Thiền Tông Việt Nam

[Trang chu] [Kinh sach]

HOA V� ƯU

(Tập III)

[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]


ĐẠO PHẬT L� ĐẠO NHƯ THẬT

Giảng tại Long An

Ng�y 19-7-2000 - Canh Th�n

 

Buổi giảng h�m nay, ch�ng t�i n�i về đề t�i Đạo Phật l� đạo như thật. Qu� vị nghe hiểu v� ứng dụng tu h�nh, để mỗi ng�y mỗi tiến hơn tr�n đường gi�c ngộ giải tho�t.

Đức Thế T�n sau khi gi�c ngộ th�nh Phật, Ng�i v� thương tất cả ch�ng sanh, n�n những g� thấy biết, Ng�i muốn đem chỉ dạy lại hết cho tất cả mọi người đều thấy, biết v� được giải tho�t sinh tử như Ng�i. V� vậy gi�o l� Phật n�i l� gi�o l� chuy�n dạy tu h�nh để tho�t ly sanh tử.

Sau khi th�nh đạo, đức Phật nh�n lại kiếp sống của con người thật l� đau khổ. Nỗi đau khổ đ� kh�ng chỉ đ�i cơm, r�ch �o m� l� nỗi khổ trầm lu�n sinh tử mu�n đời mu�n kiếp, kh�ng ra khỏi được. Trong kinh A H�m, đức Phật dạy rất r�: "Nước mắt ch�ng sanh nhiều hơn nước bể cả"�. Hoặc c� khi Phật n�i: "Ở trong địa ngục bị thi�u đốt chưa phải l� khổ, l�m tr�u ngựa k�o c�y bị đ�n bị đ�nh chưa phải l� khổ, l�m ngạ quỷ đ�i kh�t lang thang chưa phải l� khổ. Chỉ người si m� kh�ng biết lối đi mới thật l� khổ". Nghe những c�u n�y, nhiều người đ�nh gi� đạo Phật l� đạo bi quan.

Ch�ng ta thử nghiệm lại � nghĩa Phật n�i qua hai c�u tr�n như thế n�o? "Nước mắt ch�ng sanh nhiều hơn nước bể cả", Phật n�i như vậy c� qu� đ�ng kh�ng? Bởi tất cả ch�ng ta mang th�n thể n�y, h�nh v�c n�y, ch�ng ta tự h�o m�nh đẹp, khỏe mạnh, vui tươi v. v� Ngỡ m�nh l� như vậy. Nhưng với con mắt gi�c ngộ của Phật th� thấy th�n ch�ng ta hiện mang đ�y l� th�n tạm bợ, giả dối m� ch�ng ta lầm tưởng thật v� qu�. Tại sao vậy?

Như t�i thường n�i, th�n của ch�ng ta hiện giờ l� do tứ đại, đất nước gi� lửa kết hợp m� th�nh. Chất cứng trong người l� đất, chất ướt trong người l� nước, chất động trong người l� gi�, chất ấm trong người l� lửa. Thiếu một trong bốn thứ đ� th� ch�ng ta chết ngay. Như vậy sống l� do tứ đại b�n trong kết hợp với tứ đại b�n ngo�i phụ trợ hằng giờ hằng ph�t.

Như hiện giờ qu� vị cứ ngỡ m�nh đang ngồi thảnh thơi, kh�ng l�m g� hết. Nhưng thật ra qu� vị đang l�m việc đ� chứ. Lỗ mũi h�t v� thở ra, h�t v� thở ra, c� khi n�o kh�ng thở đ�u. Nếu thở ra m� kh�ng h�t v� th� chết mất. Vậy ch�ng ta ngồi tưởng l� thảnh thơi, tưởng l� vui sướng, nhưng thực sự vừa ngồi vừa mượn kh�ng kh� đem v� trả ra, đem v� trả ra. Cứ mượn trả đều đều như vậy. Một l�t ch�ng ta phải uống t�ch nước. Uống v� chừng v�i ba tiếng lại phải trả ra. Ch�ng ta d�ng cơm, d�ng c�c thức ăn c� chất bột l� mượn đất. Đem v� rồi cũng phải trả ra. Đ� l� m�y tốt, chớ nếu m�y xấu, đem v� m� kh�ng trả ra được cũng khổ. Cho n�n ch�ng ta đang l�m việc li�n tục m� kh�ng biết.

Sự sống của ch�ng ta l� sự sống vay mượn. Sự sinh tử của ch�ng ta cũng đều l� sự sinh tử vay mượn. Mượn đất, mượn nước, mượn gi�, mượn lửa để nu�i dưỡng th�n n�y. C�n mượn c�n trả l� c�n sống. Nếu trả ra m� kh�ng mượn lại l� chết. Như vậy do vay mượn tứ đại để c� sự sống, th� c�i g� l� thậ�t m�nh. Kh�ng thậ�t m� tưởng l� thậ�t, đ� l� ảo tưởng.

Phật n�i th�n ngũ uẩn do duy�n hợp hư giả n�n kh�ng c� ng�. Đ� l� thuyết v� ng�. Nhiều người kh�ng hiểu nghe n�i th�n n�y v� ng�, liền nghĩ v� ng� l� kh�ng c� ta. Nếu kh�ng c� ta th� c�i g� biết đau khi m�nh bị va chạm. Cho n�n v� ng� l� kh�ng c� một chủ thể cố định. Những g� do duy�n hợp th� kh�ng c� chủ thể, kh�ng cố định. V� như c�i đồng hồ, nếu chịu kh� mở ra th� thấy chỉ l� một nh�m c�c thứ r�p lại, tạm gọi l� đồng hồ. Đồng hồ chỉ l� giả hợp chứ kh�ng c� chủ thể. Nếu c� chủ thể th� n� phải nguy�n vẹn, kh�ng đợi duy�n hợp.

Th�n ch�ng ta cũng vậy, duy�n hợp tạm c� khi duy�n tan th� th�n n�y cũng r� ra. Như vậy n�i thật được kh�ng, c�i g� l� chủ thể? Chữ ng� tức l� thừa nhận c� một chủ thể nguy�n vẹn. Kh�ng c� chủ thể nguy�n vẹn th� gọi l� v� ng�. N�n biết v� ng� l� kh�ng c� chủ thể, chứ kh�ng phải kh�ng c� giả tướng duy�n hợp.

Trong kinh Niết B�n đức Phật d�ng v� dụ tứ x� đồng nhiếp, tức l� bốn con rắn ở chung trong một c�i giỏ. C� người chủ đem bốn con rắn độc nhốt chung ở trong một c�i giỏ. �ng cứ đem thức ăn đến nu�i n�. Đứa n�o chống cự th� �ng t�m c�ch can khuy�n, giải h�a cho n� kh�ng c�n chống cự nhau. Thế nhưng bốn con rắn đ� cứ chống cự nhau ho�i, kh�ng l�c n�o chịu y�n, n�n người chủ nu�i rắn rất cực. Phải săn s�c cho n� ăn uống, rồi phải điều h�a cho n� kh�ng c� chống cự nhau. Nhưng một ng�y n�o c�i giỏ lủng, bốn con rắn mạnh đứa n�o đứa nấy chạy đi.

Phật th� dụ th�n tứ đại của ch�ng ta: đất, nước, gi�, lửa hợp th�nh như c�i giỏ chứa bốn con rắn. Bốn chất n�y h�a nhau hay lu�n lu�n chống đối m�u thuẫn nhau. Lửa với nước, gi� với đất lu�n nghịch nhau. Nước nhiều th� lửa tắt, lửa nhiều th� nước kh� Cho n�n trong người n�ng qu� th� phải kiếm đồ m�t uống v� mới y�n. C�n trong người nước nhiều qu�, th� phải ăn đồ ấm cho h�a lại. Mỗi khi tr�ng gi� r�m đau cả người, phải cạo gi� cho n� gi�n nhẹ lại. Như vậy trong cuộc sống hiện giờ, ch�ng ta l� một anh thợ nu�i rắn với hai c�ng việc, cho ăn v� điều h�a n�.

Một người lo điều h�a bốn con rắn nghịch nhau th� sung sướng hay cực khổ? Thế m� giỏ lủng, mấy con rắn chạy đi th� tiếc, lại kiếm bốn con rắn kh�c nu�i nữa. Cứ như thế, đời n�y đời nọ li�n tục, cộng lại khổ chừng bao nhi�u. N�n cuộc sống của ch�ng ta thật giống như con d� tr�ng xe c�t biển đ�ng. Nu�i th�n n�y, lo cho th�n n�y đủ thứ, như vậy đ� cực rồi nhưng tới chừng hết duy�n, th�n r� rồi lại thương tiếc, muốn t�m th�n kh�c.

Cứ mỗi lần được th�n, lo cho th�n ta khổ. Mỗi lần mất th�n ta cũng khổ. Mỗi lần khổ như vậy th� ch�ng ta rơi nước mắt. Nước mắt rơi một đời, hai đời cho tới v� số đời cộng lại th� bằng nước bể cả. Cho n�n Phật n�i nước mắt ch�ng sanh nhiều như bể cả. Ch�ng ta cứ ngỡ Phật n�i qu� đ�ng, l�m sao một đời người m� nước mắt như bể cả được. Chẳng qua đức Phật muốn chỉ nỗi khổ trầm lu�n mu�n kiếp của ch�ng sanh kh�ng biết đ�u l� c�ng tận.

Cho n�n mục đ�ch của ch�ng ta l� giải tho�t sanh tử, để giải khổ trầm lu�n chứ kh�ng phải tu để giải quyết việc ăn mặc. Như vậy giải tho�t khỏi nghiệp kh�ng phải l� chuyện tưởng tượng m� l� sự thực. Muốn cứu khổ ch�ng sanh đức Phật dạy ch�ng ta phương ph�p tu, để kh�ng c�n cố chấp th�n năm uẩn n�y l� ta. C� thế khi th�n n�y r� rời mới kh�ng tiếc giữ, kh�ng c�n tiếp tục sinh th�n kh�c nữa. Đ� l� giải tho�t sinh tử.

Muốn được vậy ch�ng ta phải biết lối đi, phải biết ph�p tu chứ kh�ng chỉ tưởng tượng. Cho n�n đức Phật n�i: "Ở trong địa ngục bị thi�u đốt chưa phải l� khổ, l�m tr�u ngựa k�o c�y bị đ�n bị đ�nh chưa phải l� khổ, l�m ngạ quỷ đ�i kh�t lang thang chưa phải l� khổ. Chỉ người si m� kh�ng biết lối đi mới thật l� khổ". Gốc của khổ l� si m�. Do si m� n�n chấp th�n thật, v� vậy th�n n�y mất liền chụp th�n kh�c. Cứ thế đời đời đi trong sanh tử kh�ng c�ng.

Ch�ng ta tu Phật, ai ai cũng đều mong được giải tho�t sanh tử. Nhưng muốn giải tho�t trước phải gi�c ngộ. Gi�c ngộ l� thấy, biết đ�ng như thật về con người v� mọi sự vật chung quanh. Như biết c�c ph�p v� ng�, do duy�n hợp kh�ng c� chủ thể. Th�n n�y cũng vậy, kh�ng thật. Nếu thấy biết đ�ng như vậy th� kh�ng đắm luyến, chạy theo ngoại cảnh v� chấp giữ th�n. Ngược lại, nếu kh�ng thấy đ�ng như thật, ch�ng ta cứ tạo nghiệp sanh tử kh�ng c� ng�y c�ng. V� vậy Phật thương x�t, muốn cho ch�ng ta thức tỉnh, thấy đ�ng như thật, để kh�ng bị nhiễm nhơ, kh�ng bị khổ trong lu�n hồi sanh tử nữa. Đ� l� giải tho�t sanh tử.

Muốn thấy đ�ng như thật ch�ng ta phải c� tr� tuệ. Mỗi tối qu� vị tụng T�m kinh B�t-nh�, trong đ� c�u "Qu�n Tự Tại Bồ-t�t, h�nh th�m B�t-nh� ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai kh�ng, độ nhất thiết khổ �ch". Nghĩa l� Bồ-t�t Qu�n Tự Tại khi thực h�nh s�u tr� tuệ B�t-nh� rồi, Ng�i xem thấy năm uẩn l� kh�ng, cho n�n vượt qua hết khổ nạn. B�y giờ qu� vị đọc thuộc l�ng, nhưng đ� hết khổ nạn chưa? Chẳng lẽ Phật n�i kh�ng thật, tại sao ch�ng ta lại kh�ng hết khổ?

Đ� l� điều t�i muốn chỉ cho qu� vị thấy. Phật dạy l� ch�n l�, l� lẽ thật nhưng v� ch�ng ta hiểu, l�m chưa đ�ng n�n kh�ng hết khổ. Khi xưa t�i đọc b�i giảng về B�t-nh� của ng�i Th�i Hư, t�i thấy Ng�i d�ng th� dụ thật hay. B�t-nh� c� chia l�m ba phần: Văn tự B�t-nh�, Qu�n chiếu B�t-nh�, Thật tướng B�t-nh�. Văn tự l� bước đầu, Qu�n chiếu l� bước thứ hai, Thật tướng l� bước thứ ba tức chỗ cứu k�nh. Như vậy học B�t-nh� phải biết từng thứ bậc. Nhưng ch�ng ta thường chỉ h�i l�ng ở chỗ Văn tự th�i. Đọc thuộc đủ rồi, bỏ hai giai đoạn sau.

Trong kinh B�t-nh� n�i phải chiếu kiến năm uẩn đều kh�ng mới qua hết khổ nạn. Ch�ng ta chỉ c� văn tự, kh�ng qu�n chiếu th� l�m sao hết khổ nạn. Như vậy lỗi tại ai? Lỗi tại ch�ng ta chưa l�m đến nơi đến chốn, chưa nhận đủ � nghĩa Phật dạy. N�n ng�i Th�i Hư d�ng th� dụ, như c� người muốn qua s�ng gấp, khi xuống thuyền sẵn ch�o sẵn dầm, m� kh�ng chịu bơi, kh�ng chịu ch�o. Cứ ngồi đợi m�i th� qua s�ng được kh�ng? Chiếc thuyền dụ cho Văn tự B�t-nh�, ch�o dầm l� dụ cho Qu�n chiếu B�t-nh�, tới bờ kia l� dụ cho Thật tướng B�t-nh�.

Ch�ng ta chỉ tụng thuộc l�ng bao nhi�u đ� cho l� đủ rồi. Năm n�y tới năm kh�c, tu ho�i m� vẫn kh�ng hết khổ nạn. Bởi v� c� ch�o thuyền đ�u m� đến được bờ kia. B�y giờ nếu chịu kh� chiếu kiến, tức l� soi kỹ năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, h�nh, thức. Xem thấy những thứ đ� duy�n hợp, hư dối kh�ng c� chủ thể, n�n tuy n� hiện c� nhưng chỉ l� th�n tạm bợ giả dối. Thấy th�n tạm bợ giả dối th� c� ai chửi m�nh kh�ng giận, ai khinh m�nh kh�ng buồn. Bởi th�n c�n kh�ng thật th� lời chửi lời khinh kia c� nghĩa g� đ�u.

Ch�ng ta tu m� kh�ng qu�n chiếu, cứ h�i l�ng trong việc tụng đọc h�ng th�ng h�ng năm. Rồi n�i t�i tu mấy chục năm m� m� m�, mịt mịt kh�ng giải tho�t t� n�o cả. Tại ch�ng ta tu kh�ng đ�ng với lời Phật dạy, l�m sao giải tho�t được. Phật bảo chỉ cần soi thấy năm uẩn đều kh�ng, th� hết đau khổ. Đ� l� thấy bằng tr� tuệ, tr� tuệ biết r� c�c ph�p duy�n hợp kh�ng c� thực thể. Do kh�ng c� thực thể, duy�n hợp tạm c�, chứ kh�ng phải l� kh�ng.

V� như b�n hồ nước trong v�o đ�m rằm. Đứng tr�n bờ ta nh�n thấy b�ng mặt trăng dưới đ�y hồ. C� người hỏi mặt trăng dưới đ�y hồ l� thật c� hay thật kh�ng, ch�ng ta trả lời l�m sao? Nếu n�i thật c�, tại sao đưa tay vớt kh�ng được. Nếu n�i thật kh�ng, tại sao mắt thấy mặt trăng r� r�ng dưới đ�y hồ. V� vậy ch�ng ta kh�ng khẳng định thật c� hay thật kh�ng. Đ� chỉ l� b�ng mặt trăng hư giả, tạm c�, kh�ng thật. Mặt trăng thật ở tr�n. Thấy như vậy l� thấy đ�ng lẽ thật. Cho n�n t�nh Kh�ng của B�t-nh� kh�ng phải l� kh�ng ngơ. Đ� l� t�nh duy�n khởi của c�c ph�p.

Khi qu�n chiếu thấy th�n tạm bợ giả dối, kh�ng thật th� qua hết c�c khổ. Chứ kh�ng phải tụng kinh m� hết khổ được. Tụng kinh l� d�ng văn tự để qu�n chiếu. Qu�n chiếu thấu đ�o rồi ch�ng ta mới hết khổ. Như vậy người muốn qua s�ng th� phải ch�o thuyền. Chừng n�o tới bờ rồi, tức l� đ� đạt được mục đ�ch, mới gọi l� đến được chỗ Thật tướng.

Ch�ng sanh lu�n vui trong c�i giả tạm, m� kh�ng ngờ nỗi khổ đ� ngấm ngầm ở b�n trong. D� cho của c� chất bằng n�i, nhưng khi bệnh chết ch�ng ta c� đổi được kh�ng? Đ� l� một lẽ thật. Phật chỉ cho ch�ng ta muốn thấy lẽ thật ấy phải d�ng con mắt tr� tuệ. B�t-nh� ch�nh l� tr� tuệ.

Mỗi đ�m ch�ng ta tụng B�t-nh� m� kh�ng c� tr� tuệ g� hết v� đ� chỉ l� Văn tự B�t-nh� th�i. Cần phải tiến sang bước thứ hai l� Qu�n chiếu B�t-nh�. C� qu�n chiếu mới đi đến Thật tướng B�t-nh�. Cho n�n người đ� h�nh th�m B�t-nh� rồi th� khi chết, c�c Ng�i xem như tr� chơi, vui vẻ cười ra đi. C�n ch�ng ta gần chết th� khổ sở, r�n la đủ hết. Đ� l� do thấy th�n thật n�n sắp mất sợ h�i, khổ đau v� tiếc th�n. Đ�y ch�nh l� l� do để c� th�n đời sau. Như vậy để thấy si m� của con người thật đ�ng thương!

Lời Phật dạy kh�ng phải l� lời n�i su�ng m� l� lời n�i như thật. Chỉ v� ch�ng ta hiểu sai, l�m sai n�n tu kh�ng c� kết quả, chứ lời Phật dạy kh�ng bao giờ sai. Người thấy đ�ng như thật l� người tr� tuệ. Người thấy sai lầm l� người si m�. Tr�n đường tu, ch�ng ta phải mở s�ng con mắt tr� tuệ th� mới hết đau khổ. Đ� l� điều tất yếu.

Trong nh� Phật thường n�i l� nh�n quả. Như gieo nh�n n�o th� được quả nấy. Song thật ra nh�n quả cũng kh�ng thật c� cố định. Đứng về mặt thời gian th� c� qu� khứ, hiện tại, vị lai. Đứng về mặt kh�ng gian, tức l� nh�n duy�n th� c� c�c duy�n tụ hợp lớn, nhỏ� Đức Phật n�i tất cả sự việc xảy ra đều đi từ nh�n đến quả, chứ kh�ng c� c�i ngẫu nhi�n. Nh�n quả c� nhiều mặt, từ cạn đến s�u.

Th� dụ anh n�ng phu lựa giống tốt, anh cứ ngỡ gieo giống tốt sẽ gặt được quả tốt. Nhưng đến m�a, anh gặt kết quả rất �t oi. Như vậy nh�n quả kh�ng giống nhau. Đ� l� v� anh kh�ng hiểu nh�n quả c� nhiều mặt, thuận nh�n, nghịch nh�n, ch�nh nh�n, trợ nh�n. Hạt giống tốt l� ch�nh nh�n; khi gieo xuống đất, ch�ng ta c�n phải săn s�c đ�ng ho�ng, cộng th�m c� ph�n b�n, c� nước, nhổ cỏ, bắt s�u rầy� Những trợ nh�n đ� đầy đủ th� thu hoạch mới đ�ng như m�nh mong muốn. C� ch�nh nh�n m� thiếu trợ nh�n th� kh�ng được kết quả tốt ho�n to�n. Rồi c�n thuận nh�n nghịch nh�n. Thuận nh�n l� mưa thuận gi� h�a. Ngược lại, c�y l�a gieo xuống m� bị s�u bị rầy đục ph� l� nghịch nh�n. Nếu gặp nghịch nh�n m� m�nh kh�ng trừ được th� kết quả cũng kh�ng c� g�.

Như vậy gieo nh�n rồi, c�n phải c� ch�nh trợ thuận nghịch nữa, chứ kh�ng phải gieo nh�n l� được quả liền. Người ta hay n�i gieo nh�n n�o th� gặt quả nấy. Tuy nhi�n, nếu gieo nh�n m� kh�ng đủ c�c duy�n phụ trợ th� kh�ng được kết quả như � đ�u. C� trợ m� bị nghịch duy�n th� cũng kh�ng c� kết quả như �. N�n biết nh�n quả rất đa dạng, chứ kh�ng phải chỉ c� một chiều.

Nếu một người l�m ruộng cứ nghĩ rằng m�nh l�m ăn được m�a l� nhờ trời Phật gia hộ, chứ m�nh kh�ng c� t�i c�n g�. Nếu nghĩ thế th� kh�ng nhổ cỏ, kh�ng v� nước, kh�ng b�n ph�n v. v� thử xem trời Phật c� cho tr�ng kh�ng? N�n phần nhiều người ta hiểu nh�n quả thật n�ng nổi.

Tr�n thế gian n�y c� sự vật n�o tự n� th�nh h�nh m� kh�ng cần nh�n quả kh�ng? Cuộc sống của ch�ng ta cũng vậy. Kh�ng phải bỗng dưng c� chuyện khổ hoặc bỗng dưng c� chuyện vui đến với ch�ng ta. C�i khổ c�i vui đến với ch�ng ta đều từ nh�n th�nh quả. Như ch�ng ta thấy một người gặp cơn hoạn nạn kh� khổ, ch�ng ta thương muốn gi�p đỡ họ. Người được gi�p đỡ qua cơn hoạn nạn rồi th� họ qu� mến ch�ng ta. Sự qu� mến biết ơn đ� l� quả tốt. Vậy quả tốt đ� từ đ�u ra, từ m�nh biết gieo nh�n tốt, gi�p đỡ người gặp hoạn nạn.

Nếu m�nh xử sự xấu tệ với mọi người, th� c� ai thương qu� m�nh kh�ng? Hẳn l� kh�ng. N�n nh�n xấu kh�ng thể đem lại quả tốt. Nhưng c� nhiều người đến hỏi t�i: "Thưa thầy con l� Phật tử, con rất tin nh�n quả. Từ khi bắt đầu lớn kh�n con biết sợ quả �c n�n kh�ng d�m tạo nh�n dữ, lu�n tạo nh�n l�nh. Nhưng sao tới b�y giờ, con đ� gi� m� thấy phần nhiều quả xấu, kh�ng thấy quả l�nh. Như vậy nh�n quả c� đ�ng kh�ng? "

T�i đ�p: "Đạo hữu n�i như vậy l� chưa hiểu nh�n quả. Nếu hiểu nh�n quả th� phải hiểu nh�n quả c� trong ba thời qu� khứ, hiện tại, vị lai. V� như c� một chủ phố vừa b�n căn nh� trong d�y phố. Người mua căn nh� ấy mở tiệm l�m ăn ng�y c�ng ph�t đạt. Đến cuối năm, h�ng x�m lại hỏi: "Năm nay anh l�m ăn dư giả nhiều kh�ng? " Người chủ tiệm n�i: "T�i l�m suốt năm nay m� c�n thiếu nợ một �t". Tại sao l�m ăn phấn ph�t m� lại n�i thiếu nợ? Bởi v� hồi mua căn phố n�y, người ấy đ� vay nợ. Cho n�n b�y giờ l�m c� tiền nhưng trả chưa hết th� vẫn c�n thiếu nợ". Nh�n v� dụ n�y, người Phật tử ấy hiểu ra.

Ch�ng ta kh�ng thể định đoạt nh�n quả trong một đời m� phải li�n hệ tới qu� khứ, vị lai. Ng�y nay ch�ng ta l�m l�nh m� vẫn gặp tai nạn, gặp kh� khăn th� biết nợ đời trước m�nh trả chưa hết. Do đ� kh�ng n�n tr�ch trời tr�ch đất, m� phải can đảm nhận lấy tr�ch nhiệm cũ của m�nh. Quả đến th� chịu, trả hết đừng vay th�m. Hiện tại m�nh cứ gieo nh�n tốt, kh�ng bận l�ng v� những quả xấu. Trả hết quả xấu rồi th� quả tốt n� sẽ đến th�i. Cũng như anh vay tiền mua nh�, l�m cả năm m� trả chưa hết nợ, nhưng cứ hoan hỉ trả. Năm nay trả chưa rồi th� năm tới trả, trả m�i cũng sẽ hết.

Nh�n quả li�n hệ tới ba đời, n�n c� những oan tr�i ch�ng ta kh�ng g�y trong đời n�y m� n� vẫn đến với ch�ng ta. Ch�ng ta phải hiểu v� can đảm nhận tr�ch nhiệm của m�nh. Như vậy l� ch�ng ta tin s�u l� nh�n quả, sống được với l� nh�n quả. Đ� l� điều hết sức r� r�ng.

Ng�y nay ch�ng ta l�m những điều hay, điều tốt m� kh�ng hưởng được g� cũng đừng sợ. N� sẽ kh�ng mất đ�u. Khi trả hết nợ cũ, quả tốt sẽ đến với m�nh. V� nh�n quả đời n�y chưa hưởng th� đời sau sẽ hưởng. Ba thời lu�n li�n hệ chặt chẽ với nhau. Hiểu như vậy, ch�ng ta trở th�nh con người can đảm, gan dạ. M�nh g�y nh�n th� chịu quả, chứ kh�ng trốn tr�nh sợ sệt. Những g� đến với m�nh, m�nh sẵn s�ng chấp nhận, kh�ng giận kh�ng hờn ai hết. Đ� l� tu, l� chuyển nghiệp.

Ch�ng ta c� bệnh, tin nh�n quả th� tin nhưng gi�p đỡ ai một thời gian, người đ� l�m tr�i � m�nh th� m�nh giận, th�, đủ thứ hết. M�nh cho người đ� l� kẻ xấu xa, tội lỗi. Kh�ng ngờ đ� l� nợ cũ m�nh phải trả. Nếu hiểu được l� nh�n quả th� ch�ng ta sẽ c� c�ch xử sự tốt trong cuộc sống. Bằng ngược lại, ch�ng ta tự chuốc lấy đau khổ.

Kh�ng hiểu l� nh�n quả th� cũng kh�ng hiểu được thuyết lu�n hồi. Người ta cứ cho rằng lu�n hồi l� sự tưởng tượng, kh�ng phải lẽ thật. L�m sao biết đời n�y m�nh l�m l�nh, l�m dữ th� đời sau trở lại l�nh thọ quả b�o ấy. Nhưng thuyết lu�n hồi trong đạo Phật n�i l� một lẽ thật. Lu�n l� b�nh xe, hồi l� xoay tr�n. Lu�n hồi l� b�nh xe xoay tr�n.

Trong con người, m�u từ tim chạy ra khắp ch�u th�n rồi trở lại tim. Tim lại đưa m�u ra khắp ch�u th�n� Cứ như vậy m� tuần ho�n, đ� c� phải l� lu�n hồi kh�ng? Quả địa cầu ch�ng ta sống đ�y, n� đứng y�n hay cứ xoay? Chẳng những n� xoay quanh mặt trời, m� n� c�n tự xoay quanh n� nữa. Như vậy thuyết lu�n hồi kh�ng phải l� sự tưởng tượng m� n� l� một lẽ thật. Từ con người cho tới quả địa cầu đều lu�n hồi. Đ� l� lu�n hồi vật chất.

Đến lu�n hồi về tinh thần. Ch�ng ta chết đi c� phải l� mất kh�ng? Người ta n�i sau khi chết m�nh c�n linh hồn. N�i linh hồn l� chưa hiểu đạo Phật. Tại sao? Bởi người ta cho rằng linh hồn anh A th� từ thủy ch� chung n� vẫn như vậy th�i, kh�ng bao giờ thay đổi. A l� A, n� như vậy. Đời n�y chết, đời sau trở lại cũng l� A lu�n. Nghĩa l� từ đời n�y qua đời kia linh hồn lu�n nguy�n vẹn. Nếu nguy�n vẹn như vậy th� người m�i l� người, ch� m�i l� ch�, kh�ng thể n�o đổi kh�c được. Đ� kh�ng đổi kh�c th� cần g� phải tu, cần g� l�m l�nh tr�nh �c. Cho n�n hiểu như vậy thật l� một nguy hại lớn. V� vậy trong nh� Phật kh�ng d�ng từ linh hồn, m� d�ng từ nghiệp thức.

Nghiệp thức l� những ph�n biệt, hiểu biết do nghiệp vận chuyển. V� dụ một đứa b� khi ở với cha mẹ hiền l�nh th� n� l� đứa b� tốt. Chẳng may cha mẹ mất sớm, n� phải ở với những người kh�c hung dữ t�n bạo, th� lần lần n� cũng bắt chước hung dữ t�n bạo. Như vậy sự hiểu biết của n� khi c�n ở chung với cha mẹ kh�c với sự hiểu biết khi ở với người hung dữ. N� lu�n lu�n thay đổi như vậy n�n đ�u c�n nguy�n vẹn nữa.

Bản th�n của ch�ng ta cũng vậy, sự hiểu biết của m�nh l�c c�n b� kh�c với sự hiểu biết khi lớn l�n cho đến l�c gi�. N� lu�n lu�n đổi thay t�y theo duy�n t�y theo cảnh. Như ch�ng ta chưa đi tu th� ch�ng ta theo quan niệm người đời tranh hơn, tranh thua đủ thứ. Nhưng khi đi tu rồi ch�ng ta biết l�m sao cho c� đạo đức, l�m sao cho mọi người được vui� V� vậy m� kh�ng tranh hơn thua nữa. Cho n�n sự hiểu biết đ� l� do nghiệp hu�n tập của ch�nh m�nh. Hu�n tập nghiệp tốt th� hiểu biết chuyển theo hướng tốt. Hu�n tập nghiệp xấu th� hiểu biết chuyển theo hướng xấu. Kh�ng c� c�i nguy�n vẹn như thuyết linh hồn.

Phật bảo trong thế gian c� chia ra l�m lục đạo lu�n hồi: địa ngục, ngạ quỷ, s�c sanh; đ� l� ba đường dữ. Trời, người, A-tu-la; đ� l� ba đường l�nh. Đường l�nh đường dữ l� do ch�ng ta hu�n tập nghiệp m� ra. Nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh cho n�n gọi n� l� nghiệp thức uẩn. Thọ sanh đời n�y đời kia, c� khi l�n, c� khi xuống đủ thứ hết. Nh� Phật gọi đ� l� nghiệp thức chứ kh�ng phải linh hồn. V� thức l� c�i đổi thay do sự hu�n tập của m�nh tốt hay xấu.

Ch�ng ta tu l� tạo nghiệp tốt n�n thần thức sẽ dẫn ch�ng ta thọ sanh chỗ tốt. Như vậy muốn tr�nh khổ ở ng�y mai th� ngay đời n�y ch�ng ta phải tạo nghiệp l�nh, tr�nh nghiệp dữ. N�i như vậy qu� vị sẽ c� thắc mắc. Như người tu Tịnh độ niệm Phật cho tới nhất t�m bất loạn. Hoặc tu thiền đến chỗ định t�m, kh�ng c�n khởi nghĩ tốt xấu, thiện �c, như vậy khi l�m chung đi đ�u? C�n nghĩ l� c�n theo nghiệp. Hết nghĩ th� hết nghiệp. Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c; đ� l� chỗ Lục Tổ được t�m ấn nơi Ngũ Tổ rồi. T�i xin nhắc lại t�ch truyện n�y một ch�t.

Khi được y b�t ở Ngũ Tổ rồi, Lục Tổ đi về phương nam. Dọc đường c� một đo�n người đuổi theo, trong đ� người đi đầu l� Thượng tọa Minh ở ch�a Huỳnh Mai. Hồi xưa �ng l� một tướng cưỡi ngựa giỏi n�n đuổi theo kịp. Tổ thấy rồi, Ng�i để y b�t ở tr�n b�n đ�, chun v�o bụi cỏ ẩn. Thượng tọa Minh đến nơi, thấy y b�t mừng qu� vội �m l�n nhưng �m kh�ng nổi. L�c đ� �ng biết đ�y l� vật cao si�u, kh�ng phải lấy t�m tầm thường m� gi�nh được, n�n �ng vội quỳ xuống thưa: "H�nh giả, h�nh giả! T�i đến đ�y v� ph�p, chứ kh�ng phải v� y b�t". Lục Tổ ẩn trong bụi liền đi ra n�i: "Nếu như v� ph�p th� ngươi h�y đứng y�n lặng một ch�t, ta sẽ n�i cho". Thượng tọa Minh đứng y�n lặng gi�y l�u, Lục tổ bảo: "Kh�ng nghĩ thiện, kh�ng nghĩ �c; c�i g� l� bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Nghe c�u n�y, Thượng tọa Minh liền ngộ đạo.

Thiện �c đ� dứt th� hai đường l�nh dữ cũng dứt. Bấy giờ ch�n t�m Phật t�nh hiện b�y, như vậy l� giải tho�t sanh tử rồi, c�n thọ sanh ở đ�u nữa. Cho n�n người mới tu, Phật dạy bỏ nghiệp �c, l�m nghiệp l�nh để sau khi chết, được sanh c�i l�nh tu tiếp. Nhưng đối với người đ� c� chủng tử tu thuần thục rồi, Phật dạy phải bu�ng cả hai b�n, t�m thanh tịnh trong lặng. T�m thanh tịnh trong lặng rồi th� dứt sạch c�c nghiệp. Đ� hết nghiệp th� đ�u c�n bị nghiệp dẫn đi trong lu�n hồi sanh tử nữa, m� hỏi đi đ�u. Chừng đ� t�y duy�n, mặc t�nh theo nguyện m� thọ sanh hoặc kh�ng thọ sanh.

Cho n�n người tu thiền th� phải định, người niệm Phật th� phải nhất t�m, người tr� ch� th� phải được tam mật: th�n khẩu � đều mật. V� mật mới đi tới chỗ t�m thanh tịnh. T�m thanh tịnh th� kh�ng c�n nghiệp nữa, kh�ng c�n nghiệp l� giải tho�t sanh tử. Song c� nhiều người lại luyến tiếc. Nếu được sanh trong nh� gi�u, đẹp đẽ, nhiều tiền của th� sướng qu� sao kh�ng chịu sanh, bỏ đi chi uổng. Hoặc giả được sanh l�n c�i trời, muốn g� được nấy sướng biết mấy, sao kh�ng sanh l�n đ�. Cho n�n ch�ng ta phải hiểu thật tường tận � Phật muốn chỉ dạy cho ch�ng ta.

Trong kinh Phật dạy, nếu chưa thể giải tho�t sanh tử, ch�ng ta n�n nguyện đời sau trở lại l�m người, tiếp tục tu h�nh, đừng cầu sanh l�n c�i trời. Tại sao? Bởi v� l�n c�i trời muốn g� được nấy th� kh�ng bao giờ nghĩ đến việc tu. Lại tuổi thọ ở c�i trời qu� d�i, khi trở lại l�m người đ� mất một thời gian l�u n�n kh�ng tu được g�. Chỉ ở c�i người khổ vui lẫn lộn n�n dễ thức tỉnh, dễ tu. V� vậy ch�ng ta dễ tiến tr�n đường đạo. Ngay trong đời n�y, những người được sanh ra trong gia đ�nh gi�u sang, được nu�ng chiều đủ thứ hết, cũng đ� kh� tu rồi, huống g� sanh c�i trời. Ch�ng ta muốn tu l� phải ở trong cảnh c� khổ c� vui. Nhờ cảnh khổ n�n ta thức tỉnh mau, mới lo tu h�nh. Nhờ cảnh vui, tinh thần ta kh�ng bị bức b�ch �p ngặt n�n c� thể an sống tu h�nh.

Tuy nhi�n, tr�n đường tu ch�ng ta kh�ng chỉ h�i l�ng ở chỗ được sanh c�i l�nh, m� phải đi tới chỗ dứt sạch nghiệp. Chỉ c�n một t�m thanh tịnh th�i, đ� mới l� chỗ cứu k�nh giải tho�t sinh tử. Nếu ch�ng ta c�n kẹt một ch�t ham muốn cũng chưa hết d�ng sanh tử. Như vậy đức Phật dạy kh�c hơn người đời. Người đời cứ ngỡ rằng nơi con người c� hai phần vật chất v� tinh thần. Vật chất l� th�n v� tinh thần l� linh hồn. Linh hồn phải nguy�n vẹn từ đời n�y qua đời kh�c. Với Phật, Ng�i kh�ng chấp nhận linh hồn, bởi v� n� chỉ l� một thần thức theo nghiệp dẫn đi, chuyển biến trong sanh tử.

Nếu ch�ng ta chịu nghiền ngẫm thấu đ�o lời Phật dạy th� mới thấy được lẽ thật. Thấy được lẽ thật l� mở s�ng con mắt tr� tuệ. Nếu ch�ng ta cứ nghe rồi tin, kh�ng nghiền ngẫm qu�n chiếu th� kh�ng c� tr� tuệ. Kh�ng c� tr� tuệ th� ch�ng ta kh� đi tr�n con đường giải tho�t đến nơi đến chốn được. Tr� tuệ đ� kh�ng phải từ đ�u đến với ch�ng ta, m� n� nằm sẵn ngay nơi m�nh.

Trong kinh Phật dạy: "C�c ngươi n�n tự thắp đuốc l�n m� đi. Thắp l�n với ch�nh ph�p". Nếu ch�ng ta chưa c� tr� tuệ thấy đ�ng như thật, th� phải nương theo ch�nh ph�p để ph�t triển tr� tuệ của m�nh. Cũng như c�y đuốc của m�nh chưa ch�y, th� phải mồi với ngọn đuốc đ� ch�y. Ngọn đuốc đ� l� ch�nh ph�p. Tr� tuệ ch�ng ta c�n m� mịt tối tăm, n�n phải nhờ �nh s�ng tr� tuệ của Phật. Mồi với ch�nh ph�p th� ngọn đuốc tr� tuệ của m�nh mới s�ng. C� tr� tuệ thấy đ�ng như thật bản th�n m�nh v� tất cả sự vật b�n ngo�i, ch�ng ta kh�ng c�n lầm, kh�ng c�n m�. M� lầm kh�ng c�n th� khổ đau theo đ� hết. Như vậy tr� tuệ đưa ch�ng ta tới chỗ an l�nh tự tại giải tho�t. Đ� l� chỗ cứu k�nh m� ch�ng ta hằng mong mỏi.

H�ng xuất gia cũng như tại gia đều phải nắm vững yếu chỉ đ� để tu h�nh, th� mới thấy gi� trị của đạo Phật. Nếu ch�ng ta hiểu kh�ng tới, nhận kh�ng r� th� việc tu m� mờ, rồi hướng dẫn cho người kh�c cũng sai lầm, kh�ng hết khổ đau được. Cho n�n c� nhiều người tu c�ng l�u c�ng thấy khổ, chứ kh�ng được lợi �ch g� hết. Người biết d�ng tr� tuệ th� dụng c�ng �t m� kết quả lại nhiều.

V� dụ nếu d�ng con mắt tr� tuệ nh�n c�i đồng hồ th� thấy n� kh�ng c� chủ thể cố định, l� giả tạm. Giả sử n� được mạ v�ng m�nh cũng xem n� l� giả. Do giả n�n kh�ng tham luyến. Ngược lại, nếu cứ chấp đồng hồ l� thật, lại được t� điểm th�m m�u m� nữa th� thấy n� c�ng đẹp. Do thấy đẹp n�n sanh l�ng tham muốn. Tham muốn n�n giữ g�n sợ mất, theo đ� m� bao nhi�u thứ khổ ph�t sinh. Như vậy tất cả tội lỗi ch�ng ta g�y ra gốc từ m� lầm.

Cho n�n người học Phật phải gi�c, phải c� tr� tuệ. Nếu chưa gi�c ngộ được như đức Phật th� �t ra phải c� tr� tuệ thấy đ�ng như thật về những lời Phật dạy. Ch�ng ta thường t�n tụng lời Phật l� lời v�ng lời ngọc. Nếu đ� l� lời v�ng ngọc th� kh�ng thể dối gạt ch�ng sanh. Vậy tại sao Phật n�i tu hết khổ m� ch�ng ta tu ho�i khổ vẫn c�n khổ? Cho n�n nếu kh�ng hiểu tường tận, kh�ng �p dụng đ�ng lời Phật dạy, chẳng những ch�ng ta tự hại m�nh m� c�n l�m mất gi� trị gi�o l� của đức Phật nữa.

H�ng Phật tử tại gia biết tu th� ch�nh m�nh trở th�nh người đức hạnh trong gia đ�nh, một c�ng d�n tốt ngo�i x� hội. Đời n�y, đời sau đều đi theo con đường l�nh. H�ng xuất gia biết r� Phật ph�p, nh�n sự vật v� con người bằng con mắt tr� tuệ, th� cuộc sống của ch�ng ta mỗi ng�y mỗi an l�nh. Sống một ng�y l� vui một ng�y. Khi sắp l�m chung cũng cười v� được xả bỏ th�n giả tạm, tho�t khỏi đ�y da nhơ thối n�y. Vậy tu l� đem lại nguồn an l�nh, hạnh ph�c mi�n viễn cho ch�ng ta v� mọi người.

Người biết tu th� cuộc sống của m�nh l� cuộc sống c� � nghĩa, cuộc sống của người s�ng suốt, người thức tỉnh chứ kh�ng phải của kẻ m� lầm nữa. Sống trong cuộc đời đau khổ, trong gi�nh giựt hơn thua m� ch�ng ta vẫn an l�nh tự tại, đ� l� gi� trị ch�n thật của đạo đức, của người tu. Tất cả ch�ng ta đ� c� ph�c duy�n đời n�y v� đời trước, n�n b�y giờ mới gặp nhau trong hội Phật. Nhưng nếu tu m� kh�ng đi đ�ng ch�nh ph�p th� thật l� đ�ng tiếc.

            Mong rằng qu� vị nghe hiểu rồi kh�o ứng dụng tu để xứng đ�ng l� con Phật, l� trưởng tử của Như Lai, l� người đi trước để nhắc nhở người sau đi đ�ng đường chư Phật đ� dạy. Đ� l� tr�ch nhiệm v� bổn phận của ch�ng ta vậy.

]

 


[mucluc][loidausach][p1][p2][p3][p4][p5][p6][p7][p8][p9][p10]

[Trang chu] [Kinh sach]