HOA V� ƯU
(Tập III)
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]
| TU L� DỪNG, CHUYỂN V� SẠCH NGHIỆP Giảng tại ch�a Phong H�a Sa Đ�c - 2000.
Đề t�i t�i giảng h�m nay: Tu l� dừng nghiệp, chuyển nghiệp, v� sạch nghiệp. Trước khi đi v�o đề t�i, t�i xin đặt một c�u hỏi: "Tại sao ch�ng ta phải tu? " Qu� Phật tử thường đi ch�a, lễ Phật, ăn chay, chắc rằng ai cũng n�i m�nh biết tu rồi, phải kh�ng? Vậy nếu c� người hỏi tại sao phải tu, th� qu� vị trả lời thế n�o? Ở� đ�y t�i sẽ giải th�ch về điều n�y. Ch�ng ta đều � thức rằng người biết tu l� người cầu tiến, l� người vươn l�n. Tại sao? Th� dụ c� người trước kia say rượu l� nh�, nhưng b�y giờ người đ� biết tu theo Phật, giữ năm giới. Do giữ giới n�n kh�ng uống rượu say nữa, đ� l� đ� tiến hơn xưa. Hoặc như người chuy�n đi ăn trộm, người đ� bị x� hội đ�nh gi� l� hạng bất lương. B�y giờ người đ� biết tu, thọ giới của Phật. Phật cấm kh�ng được trộm cướp. Khi kh�ng c�n trộm cướp nữa, th� người đ� c� tiến bộ chưa? Thường thường thế gian thấy ai hư hỏng, rồi thức tỉnh lại, l�m l�nh th� người ta bảo người đ� gi�c ngộ. Đ� l� một bước tiến. Như vậy v� cầu tiến m� ch�ng ta tu. Người biết tu l� l�c n�o cũng sửa đổi h�nh vi xấu, ng�n ngữ xấu, � niệm xấu của m�nh trở th�nh hay, trở th�nh tốt. Như vậy c� phải l� tiến bộ kh�ng? Cho n�n n�i biết tu l� c� tiến. V� vậy muốn cầu tiến, người Phật tử phải tập tu. Đ� l� l� do thứ nhất. L� do thứ hai, ch�ng ta tu l� v� muốn đem lại sự an lạc cho bản th�n m�nh trong hiện tại v� vị lai. Tại sao? Th� dụ như một Phật tử trước kia chưa biết tu, ở gia đ�nh vợ chồng nghi ngờ nhau kh�ng h�a thuận. B�y giờ nếu hai vợ chồng biết tu, giữ ngũ giới tức kh�ng t� d�m, kh�ng ngoại t�nh với kẻ kh�c, th� vợ chồng hết nghi nhau. Hết nghi nhau th� b�nh an, hạnh ph�c. Như vậy nhờ tu m� đem lại sự b�nh an cho gia đ�nh, sự tốt đẹp cho x� hội. N�n người biết tu l� người tiến l�n, chuẩn bị cho cuộc sống lu�n được an lạc. Thế mới thấy tu l� việc thiết yếu. Phật tử khi hiểu được lợi �ch đ� rồi ai cũng ph�t t�m tu. Đ� l� l� do thứ hai. Khi đ� ph�t t�m tu theo Phật, th� điều đầu ti�n Phật dạy ch�ng ta tu l� để dừng nghiệp. Tại sao tu để dừng nghiệp? Trước khi trả lời c�u n�y, t�i xin �n lại lịch sử đức Phật một ch�t. Ch�ng ta nhớ đức Phật Th�ch Ca M�u Ni khi ngồi dưới cội Bồ-đề suốt bốn mươi ch�n ng�y đ�m, đến đ�m thứ bốn mươi ch�n, từ đầu h�m đến canh hai Ng�i chứng được T�c mạng minh. T�c mạng minh tức l� tr� s�ng suốt, thấu r� hết bao nhi�u kiếp về trước của m�nh, đ� từng l�m g�, ở đ�u, cha mẹ anh em t�n g� đều biết r� hết. Chẳng những một đời m� v� số đời cũng đều biết r�. N�n gọi l� T�c mạng minh, tức tr� s�ng suốt, biết v� số mạng kiếp về trước. Sau n�y đi giảng đạo, Ng�i nhắc lại đời trước Ng�i đ� từng l�m g�, ở đ�u, lợi �ch cho ai v. v� Những sự việc như thế được kết tập lại gọi l� kinh Bản Sanh v� Bản Sự, hiện giờ vẫn c�n. Từ canh hai đến canh ba, Ng�i chứng được Thi�n nh�n minh. Thi�n nh�n minh l� tất cả những g� gần xa, nhỏ nhiệm nhất Ng�i đều thấy được. Cho n�n khi đức Phật chứng được Thi�n nh�n minh rồi, Ng�i nh�n thấy trong b�t nước c� v� số vi tr�ng. Ng�y xưa n�i trong nước c� vi tr�ng người ta kh�ng tin. Nhưng b�y giờ nhờ khoa học chế ra k�nh hiển vi, người ta mới thấy vi tr�ng. Như vậy đức Phật đ� thấy hơn hai ng�n năm rồi, b�y giờ ch�ng ta mới biết. Bằng Thi�n nh�n minh Ng�i nh�n rất xa, thấy ngo�i thế giới n�y, c�n c� v� số thế giới kh�c, t�nh kh�ng hết. Danh từ chuy�n m�n trong nh� Phật gọi l� Hằng h� sa số. Hằng h� đ� l� s�ng Hằng ở Ấn Độ, sa số l� số c�t. S�ng Hằng ở Ấn Độ d�i tới mấy ng�n c�y số, th� c�t s�ng Hằng chừng bao nhi�u? V� số kể. Phật n�i thế giới trong hư kh�ng nhiều như số c�t s�ng Hằng vậy. Ng�y xưa kh�ng ai tin điều n�y cả. Nhưng b�y giờ nhờ c�c nh� thi�n văn, người ta t�m thấy r� r�ng ngo�i thi�n h� của ch�ng ta, c�n v� số thi�n h� nữa. Cho n�n biết trong vũ trụ kh�ng biết bao nhi�u l� thế giới. Như vậy Phật n�i kh�ng sai, v� đ� l� c�i thấy thật. Kế đ�, Ng�i nh�n thấy con người khi chết rồi lại t�i sanh v�o c�c lo�i. Người ta cứ nghĩ chết rồi l� hết, hoặc bảo chết rồi trở lại l�m người. Nhưng Phật thấy r� r�ng, khi ch�ng ta chết rồi, do nghiệp của m�nh tạo h�ng ng�y, hoặc l�nh hoặc dữ; nếu l�nh th� n� dẫn ch�ng ta sanh trong c�i l�nh, nếu dữ n� dẫn ch�ng ta sanh v�o c�i dữ. Cho n�n trong kinh c� một đoạn Phật n�i: "Ta nh�n thấy ch�ng sanh do nghiệp dẫn đi lu�n hồi trong lục đạo như người đứng tr�n lầu cao nh�n xuống ng� tư đường, thấy r� r�ng ai nghiệp g�, đi đường n�o, kh�ng c� nghi ngờ. " V� vậy Phật dạy ch�ng ta tu, bước đầu l� dừng nghiệp. Dừng nghiệp để l�m g�? Để khi chết ch�ng ta kh�ng bị nghiệp �c dẫn đi v�o đường �c. Nếu cứ tạo nghiệp �c, th� khi chết ch�ng ta bị nghiệp dẫn trong địa ngục, ngạ quỷ, s�c sanh. Cho n�n người Phật tử tu l� l�m sao trong hiện tại, dừng những h�nh động xấu �c, để bản th�n l� một người tốt, c� lợi �ch cho x� hội, chết đi m�nh lại được nghiệp l�nh dẫn sanh v�o c�i l�nh. Như vậy c� phải tu l� để cho ch�ng ta an ổn trong đời n�y v� đời sau kh�ng? V� tầm quan trọng như vậy cho n�n ch�ng ta mới tu. Như h�ng Tăng Ni xuất gia, lẽ ra c�c vị ở ngo�i đời hưởng những lạc th� thế gian, tại sao lại cạo đầu v�o ch�a ăn chay, mặc �o nhuộm cho khổ vậy? C� c�i g� cần, c�i g� qu�, m�nh mới l�m điều đ� chứ. V� thấy r� được lợi �ch việc tu tập rồi, n�n ch�ng ta mới đi tu. Đến canh năm, khi sao mai vừa mọc, Ng�i liền chứng được Lậu tận minh, tức l� tr� s�ng suốt thấy r� nguy�n nh�n v� sao con người phải lu�n hồi sanh tử. Ng�i thấy r� r�ng, kh�ng nghi ngờ g� hết. N�n sau đ� Ng�i đến vườn Lộc Uyển, giảng b�i ph�p đầu ti�n cho năm anh em �ng Kiều Trần Như nghe. Đ� l� b�i ph�p Tứ Diệu Đế. Ng�i chỉ r� quả đau khổ v� nh�n g�y ra đau khổ; chỉ cho quả giải tho�t v� nh�n tu sẽ được giải tho�t. Đ� l� do Phật tu chứng được n�n Ng�i n�i ra, chớ kh�ng phải như c�c triết gia suy luận rồi n�i. V� vậy Phật dạy ch�ng ta tr�n đường tu, phải l�m sao đạt được kết quả tốt đẹp, l�m sao tu cho cuộc đời của m�nh hiện tại an vui, hạnh ph�c, lợi �ch cho ch�ng sinh. Khi chết đi sinh trở lại, được l�m người tốt đẹp hơn, cao qu� hơn. Tu l� như vậy. Ở đ�y, điểm quan trọng t�i muốn nhấn mạnh: Tu l� dừng nghiệp, l� chuyển nghiệp v� sạch nghiệp. Dừng nghiệp, tức l� dừng những nghiệp �c, ch�ng ta kh�ng tạo những tội lỗi phải chịu khổ đau nữa. Vậy tu dừng nghiệp bằng c�ch n�o? Trong nh� Phật dạy, d� tại gia hay xuất gia, khi bước ch�n v�o đạo, trước ti�n phải g�n giữ giới luật. G�n giữ giới luật l� tu dừng nghiệp. Tại sao? Bởi v� đức Phật thấy r� r�ng, con người khi n�ng giận hay tham lam rất l� cuồng loạn. Điều tội �c n�o người ta cũng c� thể l�m được. M� tạo tội �c th� phải đọa, phải chuốc quả đau khổ. V� vậy Phật dạy phải giữ những điều giới, đừng tạo �c. Kh�ng tạo �c th� khỏi đọa. Như h�ng Phật tử tại gia, đức Phật dạy phải giữ năm giới: 1- Kh�ng được s�t sanh. 2- Kh�ng được trộm cướp. 3- Kh�ng được t� d�m. 4- Kh�ng được n�i dối. 5- Kh�ng được uống rượu, kh�ng được h�t � phiện, x� ke, ma t�y. Năm điều đ� cần phải g�n giữ cho đ�ng. Như người nam khi chưa biết tu, c� ai rủ uống rượu th� sao? Tuy ban đầu chưa biết uống, nhưng bạn b� rủ th� vị t�nh, uống rồi th�nh ghiền. Ghiền rồi th�nh say. Đối với � phiện, x� ke, ma t�y cũng vậy. Trước đ�u c�, cha mẹ sanh ra đ�u c� ghiền. Do bị bạn b� rủ r� m� kh�ng biết tu mới nh�o theo. Nh�o theo rồi th� hư một đời, hại gia đ�nh, hại x� hội. N�n Phật cấm những điều đ� l� thương hay l�m kh� khăn m�nh? Đ� l� Phật thương. Bởi rượu, � phiện, x� ke, ma t�y l� hố s�u nguy hiểm, Phật muốn cho ch�ng ta kh�ng rớt v�o hố đ�, n�n mới d�ng h�ng r�o giới luật để chặn. Th� dụ Phật tử đ� thọ ngũ giới rồi, nếu bạn b� tới rủ uống rượu, liền n�i: "T�i đ� thọ giới Phật rồi, kh�ng được uống rượu. Th�i, t�i xin kh�ng uống". Như vậy l� ngăn chặn m�nh tạo tội. Nếu kh�ng thọ, kh�ng giữ giới th� bạn b� rủ cứ ngồi uống c� sợ g� đ�u. Rồi tới ăn trộm, ăn cướp, cho đến giết người� trong những việc đ� c� g� b�nh an kh�ng hay việc n�o cũng khổ. M�nh l�m cho m�nh khổ, m�nh l�m cho người kh�c cũng khổ, cứ khổ l�y với nhau. B�y giờ Phật cấm kh�ng được giết người, d� giận bao nhi�u đi nữa, cũng kh�ng d�m động đến sinh mạng của người kh�c, đ� l� tu. Tu l� giữ giới. Cho n�n bước đầu v�o đạo, Phật bảo phải giữ năm giới. Ch�ng ta hứa giữ để trong l�ng l�c n�o cũng nhớ kh�ng được l�m c�c việc đ�. Nhờ hứa với Phật, hứa với qu� thầy như vậy, kh�ng d�m qu�n n�n kh�ng tạo tội. Đ�y gọi l� dừng nghiệp. Ch�ng ta đối nơi th�n, nơi miệng, nơi � thường hay bu�ng lung tạo tội. Th� dụ nơi th�n, trẻ nhỏ thấy con chim đậu tr�n c�nh c�y, n� l�m sao? N� muốn bắn. Nhiều khi con chim nhỏ x�u kh�ng đ�ng g� hết, kh�ng được một miếng ăn nữa, m� cũng cứ bắn. Thấy con c�c, con nh�i, muốn lấy đ� chọi v. v� B�y giờ m�nh biết tu th� việc g� kh�ng c� lợi cho m�nh, cho người m� l�m đau khổ ch�ng sanh th� đừng l�m. Nhờ kh�ng l�m n�n kh�ng khổ cho những con vật nhỏ, kh�ng khổ cho người. Như vậy nhờ biết g�n giữ giới, kh�ng l�m việc �c, đ� l� ch�ng ta tu. Đến miệng, ch�ng ta to�n n�i l�nh hay cũng c� khi n�i dữ? C� người n�o n�i l�nh suốt đời chưa, hay khi vui th� n�i l�nh, khi giận th� n�i dữ. B�y giờ ch�ng ta biết tu rồi, vui n�i l�nh m� giận th� th�i, l�m thinh, đừng n�i g� cả. Bởi v� nếu n�i th� sẽ n�i bậy, n�i tội lỗi. Cho n�n khi giận, l�m thinh bỏ qua, một hồi sẽ hết. Ch�ng ta giữ th�n kh�ng l�m đau khổ cho ch�ng sanh, miệng kh�ng n�i lời dữ, lời �c khiến người khinh miệt m�nh. Đ� l� bảo vệ gi� trị tinh thần đạo đức của m�nh. Qu� Phật tử thấy khi giận lời n�i c� gi� trị thật kh�ng? Th� dụ khi giận người ta n�i "M�y l� con ch�", n�i thế m� m�nh c� th�nh con ch� đ�u. Nếu tỉnh t�o, m�nh sẽ trả lời: "T�i đ�u c� bốn ch�n đ�u m� th�nh con ch�". Nhưng đằng n�y, nghe n�i con ch� liền muốn t�t tai người ta, như vậy v� t�nh m�nh nhận l� ch� rồi. Bởi vừa n�i ch� l� m�nh cắn liền, phải kh�ng? Khi n�ng giận người ta dễ đi�n cuồng, kh�ng c� ch�t g� kh�n ngoan, s�ng suốt cả. Cho n�n khi n�ng giận cần phải im lặng, đ� l� người kh�n, người kh�o tu. Như vậy ch�ng ta tu th�n, tu miệng v� tu lu�n cả � nữa. � của qu� vị nghĩ tốt nhiều hay nghĩ xấu nhiều? C� khi xấu nhiều tốt �t, c� khi tốt nhiều xấu �t, tốt xấu lẫn lộn. B�y giờ tu rồi khi nghĩ một điều g� xấu, ch�ng ta biết đ� l� bậy, l� tội lỗi n�n kh�ng nghĩ nữa, cấm n� như vậy l�u dần th�nh quen. Nghĩ tốt th� cho nghĩ, nghĩ xấu th� dừng. Đ� l� ch�ng ta tu. Nếu người th�n kh�ng l�m những điều xấu �c, miệng kh�ng n�i những lời dữ, � kh�ng nghĩ những điều bậy xấu, th� người đ� l� người tốt. Người ta n�i tu hiền, nhưng hiện nay c� nhiều người tu m� chưa hiền. Ăn chay th� ăn m� kh�ng hiền ch�t n�o cả. Bởi tu kh�ng phải chỉ ăn chay m� tu l� sửa th�n đừng l�m tội lỗi, miệng đừng n�i tội lỗi, � đừng nghĩ tội lỗi. C�n ăn chay, ăn mặn chỉ l� phần phụ th�i. Người ăn mặn m� n�i năng đ�ng ho�ng hiền l�nh, c�n người ăn chay m� la lối bậy bạ th� ai hơn ai? Hiểu vậy qu� vị mới thấy lẽ thật của sự tu. Ngay trong đời sống n�y phải tạo cho m�nh một cuộc sống c� gi� trị. Nếu trong gia đ�nh hai vợ chồng đều biết tu. Chồng kh�ng l�m bậy, kh�ng n�i bậy, kh�ng nghĩ bậy, vợ cũng vậy th� gia đ�nh đ� đầm ấm, hạnh ph�c kh�ng? Sở dĩ ng�y nay gia đ�nh chia ly, đau khổ, l� v� người ta kh�ng biết tu. Tu dừng nghiệp l� đừng l�m bậy, đừng n�i bậy, đừng nghĩ bậy th�i, chứ chưa l�m g� hay tốt. Bao nhi�u đ� cũng kh� rồi. L�u nay người ta quen bu�ng lung, b�y giờ chặn lại n�n kh�, chớ việc đ� đ�u phải kh�. Nếu giận người ta m� m�nh l�m thinh, kh�ng la lối g� hết. Một hồi cơn giận sẽ ngu�i, v� từ từ m�nh qu�n hết. Qu�n hết th� c� thiệt th�i g� cho m�nh đ�u. C�n n�ng chửi người ta, người ta đ�nh lại m�nh th� sẽ sinh ra bao nhi�u chuyện rắc rối, bao nhi�u phiền n�o v� tội lỗi kh�c nữa. Tất cả ch�ng ta ai cũng cần phải tu để trở th�nh người hay tốt. Đ� l� người kh�n ngoan, s�ng suốt. Nếu để th�n miệng � lăng xăng lộn xộn ho�i, đ� l� người xấu, người dở. T�i đ� n�i phần tu l� dừng nghiệp. Kế đến phần tu l� chuyển nghiệp. Chuyển l� đổi. Chuyển nghiệp l� chuyển đổi nghiệp của m�nh. T�i thường hay n�i, Phật tử ch�ng ta hiểu nghĩa chữ tu dở hơn cả mấy ch� sửa xe honda nữa. Tại sao vậy? V� mấy ch� đ� gọi sửa xe hư �t l� "tiểu tu", xe hư nhiều hơn l� "trung tu", xe hư thật nhiều l� "đại tu". C� khi n�o m�nh đem chiếc xe cũ hư đi sửa, tới ng�y lấy n� y nguy�n như cũ m� m�nh vẫn chịu kh�ng? Đ�u c�. Phải sửa tốt hơn ng�y m�nh giao xe mới được. Như vậy tu l� sửa từ c�i hư, c�i xấu trở th�nh c�i tốt, c�i hay. Người biết sửa l� người biết tu. Qu� Phật tử tu bao nhi�u năm rồi, c� biết sửa chưa hay chỉ xin Phật th�i. C� g� buồn, lạy Phật: "Phật cứu độ con", "Phật cho con hết bệnh hoạn", "cho con hết tai nạn" v. v� Nếu tu như vậy chắc Phật cũng lắc đầu, kh�ng biết n�i sao. Bởi đức Phật từng bảo rằng: "Ta kh�ng c� quyền ban phước, xuống họa cho ai". Nếu Ng�i ban phước xuống họa cho người, th� Ng�i kh�ng dạy m�nh tu dừng nghiệp, chuyển nghiệp, kh�ng dạy tu nh�n quả. Nh�n tạo l�nh th� được hưởng quả l�nh; nh�n tạo �c th� phải chịu quả �c. Phật chỉ dạy ch�ng ta biết thế n�o l� tội phải tr�nh, thế n�o l� phước n�n l�m, đ� l� dạy ch�ng ta tu. Phật tử b�y giờ kh�ng chịu tu, c� việc g� liền chạy xin Phật cho nhanh. Chỉ tốn c� một dĩa quả, một b� nhang l� xong. Phật tử xin th� xin, chứ Phật đ�u c� cho được. L�u nay Phật tử ch�ng ta cứ tu như vậy, kh�ng cần biết đ�ng hay sai với � nghĩa chữ tu trong nh� Phật g� cả. Bởi tu kh�ng đ�ng � nghĩa, n�n c�ng tu c�ng thấy lung tung. Trong nh� sanh chuyện phiền n�o với nhau; ra phố đi đ�u đụng đ�. Nếu biết tu đ�ng với những lời Phật dạy th� c�ng tu gia đ�nh c�ng hạnh ph�c, c�ng tu l�ng giềng c�ng mừng vui, được gần người hiền, người l�nh. Như vậy chuyển nghiệp l� chuyển thế n�o? Từ nghiệp xấu ng�y xưa đ� l�m, b�y giờ đổi th�nh nghiệp tốt. Như khi xưa m�nh tạo những h�nh động xấu xa, l�m đau khổ cho người, b�y giờ m�nh dừng kh�ng l�m việc ấy nữa. Ngang đ� m�nh khỏi tội lỗi, nhưng chưa được bao nhi�u phước. N�n b�y giờ kh�ng l�m khổ người, m� c�n l�m lợi �ch, gi�p đỡ cho người được vui vẻ. Đ� l� chuyển nghiệp xấu th�nh nghiệp tốt. Chuyển được th�n nghiệp l� l�m c�c việc l�nh, gi�p người n�y cứu kẻ kia. Mọi người được an vui th� người đ� trở th�nh người tốt, đ�ng khen. Đ� l� tu chuyển nghiệp về th�n. Miệng ch�ng ta ng�y xưa n�i dữ n�i dối, b�y giờ biết tu rồi kh�ng n�i dữ, kh�ng n�i dối, m� c�n n�i lời hiền h�a, dễ thương, n�i lời ch�n thật. Gặp người buồn khổ, n�i lời an ủi cho người bớt khổ. Người kh�ng hiểu đ�ng lẽ thật, n�i cho người hiểu đ�ng lẽ thật, đ� l� tu. Chuyển nghiệp xấu của th�n th�nh nghiệp tốt của th�n; chuyển nghiệp xấu của miệng th�nh nghiệp tốt của miệng; chuyển nghiệp xấu của � th�nh nghiệp tốt của �. Nếu c� g� phiền h� l�m cho m�nh kh� chịu, vừa muốn giận liền tự nhắc "kh�ng được giận", "giận l� xấu, bỏ". N�n nghĩ người l�m sai l� người đ�ng thương, chứ kh�ng đ�ng giận. Như vậy chuyển từ gh�t giận trở th�nh thương mến, t�m hung dữ trở th�nh t�m từ bi. Như vậy l� tu. Tu l� từ nghiệp xấu chuyển th�nh nghiệp tốt. Việc n�y dễ l�m hay kh� l�m? Dừng nghiệp đ� l� kh� rồi, huống nữa phải l�m c�i tốt. Ch�nh v� vậy người tu mới được thế gian k�nh phục. Nếu trong x� hội, trong gia đ�nh, ai cũng biết chuyển nghiệp xấu th�nh nghiệp tốt hết th� gia đ�nh đ� thế n�o? Gia đ�nh đ� ho�n to�n được hạnh ph�c, x� hội cũng tốt đẹp theo. N�n biết ch�ng ta tu l� đem lại sự an vui, hạnh ph�c cho m�nh, cho mọi người. Trong kinh Phật dạy rất r�: "Ch�ng sanh tạo nghiệp từ th�n, miệng, �". Cho n�n sau khi giữ năm giới rồi, Phật tử phải tu th�m Thập thiện. Giữ năm giới l� dừng được nghiệp �c, tu Thập thiện l� chuyển nghiệp �c th�nh nghiệp l�nh. Hồi xưa, m�nh thường hay giết hại th� ng�y nay thương ch�ng sanh. Thấy ch�ng sanh n�o bị bắt, sắp bị giết hại, m�nh mua thả. Ng�y xưa thay v� giết, b�y giờ lại cứu. Hồi xưa m�nh tham lam trộm cắp của người ta, b�y giờ c� duy�n m�nh bố th�. Hồi xưa m�nh c� những hạnh xấu kh�ng trinh bạch, b�y giờ tập tu hạnh trinh bạch. Như vậy thay v� th�n c� ba nghiệp s�t sanh, trộm cắp, t� d�m; b�y giờ m�nh chuyển ba nghiệp đ�. S�t sanh chuyển th�nh ph�ng sanh, trộm cướp chuyển th�nh bố th�, t� d�m chuyển th�nh trinh bạch. Được vậy đời m�nh tốt đẹp v� c�ng. Ng�y xưa hay n�i dối, hay n�i hung dữ, b�y giờ Phật dạy chuyển th�nh bốn thứ: n�i lời ch�n thật, n�i lời h�a �i, n�i lời h�a hợp, n�i lời đ�ng l�. Thay v� n�i dối gạt, th� b�y giờ ch�ng ta n�i lời ch�n thật. Chuyển lời nặng nề �c độc th�nh lời h�a nh� dễ thương. Đ� l� chuyển bốn nghiệp nơi miệng. Kế đến chuyển nơi �. � ch�ng ta thường dễ sanh tham lam, khi tu dừng được tham lam rồi, ch�ng ta phải tập hỷ xả. Hỷ xả tức l� tha thứ, l� bu�ng bỏ. Th� dụ ng�y xưa, ch�ng ta l�m một muốn được hai, l�m hai muốn được ba bốn� cứ muốn chồng l�n. B�y giờ ch�ng ta l�m việc vừa phải, c� đủ cho cuộc sống m�nh b�nh an th�i. Phần dư vui vẻ đem ra gi�p đỡ cho những người thiếu, đ� gọi l� hỷ xả. Ng�y xưa ch�ng ta hay n�ng giận. Giận người n�y giận người nọ, th� ng�y nay tập l�ng từ bi thương x�t mọi người, để m�nh kh�ng khổ, m� m� người cũng kh�ng khổ. N�i tới từ bi ch�ng ta thấy rất kh�. Tại sao? V� ở đời c� người ăn n�i dễ thương, c� người ăn n�i kh� thương. C� người tư c�ch dễ thương, c� người tư c�ch kh� thương� n�n m�nh cũng kh� thương. B�y giờ từ bi l� phải thương tất cả, th� l�m sao m� thương đ�y? Th� dụ khi v�o bệnh viện t�m thần, ch�ng ta bị những người đi�n trong đ� k�u t�n m�nh chửi, hoặc nhổ nước bọt l�n m�nh v. v� l�c đ� ch�ng ta thế n�o? Cự lộn với họ hay l� thương họ. M�nh kh�ng c� lỗi lầm g� với họ, m� họ chửi m�nh, rồi c�n phun nước bọt v� m�nh, dễ giận kh�ng? Nhưng nếu giận, m�nh cự lộn với họ th� người chung quanh sẽ n�i sao? Đ�nh lộn với kẻ đi�n th� chỉ c� người đi�n mới l�m th�i. Người ta đi�n cho n�n l�m bậy, c�n m�nh tỉnh phải thương họ, chứ đ�u n�n giận. Phật tử x�t kỹ, những người m�nh kh�ng l�m quấy, kh�ng l�m điều tội lỗi với họ, m� người ta n�i m�nh quấy, m�nh c� tội lỗi th� m�nh n�n nghĩ: "Chuyện kh�ng c� m� họ n�i, đ� l� họ kh�ng tỉnh s�ng. Người kh�ng tỉnh s�ng l� người đ�ng thương, chớ kh�ng đ�ng giận. M�nh đang tỉnh s�ng th� kh�ng n�n hơn thua với người kh�ng tỉnh s�ng. Nhớ như vậy ch�ng ta sẽ c� l�ng từ bi dễ d�ng, kh�ng kh�. Cứ thế m�nh tập t�m từ bi c�ng ng�y c�ng lớn l�n, đ� l� tu. T�m ch�ng ta thường ng�y hay si m�, nghĩ sai trật, nghĩ lầm m� ch�ng ta tưởng l� đ�ng. Như Phật tử đến th�ng hai th�ng ba, thường l�n n�i Sam để vay tiền B� về l�m ăn phải kh�ng? Đ� l� điều kh�ng c� lẽ thật, thế m� Phật tử vẫn tin l�m. Nếu tới miếu B� vay tiền về l�m ăn, ai cũng gi�u hết, th� từ Long Xuy�n l�n Ch�u Đốc người ta cất nh� ng�i hết. Nhưng qu� vị thấy nơi đ� c� nh� ng�i hết chưa? Kế cận miếu B� dại g� kh�ng v� vay tiền l�m ăn cho được gi�u. R� r�ng điều n�y đ�u c� đ�ng. Một việc kh�ng c� l� như vậy, nh� Phật gọi l� t� kiến. Tức hiểu biết sai lầm, kh�ng đ�ng sự thật. Thế m� Phật tử vẫn nghe theo, kh�ng phải sai lầm l� g�? Phật tử ch�ng ta phải c� một nhận định đ�ng đắn mới gọi l� tu. Nếu hiểu sai lầm như vậy kh�ng phải l� tu. Ch�ng ta tu l� để đem lại an vui, đem lại lợi �ch cụ thể, thiết thực cho m�nh cho người. Phật tử tin được l� nh�n quả, hiểu r� gieo nh�n th� gặt quả, nh�n l�nh th� quả l�nh, nh�n �c th� quả �c. V� như người n�ng phu phải lựa giống tốt gieo xuống ruộng, th� tới m�a thu hoạch mới được l�a tốt, nhiều. Nếu gieo giống xấu th� kết quả xấu, kh�ng nghi ngờ. Tuy nhi�n kh�ng hẳn đơn giản giống tốt th� được quả tốt hết. Giống tốt c�n phải biết b�n ph�n, nhổ cỏ, coi chừng s�u rầy, nước n�i nữa, đ� l� những duy�n phụ. Duy�n ch�nh l� ch�nh nh�n tức hạt giống, duy�n phụ l� những điều kiện trợ gi�p cho ch�nh nh�n ph�t triển, đi đến kết quả tốt đẹp. Nếu c� người n�ng d�n tới m�a l�a m� kh�ng chịu gieo mạ, cứ chắp tay nhờ trời Phật cho con năm nay được tr�ng m�a th� c� trời, Phật n�o cho được kh�ng? Ch�ng ta cũng như vậy, chỉ cầu xin m� kh�ng chịu tạo nh�n tốt th� đ�i quả tốt sao được. Điều đ� kh�ng hợp với lẽ thật, kh�ng đ�ng với ch�nh ph�p. Cho n�n người Phật tử ch�ng ta phải thấy, phải hiểu cho đ�ng, đừng để sai lầm. Nếu sai lầm th� tự m�nh khổ v� cũng l�m cho người kh�c khổ nữa, chứ kh�ng c� lợi �ch g�. T�i đ� n�i hai phần, tu l� dừng nghiệp �c v� tu l� chuyển nghiệp �c th�nh nghiệp thiện rồi. Kế đến t�i sẽ n�i tu l� l�m cho sạch nghiệp. Tất cả c�c nghiệp ch�ng ta đ� tạo, ng�y nay biết tu ch�ng ta phải gột rửa hết. Như vậy muốn tu sạch nghiệp, phải tu bằng c�ch n�o? Về điểm n�y, t�i sẽ hướng dẫn từ từ. Nếu người tu Tịnh độ muốn được sạch nghiệp phải l�m sao? Trong kinh Di Đ� dạy ch�ng ta niệm Phật phải nhiếp t�m cho thanh tịnh. Do t�m thanh tịnh mới kh�ng nhớ bậy, kh�ng nghĩ bậy. Nghĩa l� muốn t�m sạch th� phải nhớ Phật, phải niệm Phật, đừng nhớ chuyện hơn thua, phải quấy của thế gian, th� t�m dần dần trong sạch. V� vậy muốn nghiệp sạch ho�n to�n th� phải r�ng tu cho mi�n mật. Phật dạy người tu đến chỗ giải tho�t, hết khổ đau, hết sanh tử th� hết nghiệp. V� nghiệp dẫn m�nh đi trong lu�n hồi, b�y giờ muốn hết lu�n hồi th� phải sạch nghiệp. N�n muốn sạch nghiệp th� ch�ng ta phải tu đến nơi đến chốn, chứ kh�ng thể tu lơ l� được. Ng�y nay nhiều Phật tử hay ỷ lại m�nh c�n khỏe, c�n trẻ lo l�m ăn đ�, chừng n�o gi� h�y niệm Phật r�t th� Phật sẽ đ�n. Tu như vậy khỏe. Phật tử tưởng tượng điều đ� đơn giản như thế, nhưng n� lại kh�ng c� lẽ thực. Như trong kinh Di Đ� n�i, ch�ng ta niệm Phật từ một ng�y, hai ng�y, ba ng�y cho đến bảy ng�y nhất t�m bất loạn. Khi sắp chết Phật v� Th�nh ch�ng mới đ�n về Cực Lạc. Nếu nhất t�m từ một ng�y, hai ng�y, ba ng�y đến bảy ng�y th� t�m c� c�n nghĩ g� kh�c Phật kh�ng? Khi đ� t�m thanh tịnh tức nghiệp cũng thanh tịnh. Như vậy l� sạch c�c nghiệp xấu rồi. T�i thường n�i trong ba nghiệp th�n, miệng, � th� trọng t�m l� � nghiệp. � nghĩ xấu th� miệng n�i xấu, th�n l�m xấu. � nghĩ tốt th� miệng n�i tốt, th�n l�m tốt. Như vậy gốc l� �. V� vậy Phật dạy phải nhắm thẳng v�o �. � ho�n to�n trong sạch th� hết nghiệp, hết nghiệp th� được Phật đ�n về Cực Lạc kh�ng nghi. Nếu niệm sơ sơ, c�n t�nh l�m ăn đủ thứ th� chắc Phật kh�ng đ�n được đ�u. Nhiều Phật tử tu, mang x�u chuỗi m� vẫn c�n t�nh to�n hơn thua nhiều qu� th� l�m sao m� Phật rước qua b�n đ� được. Lại c� người bảo m�nh mang nghiệp về T�y phương, thủng thẳng tu nữa cũng được. Điều đ� t�i kh�ng tin. V� dụ một con ch� ghẻ l�c bị x� m�u ăn, n� nằm dưới đất. B�y giờ bảo đem n� l�n lầu ba cho hết x� m�u, c� được kh�ng? Muốn n� hết x� m�u th� phải trị thuốc. Trị l�nh rồi th� ở dưới đất hay tr�n lầu g� n� cũng mạnh. Ch�ng ta ngay đ�y tu cho sạch nghiệp, th� dầu được về Cực Lạc hay ở đ�y, m�nh cũng thanh tịnh, an vui như ở Cực Lạc vậy th�i. Đ� l� một lẽ thật. N�n trong kinh Di Đ�, đức Phật dạy phải niệm Phật cho tới bảy ng�y được nhiếp t�m bất loạn, khi l�m chung Phật v� Th�nh ch�ng mới hiện ở trước, rước về c�i Phật. B�y giờ t�i n�i tới những vị tu Thiền. Trước ti�n l� tu theo thiền Nguy�n thủy. Trong kinh Đại niệm xứ của bộ A H�m, Phật c� dạy rằng: Người n�o qu�n Tứ niệm xứ: Qu�n th�n dơ nhớp, qu�n cảm thọ l� khổ, qu�n t�m v� thường, qu�n c�c ph�p v� ng�. Qu�n như vậy suốt ng�y, kh�ng nghĩ g� kh�c, từ một ng�y, hai ng�y, ba ng�y, bốn ng�y cho tới bảy ng�y, người đ� sẽ chứng từ quả A Na H�m đến quả A La H�n. Như vậy Phật dạy d� tu Tịnh độ hay tu Thiền cũng phải nhiếp t�m, chuy�n nhất. Một b�n niệm danh hiệu Phật, một b�n qu�n Tứ niệm xứ. Do qu�n n�n thấy r� trong nội t�m, bu�ng sạch hết kh�ng nghĩ g� kh�c. Nhờ kh�ng nghĩ g� kh�c, t�m mới được trong sạch. T�m trong sạch l� nghiệp trong sạch. Nghiệp trong sạch n�n chứng quả. Chứng quả l� kh�ng c�n trầm lu�n trong sanh tử nữa. Đ� l� tu theo thiền Nguy�n thủy. Kế đến t�i n�i tu theo Thiền t�ng. Ch�ng t�i hướng dẫn Tăng Ni v� Phật tử tu thiền l� xoay trở lại qu�n s�t ch�nh m�nh. Khi vừa mới khởi niệm nghĩ người n�y, người nọ liền bu�ng, đừng chạy theo niệm. Như vậy từ một ng�y, hai ng�y tới bảy ng�y, đi đứng ngồi nằm đều bu�ng hết c�c tạp niệm, kh�ng theo n�. Lần lần n� lặng, kh�ng khởi c�c niệm th� t�m thanh tịnh. Bởi v� khởi niệm l� nghĩ tốt, nghĩ xấu, l� tạo nghiệp. B�y giờ hết nghĩ, lặng lẽ trong sạch, đ� l� thanh tịnh. Thanh tịnh th� nghiệp hết. Từ đ� nhận ra bản t�m thanh tịnh của m�nh. Ch�nh bản t�m n�y mới kh�ng bị nghiệp dẫn đi trong lu�n hồi sanh tử nữa. T�i thường hay dẫn c�u chuyện vua Trần Nh�n T�ng khi c�n l� Th�i thượng ho�ng, Ng�i c� l�m b�i ph� "Cư trần lạc đạo", (ở c�i trần m� vui với đạo). Kết b�i ph� đ�, Ng�i d�ng bốn c�u kệ chữ H�n, c�u ch�t Ng�i n�i rất r� r�ng: đối cảnh v� t�m mạc vấn thiền, tức l� đối với cảnh m� kh�ng c� một � niệm d�nh mắc th� đừng hỏi chi thiền cho dư. Tại sao? V� khi t�m kh�ng chạy theo cảnh, kh�ng d�nh mắc cảnh, đ� l� thiền rồi. Như vậy để thấy tất cả ph�p của Phật d� Tịnh độ, thiền Nguy�n thủy hay Thiền t�ng đều dạy ch�ng ta tu cho sạch hết nghiệp. M� nghiệp ph�t xuất từ � cho n�n � lặng, � được nhất t�m, đ� l� trong sạch. Trong sạch th� được thấy Phật, được chứng quả, được thể nhập ho�n to�n ph�p th�n. Chuyện tu r� r�ng như vậy, kh�ng c� g� nghi ngờ nữa. Tất cả ch�ng ta tu phải đi từ bậc. Bậc thứ nhất l� dừng nghiệp, bậc thứ hai l� chuyển nghiệp, bậc thứ ba l� sạch nghiệp. Qu� Phật tử muốn tu dừng nghiệp, trước phải ph�t t�m qui y, nguyện giữ năm giới, để đừng sa v�o hố tội lỗi. Chặn đứng kh�ng sa v�o hố tội lỗi rồi, kế đ� mới tiến qua bước thứ hai l� l�m lợi �ch cho người, tạo phước l�nh cho m�nh. Đến giai đoạn thứ ba, ch�ng ta biết tất cả nghiệp từ � m� sanh cho n�n m�nh dừng niệm. Thanh lọc t�m � trong sạch l� l�m cho sạch nghiệp. Sạch nghiệp th� được giải tho�t sanh tử. Phật tử giữ được năm giới th� hiện tại trong gia đ�nh h�a vui, trong x� hội m�nh l� người lương thiện, tốt đẹp. Đời sau do kh�ng phạm giới s�t sanh n�n tuổi thọ d�i. Kh�ng phạm giới trộm cướp n�n gi�u c�. Kh�ng phạm giới t� d�m n�n đẹp đẽ trang nghi�m. Kh�ng phạm giới n�i dối n�n n�i năng lưu lo�t, ai cũng tin qu�. Kh�ng phạm giới uống rượu, x� ke ma t�y n�n tr� tuệ minh mẫn. Tu theo ph�p ấy gọi l� Nh�n thừa Phật gi�o, tức đời n�y l� người tốt, đời sau c�ng tốt hơn. Sang bước thứ hai, l�m mười điều l�nh gọi l� tu Thi�n thừa Phật gi�o, tức tiến th�m một bậc nữa. C�ng đức của m�nh tốt đẹp hơn, xứng đ�ng hơn n�n được sanh c�c c�i trời. Người chuy�n l�m nghiệp l�nh, kh�ng tạo nghiệp dữ th� được sanh c�i trời. Đến bước thứ ba l� tu sạch nghiệp. Đ�y l� chặng đường của h�ng xuất gia, tu để giải tho�t sinh tử. Tuy nhi�n, n�i vậy kh�ng c� nghĩa l� ph�p tu n�y chỉ d�nh ri�ng cho người xuất gia. Nếu người xuất gia kh�ng l�m đ�ng như vậy th� cũng kh�ng ra khỏi sanh tử. C�n người tại gia tu sạch được nghiệp rồi cũng ra khỏi sanh tử như thường. Cho n�n nhiều Phật tử kh�ng hiểu, cứ nghĩ rằng phải v� ch�a, cạo đầu như qu� Thầy, qu� C� tu mới giải tho�t. Nếu ở ch�a m� hay s�n hay giận, hoặc c�n tham lam th� c� giải tho�t nổi kh�ng? Giải tho�t l� do nghiệp sạch, t�m thanh tịnh, chớ kh�ng phải v� ch�a m� được giải tho�t. Bởi v� t�m l� gốc tạo nghiệp, nếu t�m kh�ng thanh tịnh th� nghiệp kh�ng sạch, nghiệp kh�ng sạch th� l�m sao giải tho�t được. Ch�ng ta tu l� phải l�m sao tiến l�n cho được sạch nghiệp. Mỗi khi Phật tử qui y đều được ph�t l� ph�i, trong l� ph�i c� b�i kệ: Chư �c mạc t�c Ch�ng thiện phụng h�nh Tự tịnh kỳ � Thị chư Phật gi�o. Dịch: Chớ l�m c�c điều �c V�ng l�m c�c việc l�nh Giữ t�m � trong sạch L� lời chư Phật dạy. Chớ l�m c�c điều �c l� dừng nghiệp. Giữ năm giới, kh�ng l�m c�c điều �c l� dừng nghiệp. V�ng l�m c�c việc l�nh l� chuyển nghiệp. Nghiệp xấu chuyển th�nh nghiệp tốt. Giữ t�m � trong sạch l� sạch nghiệp. L� lời chư Phật dạy, Phật Th�ch Ca dạy như vậy, Phật Di Đ� cũng dạy như vậy. Tất cả chư Phật đều dạy như vậy hết, chứ kh�ng ri�ng một đức Phật n�o. Như vậy qu� vị thấy rằng chỉ thuộc một b�i kệ đ�, tu h�nh ch�n ch�nh cũng đủ rồi. Qu� vị nhớ giữ năm giới cho trọn l� dừng được c�c nghiệp �c. Từ giữ năm giới rồi, tập l�m th�m c�c việc l�nh. Th�n l�m l�nh, miệng n�i l�nh, � nghĩ l�nh. Nhưng n�i th�n l�m l�nh, c� nhiều Phật tử lại hiểu l� phải bố th�, l�m phước mới được. Gặp trường hợp m�nh ngh�o qu� l�m sao bố th�. Đừng nghĩ vậy, v� trong nh� Phật dạy bố th� c� ba: Một l� t�i th�, tức đem tiền của gi�p người. Hai l� ph�p th�, tức đem ph�p cho người. Ba l� v� �y th�, tức đem kh�ng sợ h�i đến với người. Lại trong t�i th� c� ph�n l�m hai: Một l� ngoại t�i, hai l� nội t�i. Ngoại t�i tức đem tiền của hoặc đồ đạc gi�p người ta. Nội t�i l� đem c�ng sức từ ch�nh bản th�n m�nh ra gi�p người. V� dụ như Phật tử biết đ�nh gi�, c� người h�ng x�m b�n cạnh bị tr�ng gi�, m�nh liền hoan hỷ đ�nh gi�, gi�p cho người ta hết bệnh, đ� bố th� nội t�i. Như vậy người ngh�o cũng c� thể bố th� vậy. Hoặc khi ra đường qu� Phật tử thấy một cụ gi� lụm cụm muốn băng qua đường, m� xe cộ nhiều qu� qua kh�ng được, m�nh cầm tay cụ đưa gi�m qua đường, đ� l� bố th� nội t�i. C�n như người tu kh�ng c� nội t�i, ngoại t�i th� bố th� ph�p. Đem ph�p n�i cho qu� Phật tử nghe, gi�p Phật tử nhận r� ch�nh t�. Thế n�o l� đạo đức, thế n�o l� phi đạo đức, gi�p qu� Phật tử hiểu, sống v� ứng dụng Phật ph�p v�o cuộc sống để th�n t�m lu�n được an vui, đ� l� bố th� ph�p. Như vậy ở thế gian ai cũng c� thể bố th� cả, chứ kh�ng phải chỉ gi�u mới bố th� được. C�n ph�p cũng đ�u chỉ hạn cuộc người tu mới c� thể bố th�, qu� Phật tử hiểu đạo r� r�ng rồi, thấy ai l�m sai l�m trật m�nh nhắc họ, chỉ cho họ sửa đổi cũng l� bố th� ph�p. Như vậy tất cả ch�ng ta đều c� quyền bố th� t�i, bố th� ph�p hết, chứ kh�ng phải ri�ng người n�o. Thứ ba l� bố th� v� �y. V� �y nghĩa l� sao? L� kh�ng sợ. V� dụ c� người đ� bệnh trầm trọng, c� thể qua kh�ng khỏi m� họ sợ chết qu�. B�y giờ m�nh giải th�ch cho họ hiểu con người sinh ra, c� sinh ắt phải c� tử, kh�ng ai tho�t khỏi. Hoặc tử sớm hoặc tử muộn th�i. B�y giờ anh hay chị đi trước th� ch�ng t�i cũng đi sau, chứ c� ai ở lại m�i được đ�u. Ch�ng ta an ủi gi�p họ bớt sợ h�i, đ� l� bố th� v� �y. Hoặc như c� đứa b�, ban đ�m đi tr�n những đoạn đường vắng qu�, n� sợ ma th� m�nh đốt đuốc, nắm tay dẫn n� về nh�, đ� l� bố th� v� �y. Nhiều lắm, kh�ng biết bao nhi�u việc để ch�ng ta l�m. Trong những hạnh bố th� n�y, ai ai cũng c� thể l�m được, chớ kh�ng ri�ng qu� Thầy, qu� C� mới l�m được. Cho n�n người tu theo đạo Phật l� phải giữ g�n ba nghiệp th�n, miệng, � của m�nh, chứ kh�ng phải tu chỉ biết ăn chay, chỉ biết đến ch�a c�ng Phật l� đủ. Ng�y xưa ở Trung Quốc v�o đời Đường, c� một Thiền sư, người ta chưa biết Ng�i t�n g�, nhưng thấy Ng�i tr�o l�n ch�ng ba c�y, chặt nh�nh kết lại th�nh chỗ ngồi giống như ổ quạ. Ng�i tọa thiền tr�n đ�, n�n người ta đặt t�n Ng�i l� � S�o Thiền sư. Ng�i tu được ngộ đạo. Ai nấy biết tin đều đồn đ�i khắp. L�c đ� c� một nh� thơ nổi tiếng l� Bạch Cư Dị rất h�m mộ Phật ph�p, nghe danh Ng�i �ng t�m tới. Thấy Ng�i ngồi tr�n ch�ng ba, �ng đứng ở dưới chắp tay hỏi: "Bạch H�a thượng, xin Ng�i dạy cho con ph�p yếu vắn tắt nhất để con tu. " Ng�i liền n�i b�i kệ: Chư �c mạc t�c Ch�ng thiện phụng h�nh Tự tịnh kỳ � Thị chư Phật gi�o. Nghe vậy �ng cười: "Thưa Ng�i, b�i kệ n�y đứa con n�t t�m tuổi cũng thuộc nữa, n�i chi con". Ng�i trả lời: "Phải, con n�t t�m tuổi cũng thuộc, nhưng �ng gi� t�m mươi l�m cũng chưa xong! ". Đ�, qu� Phật tử thấy chưa. C�u trả lời của Thiền sư cảnh tỉnh ch�ng ta rất nhiều. Ch�ng ta c� thể kh�ng l�m c�c điều �c lớn, chứ điều �c nhỏ vẫn phạm. Điều l�nh nhỏ đ� l�m, nhưng điều l�nh lớn cũng chưa l�m được. Rồi t�m � m�nh đ� thanh tịnh chưa? Điều n�y thật kh�, chớ kh�ng phải dễ. Cho n�n nghe qua th� đơn giản, nhưng ứng dụng tu cho đến nơi, đến chốn th� kh�ng phải l� dễ. Cho n�n tất cả qu� Phật tử biết đạo l� rồi phải d� dặt, canh chừng t�m của m�nh, canh chừng miệng của m�nh, canh chừng h�nh động nơi th�n của m�nh. Đừng cho n� hoặc v� t�nh hoặc cố � tạo những điều tội lỗi. Lẽ thực l� như vậy. Cho n�n n�i tới tu l� n�i tới nh�n lại m�nh nhiều hơn l� nh�n kẻ kh�c. Phải nhớ nh�n lại xem lời n�i m�nh c� ngay thẳng chưa, � nghĩ m�nh c� ch�n ch�nh chưa. Để từ đ� lo tu sửa lấy m�nh. Như vậy mới gọi l� người tu. Đa số Phật tử b�y giờ nh�n m�nh �t m� nh�n người th� nhiều, phải kh�ng? Người ta l�m quấy, l�m �c, khi chết họ đọa địa ngục, chớ đ�u phải m�nh đọa địa ngục. Can dự g� m�nh đ�u m� cứ lo nh�n người ta ho�i. Nh�n người dễ sanh ra bệnh hay ph� ph�n. M� ph� ph�n chắc g� đ� đ�ng? N�n tục ngữ ta c� c�u "suy bụng ta ra bụng người". Hễ ta kh�ng muốn th� người cũng chẳng ưa. Điều n�y đ�ng kh�ng? C� thể đ�ng m� cũng c� thể kh�ng đ�ng. Th� dụ kẻ gian tham trộm cướp, họ nghĩ những người hiền cũng như vậy. C�n người hiền lương đức hạnh, cho rằng ai cũng hiền lương đức hạnh hết th� đ�ng chưa? Đ� l� c�i nghĩ sai lầm. Như vậy ở đời ch�ng ta đừng chủ quan. Phải biết rằng những g� m�nh l�m, m�nh chịu tr�ch nhiệm v� cố gắng chuyển đổi nếu n� xấu, đ� mới th�nh c�ng. C�n chuyện của người kh�c l�m, người kh�c nghĩ th� họ sẽ c� quả ri�ng của họ, m�nh bận t�m lo chuyện của họ chi cho mất th� giờ, v� �ch. Nhưng thường thường ch�ng ta c� bệnh hay d�m ng� chuyện của kẻ kh�c. Chẳng những d�m ng� m� c�n cố t�nh nghe lỏm chuyện của người ta nữa. Thấy ai n�i r� r�, muốn gh� lại nghe coi họ n�i c�i g�. Nghe rồi liền nghĩ bậy, n�i bậy, l�m bậy. Thử hỏi l�m sao ba nghiệp thanh tịnh được. Ba nghiệp kh�ng thanh tịnh th� mong chi được giải tho�t! T�i nhắc lại c�u ch�t trong b�i kệ của vua Trần Nh�n T�ng: "Đối cảnh v� t�m mạc vấn thiền", nghĩa l� đối cảnh m� t�m m�nh kh�ng c� niệm khởi, kh�ng d�nh mắc, đ� l� thiền vậy. N�n người tu thiền l� người đối với mọi cảnh, kh�ng bị nhiễm, kh�ng bị d�nh, kh�ng bị kẹt. Cho n�n qu� vị thấy h�nh ảnh Phật Di Lặc c� s�u đứa nhỏ v�y quanh, đứa m�c lỗ tai, đứa m�c lỗ mũi, đứa m�c miệng, đứa thọc l�t, nhưng Ng�i vẫn cười. Tại sao? V� Ng�i đ� tự tại, kh�ng c�n d�nh mắc. Mấy đứa b� đ� tượng trưng cho s�u trần ở b�n ngo�i. M�c lỗ tai l� thinh trần, m�c lỗ mũi l� hương trần; m�c con mắt l� sắc trần v. v� N� quấy nhiễu m� Ng�i kh�ng d�nh mắc. Bởi kh�ng d�nh mắc n�n Ng�i l� Bồ-t�t. Ch�ng ta th� d�nh mắc đủ cả, nhiều nhất l� lỗ tai v� con mắt. Lỗ tai nếu nghe người ta chửi kh�ng th�m để � l� dễ, hay vừa nghe người ta chửi liền tức giận l� dễ? Nghe chửi m� kh�ng th�m để � l� hết sức kh�. C�n nghe người ta chửi m� nổi giận l�n th� con n�t cũng l�m được m�. Như vậy qu� Phật tử đừng sợ người ta n�i nặng n�i nhẹ m�nh. Khi nghe n�i nặng n�i nhẹ m� m�nh bỏ lơ kh�ng th�m vướng mắc, đ� kh�ng phải l� thua. M� ch�nh nhờ đ� sau n�y người ta mới k�nh m�nh. C�n nếu m�nh tranh hơn với nhau, c�i cho lanh, c�i cho thắng, th� sau n�y người ta cười chứ kh�ng c� g� hay hết. N�n nhớ người c� đạo đức kh�ng tranh gi�nh hơn thua. Quan trọng l� m�nh phải thắng m�nh. Một � niệm xấu m�nh liền biết, chận n� lại, một � niệm tốt m�nh liền biết v� cho n� tăng trưởng. Tu như vậy mới hay chứ kh�ng phải lắng nghe chuyện thi�n hạ l� hay. Ch�ng ta c� bệnh, khi n�i về m�nh chỉ to�n n�i tốt v� giấu c�i xấu. Tại sao giấu c�i xấu? V� kh�ng muốn bỏ, kh�ng muốn chừa n�n mới giấu. B�y giờ ch�ng ta biết tu rồi, c�i g� xấu, c�i g� dở phải thấy cho tường tận để chừa bỏ. C�n người kh�c m�nh chưa đủ khả năng gi�o h�a họ th� th�i, đừng b�y chuyện n�i qua n�i lại cho th�m phiền. Đ� l� qu� Phật tử biết tu v� kh�o tu. Như vậy b�i giảng h�m nay t�i chỉ cần kết th�c bằng bốn c�u kệ: Đừng l�m c�c điều �c V�ng l�m c�c việc l�nh Giữ t�m � thanh tịnh L� lời chư Phật dạy. Mong qu� vị nhớ b�i kệ n�y để việc tu c� kết quả tốt đẹp. ]
|
[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]