gi�c. Cảm gi�c ngon dở nuốt qua liền hết, đ�u phải l� thật. N�n qu�n thọ kh�ng thật chỉ l� giả tướng.

Tưởng uẩn l� tưởng những chuyện đ� qua hay chưa tới. Do nghĩ chuyện qu� khứ, chuyện vị lai rồi tưởng tượng n�n h�nh ảnh dấy khởi. Qu� khứ đ� qua l� đ� mất, vị lai chưa đến l� kh�ng c�. Qu� khứ đ� qua l� kh�ng, vị lai chưa đến cũng l� kh�ng, m� tưởng tượng c� thật. N�n chiếu kiến tưởng uẩn t�nh kh�ng, duy�n hợp giả c�, chỉ b�ng chớ c� thật đ�u. Hiểu như vậy mới biết tưởng uẩn kh�ng thật.

H�nh uẩn l� nghĩ suy của m�nh. V� dụ trước khi đi chợ, qu� vị t�nh ra chợ mua h�nh, mua hẹ, mua rau cải g� đ� t�nh rồi đến chợ mới mua. Vậy suy t�nh nghĩ c�i n�y tới c�i kia, giống như từng bước từng bước đi của m�nh, kh�ng c� thật. H�nh uẩn l� những suy tư, nghĩ t�nh của m�nh. Sự suy tư, nghĩ t�nh đ� khi gặp duy�n th� n� ph�t ra, hết duy�n n� mất. Như vậy h�nh uẩn sanh diệt như d�ng nước chảy kh�ng thật. Đ� l� qu�n h�nh uẩn.

Thức uẩn l� ph�n biệt như ph�n biệt đẹp xấu, trắng đen v. v� Thức uẩn tự n� ph�n biệt hay phải c� duy�n t�c động mới ph�n biệt? Trong l� mắt, ngo�i l� sắc trần, sắc trần tiếp x�c với nh�n căn sinh ra nh�n thức ph�n biệt. Nhĩ thức, thiệt thức v. v� cũng đều như vậy. N�n thức tự n� kh�ng c� m� phải do căn, trần tiếp x�c mới c� n�n n� cũng kh�ng thật.

R� r�ng thọ, tưởng, h�nh, thức l� t�m kh�ng thật. Sắc do tứ đại hợp cũng kh�ng thật. Thấy r� th�n kh�ng thật, t�m kh�ng thật như trong kinh Vi�n Gi�c n�i: nếu chấp th�n thật, t�m thật l� v� minh. Nếu thấy th�n kh�ng thật, t�m kh�ng thật th� hết v� minh. V� minh hết n�n trong kinh n�i: "chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng, độ nhất thiết khổ �ch", nghĩa l� soi thấy năm uẩn đều kh�ng liền qua hết tất cả khổ nạn.

Ch�ng ta tu m� kh�ng chiếu kiến n�n tuy tu nhưng vẫn c�n khổ nạn. Đọc thuộc l�ng B�t-nh� mỗi đ�m m� khổ kh�ng hết. B�y giờ ch�ng ta phải kh�o d�ng tr� tuệ chiếu soi năm uẩn kh�ng thật, thấy r� tường tận như vậy th� ph� được v� minh, liền tho�t khỏi sanh tử. Kh�ng biết ph� v� minh th� minh kh�ng bao giờ c�. Tụng B�t-nh� l� học tr� tuệ m� tự m�nh kh�ng c� tr� tuệ th� chừng n�o ra khỏi sanh tử? Đ� l� điều ch�ng ta cần phải biết cho thật r�.

Người tu phải l�m sao soi s�ng được ch�nh m�nh, chớ kh�ng phải chỉ đọc su�ng lời của Phật được. Nếu thấy th�n năm uẩn l� thật th� m�, nếu thấy th�n năm uẩn do duy�n hợp hư giả l� tỉnh. Giả sử c� ai chửi, ch�ng ta thấy lời chửi của họ cũng kh�ng thật n�n nhịn được. Th�n hư giả m� người chấp cho l� qu� th� m�nh thương, chớ kh�ng giận. V� vậy Phật thương ch�ng sanh, thương l� thương c�i g�? Thương ch�ng sanh ngu si, c�i kh�ng thật tưởng l� thật, c�i kh�ng qu� tưởng l� qu�. Cứ như vậ�y m� tr�i m�i trong lu�n hồi sanh tử.

Khi n�o ch�ng ta tu thấy r� th�n năm uẩn kh�ng thật th� qua hết khổ �ch. Qua rồi nh�n lại thấy ai c�n trong khổ �ch m�nh thương. Thương th� tất nhi�n phải độ họ. L�c đ� t�nh thương kh�c với thương v� m�nh hay thương của �i ng�. Thương �i ng� l� thương c� điều kiện. Khi n�o người kh�c gi�p m�nh, m�nh mới thương v� thấy th�n m�nh thật. Nếu tỉnh gi�c rồi, thấy ai m� m�nh thương đ� l� l�ng thương của từ bi. Từ bi l� thương b�nh đẳng, kh�ng c� điều kiện.

N�n biết �i ng� l�m cho ch�ng ta c� nhiều xấu dở. Thứ nhất, v� �i ng� n�n ai gi�p cho ng� th� thương. Thứ hai, v� �i ng� n�n ai chọc ph� ng� th� giận gh�t. Thứ ba, v� �i ng� m� cứ nối tiếp lu�n hồi, mất th�n n�y chụp th�n kia, kh�ng c� ng�y c�ng. Nếu chiếu kiến năm uẩn kh�ng thật, biết r� kh�ng lầm kh�ng m�. L�c n�o cũng thấy th�n n�y kh�ng thật, hư dối th� tất cả những g� đến với m�nh, m�nh đều kh�ng khổ. Gi� kh�ng khổ, chết kh�ng khổ. Bởi c�i hư giả hoại đi đ�u c� g� tiếc, c�n thấy th�n thật th� tất cả khổ theo đ� m� c�n.

Như vậy tu theo B�t-nh� l� chấp kh�ng chăng? V� dụ c�i đồng hồ l� thật c� hay thật kh�ng? Thật kh�ng th� sao n� c� ở đ�y, n�n n�i thật kh�ng kh�ng được. Nếu n�i thật c� th� khi mở từng phần ra, t�m c�i đồng hồ kh�ng được. N�n n�i thật c� kh�ng được. Chỉ khi n�o duy�n hợp th� tạm c�, duy�n hết ho�n kh�ng. N�n n�i bản t�nh của đồng hồ l� kh�ng. Nếu đồng hồ c� sẵn th� đ�u cần đợi duy�n hợp. V� đồng hồ kh�ng c� sẵn n�n n�i t�nh kh�ng. Chữ kh�ng l� t�nh kh�ng.

T�i v� dụ th�m như chỗ n�y c� c�i khay l� c�, chỗ kh�ng c� khay gọi l� trống rỗng. Chỗ n�y kh�ng, chỗ kia c� l� do mắt thấy. Mắt thấy c� kh�ng, đ� l� c� kh�ng đối đ�i. C�n đồng hồ đang c� m� n�i t�nh kh�ng, th� biết r� t�nh n� l� kh�ng, đ� l� thấy bằng tr� tuệ. T�nh kh�ng l� ngay trong c� m� thấy kh�ng, chớ kh�ng phải đợi kh�ng mới thấy kh�ng. V� vậy kinh B�t-nh� n�i: "sắc tức thị kh�ng". Từ kh�ng, do duy�n hợp mới c� l�: "kh�ng tức thị sắc". Hiểu như vậy mới hiểu B�t-nh�. N�i kh�ng m� kh�ng phải thật kh�ng, chỉ l� kh�ng "thể t�nh", chớ giả tướng vẫn c�. N�i c� nhưng l� giả tướng n�n chẳng phải thật c�.

Th�n n�y t�nh kh�ng hay t�nh hữu? T�nh kh�ng m� c� l� v� duy�n hợp giả c�. Người thấy r� r�ng như vậy tức l� c� tr� tuệ B�t-nh�, c� tr� tuệ B�t-nh� l� hết khổ. Vậy tu rất dễ, kh�ng tốn c�ng bao nhi�u, cũng kh�ng phải tr�o n�i qua s�ng, lặn lội v� rừng t�m mới c�, m� ngay nơi th�n n�y d�ng tr� tuệ chiếu soi năm uẩn kh�ng thật th� qua hết khổ nạn. Qua hết khổ nạn l� giải tho�t sanh tử.

Cho n�n tụng B�t-nh� l� để qu�n chiếu, để thấy r� th�n n�y từ thể x�c đến tinh thần l� duy�n hợp hư giả kh�ng thật. Hiểu kh�ng thật rồi, ch�ng ta mới xem thường, kh�ng qu� trọng th�n nữa. Do kh�ng qu� trọng th�n n�n hết �i ng�. Hết �i ng� mới dứt được lu�n hồi sanh tử. Như vậy người muốn tiến tới giải tho�t sanh tử phải thấy r� năm uẩn đều kh�ng.

Thấy được t�nh kh�ng th� kh�ng c�n đối đ�i. Kh�ng đối đ�i mới l� nghĩa trung đạo, l� ch�n l�. C�n kh�ng đối với c� l� thấy một b�n, gọi l� bi�n kiến. V� vậy nhiều người tu kh�ng biết, n�n n�i tụng B�t-nh�, Kim Cang l� chấp kh�ng, đ� l� sai lầm. Ch�ng ta tu h�nh phải s�ng suốt, nhận cho kỹ, thấy được sự vật hiện c�, biết t�nh của n� l� kh�ng, duy�n hợp hư giả tạm c� th�i. Thấy như vậy l� người tr� tuệ, tr� tuệ l� s�ng suốt. Ngược lại, kh�ng thật m� tưởng thật l� si m�, si m� l� v� minh.

Muốn ph� v� minh phải d�ng minh. Trong kinh n�i: "căn nh� tối cả ng�n năm, muốn hết tối th� phải thắp đ�n l�n. Nh� d� tối ng�n năm m� thắp đ�n l�n th� s�ng liền". Cũng vậy ch�ng ta m� v� lượng kiếp rồi, nhưng b�y giờ tỉnh, th� ngay đ� l� gi�c, l� hết v� minh. Nh� Phật cũng thường n�i c�u "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại l� bờ gi�c chớ kh�ng đ�u xa. V� vậy m� th� dẫn đi trong lu�n hồi sanh tử, gi�c th� trở lại bờ Niết-b�n.

Tu l� hồi đầu, xoay đầu lại. Từ l�u ch�ng ta m� n�n đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh ch�ng ta trở lại th� hết đau khổ. N�n tu l� giải khổ cho m�nh, cứu khổ cho ch�ng sanh. Nếu m�nh c�n khổ th� l�m sao cứu khổ cho người được. Nếu hiểu tu l� chỉ lo cứu khổ cho ch�ng sanh n�n ai mời l�m g�, rước đi đ�u cũng nghe theo, đ� l� họa. V� dụ cầu an l� cứu khổ cho người sống, cầu si�u l� cứu khổ cho người chết v. v� nhưng m�nh chưa hết khổ th� l�m sao cứu họ hết khổ được. Muốn cứu khổ cho người trước phải giải khổ cho m�nh. M�nh hết khổ rồi mới cứu khổ cho người được.

Nhiều Phật tử c� chuyện buồn, nhờ thầy an ủi khuy�n lơn cho bớt buồn bớt khổ. Rồi mai chiều thầy c� chuyện buồn Phật tử thấy thương an ủi lại. Như vậy chỉ l� sự an ủi lẫn cho nhau chớ kh�ng ai hết khổ cả. Cho n�n ch�ng ta tu l� phải giải khổ cho m�nh, giải khổ cho m�nh rồi mới cứu khổ cho người. C�n chưa tự giải khổ được, m� đi cứu khổ cho người l� chuyện kh�ng c� thật.

Phản chiếu lại để thấy năm uẩn đều kh�ng, gọi l� "phản quan tự kỷ", nghĩa l� soi s�ng lại ch�nh m�nh. Soi s�ng để thấy r� m�nh, n�n kh�ng lầ�m kh�ng chấp. Khi đ� s�ng rồi, mới chỉ lại cho người kh�c kh�ng lầm kh�ng chấp. Ngồi soi s�ng lại ch�nh m�nh l� ngồi thiền. Bởi vậy n�i thiền qu�n l� ngồi lại để soi s�ng ch�nh m�nh, thấy r� m�nh thực hay giả, thấy r� m�nh thanh tịnh hay � uế v.v... Thấy r� m�nh như vậy th� m�nh mới kh�ng lầm, kh�ng lầm m�nh th� m�nh mới chỉ cho người kh�c tu kh�ng lầm. Nếu m�nh kh�ng chiếu soi m�nh, kh�ng biết r� m�nh th� dạy người l� dạy c�i g�. Cho n�n nh� Phật n�i phải lu�n qu�n chiếu, phải soi s�ng ch�nh m�nh hay phản quan tự kỷ. Đ� l� hướng tu trong nh� Phật thường chỉ dạy.

Cho n�n Tăng Ni ở c�c Thiền viện mỗi đ�m phải ngồi thiền để qu�n chiếu lại m�nh. Thấy r� từng t�m niệm của m�nh kh�ng thật, mới dẹp được n�. C�n tưởng n� l� đ�ng, l� thật th� kh�ng bao giờ dẹp ph� được. Kh�ng dẹp ph� n� được th� phải chịu đi trong lu�n hồi sanh tử th�i. Như vậy minh l� tr� tuệ, v� minh l� si m�. Tr� tuệ l� s�ng, si m� l� tối. C� tr� tuệ th� hết si m�. Nh� tối chỉ thắp đ�n mới trừ được tối. Ch�ng ta v� v� minh n�n phải sanh tử, muốn hết sanh tử phải ph� v� minh. Ph� v� minh th� phải d�ng tr� tuệ.

Khi đ� nắm vững đường lối, phương ph�p tu ch�ng ta phải cố gắng tu. Tu cho được giải tho�t để cứu độ ch�ng sanh đ� l� bản nguyện của tất cả người xuất gia theo Phật vậy.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]